Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2026

 SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN II THƯỜNG NIÊN

Lm. Nguyệt Giang

CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN-NĂM A

Bắt đầu tuần lễ cầu cho các Kitô hữu hợp nhất

Is 49, 3.5-6; 1Cr 1, 1-3; Ga 1, 29-34

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,

Sau mầu nhiệm Giáng Sinh và lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa, hôm nay Hội Thánh bước vào Chúa Nhật II Mùa Thường Niên, đồng thời cũng khởi đầu Tuần lễ Cầu nguyện cho Sự Hiệp Nhất Các Kitô Hữu.

Lời Chúa hôm nay hướng chúng ta nhìn lên Đức Giêsu – Chiên Thiên Chúa, Đấng được Chúa Cha sai đến để đem ơn cứu độ cho muôn dân và quy tụ mọi người trong một gia đình duy nhất của Thiên Chúa.

Hiệp thông với toàn thể Hội Thánh, trong Thánh lễ này, chúng ta cùng tha thiết cầu xin cho các Kitô hữu, dù khác biệt truyền thống hay hệ phái, biết vượt qua chia rẽ, thành kiến và ích kỷ, để cùng nhau bước đi trong yêu thương, đối thoại và hiệp nhất, hầu thế gian nhận ra Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất.

Suy niệm 1:

Qua lời giới thiệu ngắn gọn của Gioan Tẩy Gỉa trong bài tin mừng hôm nay, dân chúng biết được Đức Giêsu chính là “Chiên Thiên Chúa và là Con Thiên Chúa.”

1. Người là Chiên Thiên Chúa: Hình ảnh con chiên rất quen thuộc với người Do Thái. Một con vật gần gũi, hiền hòa và lành tính. Người Do Thái tin rằng con chiên có khả năng gánh lấy tội và chết thay cho con người. Trong biến cố vượt qua bên Ai Cập. Môsê đã ra lệnh mỗi gia đình người Do Thái phải giết một con chiên đực dưới một tuổi, không tì vết để làm thức ăn với rau đắng; còn máu chiên thì bôi lên cửa nhà làm dấu, nhờ đó mà Thiên Sứ của Thiên Chúa đi qua trong đêm hôm ấy không ghé vào giết chết con trai đầu lòng của họ. 

Hơn nữa, trong ngày lễ xá tội của người Do Thái, tội nhân thường bắt một con chiên đem lên đền thờ, rồi đặt tay lên chúng ngụ ý trút tội mình lên con chiên. Sau đó vị tư tế đền thờ mới sát tế con chiên ấy để đền tội thay cho tội nhân. 

Nên khi Gioan Tẩy Gỉa giới thiệu Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa thì ông cũng như dân chúng hiểu rằng Đức Giêsu chính là người tôi tớ của TC mà tiên tri Isaia đã tiên báo từ ngàn xưa, nay được ứng nghiệm nơi Đức Giêsu. Vì là Chiên Thiên Chúa, nên Chúa Giêsu phải chấp nhận chịu đau khổ và sẵn sàng chết trên thập giá để đền tội cho nhân thế.

2. Người còn là Con Thiên Chúa: Như Gioan Tẩy Gỉa đã thú nhận, trước khi làm phép rửa cho Đức Giêsu, ông không hề biết Đức Giêsu như thế nào. Nhưng nhờ những dấu chỉ và lời mách bảo của Đấng đã sai Gioan làm phép rửa soi sáng, ông mới nhận ra Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa. Vì là Con Thiên Chúa nên Gioan Tẩy Gỉa xác nhận cho biết phép rửa của Chúa Giêsu mới thật là phép rửa trong Chúa Thánh Thần. Nghĩa là phép rửa của Chúa Giêsu mới có năng lực xóa tội tổ tông và tội riêng, tái tạo chúng ta nên người mới để chúng ta xứng đáng trở thành làm con Thiên Chúa và đón nhận ơn cứu độ của Người.

Tóm lại vì yêu thương nhân loại nên Con Thiên Chúa đã chấp nhận nhập thế nhập thể để cảm thông và chia sẻ kiếp người với chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Ngài sẵn sàng đi vào dòng đời, dòng người và khiêm tốn xếp hàng với tội nhân để nhận lấy phép rửa sám hối của Gioan Tẩy Gỉa. Ngài cũng sẵn sàng đổ hết máu mình ra và chết đau thương trên thập giá tựa như Con Chiên bị sát tế để đền tội thay cho nhân loại chúng ta. 

Để cảm nhận phần nào về hành động yêu thương của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu, Chiên Thiên Chúa, chúng ta hãy lắng nghe câu chuyện sau:

Một gia đình nọ chỉ có một đứa con trai duy nhất, nên cha mẹ hết lòng yêu thương cậu và dành mọi sự tốt đẹp nhất cho cậu. Dù vậy, để giáo dục con trở nên người tốt, ông bố luôn tỏ ra cứng rắn trước những sai lỗi của con, và bà mẹ cũng đồng tình với cách giáo dục đó. Một lần nọ, đứa con trai vì ham chơi đã theo bạn bè trốn học ra bãi biển cùng nhau chơi đá bóng.

Người cha biết chuyện không hay đó nên đã cương quyết xử phạt con trai. Ông bắt nó phải chịu hình phạt là ngủ qua đêm trên căn gác nhà kho chật chội nóng bức. Nhưng đêm hôm đó, ông bố không thể chợp mắt được vì thương con, không biết tình trạng của con hiện giờ ra sao. Nửa đêm, ông lấy mền gối lên trên gác để ngủ chung với con. Điều ngạc nhiên là khi ông leo lên căn gác thì đã thấy bà vợ của ông có mặt ở đó từ bao giờ rồi. Thế là cả ba người cùng nhau ngủ trên căn gác chật chội nóng nực suốt đêm.

Chỉ có đứa con phạm lỗi, nhưng cha mẹ vì yêu thương đã tình nguyện chịu phạt chung với con mình.

Đêm đó là đêm đáng nhớ nhất trong đời của đứa con, vì nó đã nhận ra tình yêu lớn lao của cha mẹ dành cho mình.

Người cha không bỏ đi hình phạt đã ra cho con và người mẹ cũng không xin người cha tha phạt cho con, vì cả hai đều muốn cho con trai ý thức để tu sửa lỗi lầm đã phạm. Nhưng khi con bị phạt thì cha mẹ vì yêu thương lại sẵn sàng chịu hình phạt chung với con.

Xin cho chúng ta cảm nhận được tình thương lớn lao mà Chúa Giêsu đã dành cho chúng ta mà quyết tâm sống sao cho trọn tình vẹn nghĩa với Người.

 

Suy niệm 2:

Lịch sử Việt đã lưu danh bao vị anh hùng tuổi trẻ bởi lòng nhiệt quyết dấn thân cho Tổ quốc và dân tộc. Trong số đó có vua Duy Tân…Một vị vua mới 8 tuổi đã được người ta khoác trên mình em long bào và đội trên đầu em mão vua.

Năm 16 tuổi nhà vua ý thức rõ ràng vận mệnh đất nước, bởi cảm nhận được đời sống lầm than của con dân nước Việt thời bấy giờ. Lịch sử ghi lại mùa hè nọ, một lần vua Duy Tân ra nghỉ mát và tắm biển ở Cửa Tùng, một cửa biển đẹp ở Quảng Trị, khi từ bãi tắm đi lên, hai tay dính đầy cát, viên thị vệ bưng lại một thau nước ngọt mời vua rửa tay. Nhà vua vừa rửa tay vừa hỏi đùa:

- “Tay bẩn lấy thì lấy nước mà rửa, còn 'nước' bẩn lấy gì mà rửa?”

Viên thị vệ lúng túng chưa biết trả lời sao thì vua hỏi tiếp:

- “Nước bẩn thì rửa bằng gì?”

Người thị vệ vẫn không trả lời được. Vua Duy Tân bèn nói:

- “Nước bẩn thì phải lấy máu mà rửa!”

Viên thị vệ đâu có ngờ nhà vua chơi chữ, chuyển từ nước rửa tay sang một thứ nước khác đáng quý trọng hơn là đất nước, là quê hương.

Đúng vậy, khi đất nước bị dơ bẩn vì sự chà đạp của quân thù thì không thể rửa sạch bằng nước lã mà phải rửa bằng máu. Về sau, vua Duy Tân đã đứng lên hô hào toàn dân khởi nghĩa, và đã sẵn sàng lấy máu đào để rửa cho sạch cái nhục vong quốc.

Nếu vua Duy Tân cho rằng “Nước bẩn thì phải lấy máu mà rửa.” Vậy khi linh hồn ta bị tội lỗi làm cho ô uế khiến ta phải chết đời đời thì lấy gì mà rửa?

Có lẽ trên thế gian này không có bất kỳ loại chất tẩy nào tẩy xoá được vết nhơ và hậu quả của tội lỗi cho dẫu đó là máu chiên hay máu con người. Tội lỗi của con người chỉ được rửa sạch bằng máu châu báu của Ngôi Hai Thiên Chúa mà thôi.

Trong thời cựu ước, người có tội cần đến máu bò, máu chiên để làm lễ xoá tội cho mình. Sách Lê-vi chép: "Nếu một người đã phạm tội, làm điều Đức Chúa cấm... thì nó sẽ đưa đến cho tư tế một con bò, dê hoặc chiên làm lễ vật tạ tội. Nó sẽ đặt tay trên đầu con vật đó và sát tế nó … Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho người ấy và y sẽ được tha.” (Lv 4,27-32). Tuy nhiên "Máu các con bò, con dê không thể nào xoá được tội lỗi nhân loại”. Chỉ duy có máu châu báu của Ngôi Hai Thiên Chúa thì có khả năng tẩy rửa sạch tội lỗi của loài người chúng ta.

Nhờ tác động của Thánh Thần, Gioan tẩy giả đã nhận ra vai trò làm Chiên đền tội của Chúa Giê-su nên "khi thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, ông liền giới thiệu cho mọi người biết: "Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian".

Vậy nếu hôm xưa, Chúa Giêsu đã dâng mình trên thập giá và đã đổ máu thánh mình ra để rửa sạch tội lỗi muôn người. Thì ngày nay, Ngài vẫn tiếp tục dâng mình làm lễ tế dâng cho Thiên Chúa Cha trong các Thánh lễ hằng ngày để đền tội cho nhân loại. Cho nên trước khi rước lễ, linh mục chủ sự nâng cao Mình thánh Chúa và giới thiệu với mọi người rằng: "Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian, phúc cho ai được mời đến dự tiệc chiên Thiên Chúa". Thật hạnh phúc thay cho ai được tham dự vào bàn tiệc Thánh Thể và đón nhận chính Chúa Giêsu là nguồn mọi ơn phúc vào tâm hồn mình.

Xin cho chúng ta biết yêu mến và quý trọng thánh lễ, biết dọn mình xứng hợp để kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu nơi bí tích thánh thể. Và cũng xin cho chúng ta biết dâng lên Chúa những khó nhọc đau khổ hàng ngày trong đời sống, với niềm hy vọng được hiệp thông cùng với Chúa nhằm đền tội cho mình và cho bao người chung quanh chúng ta. Amen. (St)

 

Suy niệm 3: “ĐÂY CHIÊN THIÊN CHÚA – ÁNH SÁNG VÀ ƠN CỨU ĐỘ CHO MUÔN DÂN”

Sau những ngày cao điểm của Mùa Giáng Sinh và Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, hôm nay Hội Thánh bước vào Mùa Thường Niên.

“Thường niên” không có nghĩa là tầm thường, nhưng là thời gian để mỗi Kitô hữu sống ơn gọi của mình trong đời sống hằng ngày.

Tin Mừng hôm nay đặt trước chúng ta lời tuyên xưng rất mạnh mẽ của Gioan Tẩy Giả: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian.”

Gioan không giữ dân chúng lại cho mình, nhưng chỉ thẳng về Đức Giêsu. Ngài tự nhận mình chỉ là người làm chứng, còn Đức Giêsu mới là trung tâm của lịch sử cứu độ.

Hình ảnh Chiên Thiên Chúa nhắc chúng ta nhớ đến Con Chiên Vượt Qua, đến Người Tôi Trung chịu đau khổ.

Đức Giêsu không đến để thống trị, nhưng để hiến thân, gánh lấy tội lỗi trần gian. Ngay từ đầu sứ vụ, Thánh Gioan xác nhận con đường của Người đã là con đường thập giá – hiến tế – cứu độ.

- Trong bài đọc I, ngôn sứ Isaia cho thấy sứ mạng của người Tôi Trung: “Ta đặt ngươi làm ánh sáng các dân tộc, để ơn cứu độ của Ta tràn lan khắp địa cầu.”

Ánh sáng không phải để giữ riêng cho mình, nhưng để chiếu soi và dẫn đường. Sứ mạng cứu độ không khép kín nơi một dân tộc, mà mở ra cho muôn dân. Ánh sáng ấy được hoàn tất nơi Đức Giêsu-Ánh Sáng thế gian. Và hôm nay, được trao lại cho Hội Thánh và cho mỗi Kitô hữu.

- Thánh Phaolô trong bài đọc II nhắc chúng ta về căn tính của mình: “Anh em được thánh hoá trong Đức Kitô Giêsu, được kêu gọi nên thánh.”

Nên thánh không phải là đặc quyền của một số người, nhưng là ơn gọi chung của mọi người đã chịu phép rửa: được Thiên Chúa kêu gọi, được thánh hoá nhờ hiệp thông với Đức Kitô, và được sai đi làm chứng giữa trần gian. Hoa trái của đời sống ấy là ân sủng và bình an.

- Gioan Tẩy Giả trong bài Tin Mừng hôm nay, dạy chúng ta cách làm chứng: không chiếm chỗ của Chúa, không tìm vinh quang cho mình, nhưng khiêm tốn giới thiệu Người cho người khác.

Ngày nay, thế giới không thiếu những người nói về Chúa, nhưng rất cần những người giúp người khác gặp Chúa bằng chính đời sống của mình.

Chúa Nhật II Thường Niên mời gọi mỗi chúng ta:

- Chiêm ngắm Đức Giêsu-Chiên Thiên Chúa

- Ý thức lại căn tính được kêu gọi nên thánh

- Can đảm sống và làm chứng cho ánh sáng Tin Mừng

Xin cho mỗi người chúng ta, giữa đời thường, biết nói lời “Đây Chiên Thiên Chúa” không chỉ bằng môi miệng, mà bằng một đời sống yêu thương, khiêm tốn và hiến dâng. Amen.


Suy niệm 4: “ĐÂY CHIÊN THIÊN CHÚA – ĐẤNG XOÁ TỘI TRẦN GIAN”

Có một cậu bé theo bố mẹ đi lễ mỗi Chúa Nhật. Mỗi lần cha chủ tế nâng cao Mình Thánh Chúa và công bố: “Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian”, cậu bé lại quay sang hỏi bố, rất nghiêm túc:

- “Bố ơi, con chiên đó ở đâu mà con không thấy?”

Người bố mỉm cười, trả lời cho qua:

- “Chiên đó đặc biệt lắm, con không thấy được đâu.”

Hôm khác, sau Thánh lễ, cậu bé thủ thỉ với mẹ:

- “Con thấy tội nghiệp con chiên đó ghê! Tuần nào cũng bị đem ra xoá tội cho người ta!”

Câu nói ngây thơ ấy làm người mẹ bật cười, nhưng cũng khiến bà chợt suy nghĩ: có khi mình đi lễ cả đời, mà vẫn hiểu “Chiên Thiên Chúa” một cách mơ hồ như đứa con nhỏ của mình.

Thật vậy, cách hiểu của đứa bé cũng có thể là cách hiểu của không ít người trong chúng ta.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh Gioan Tẩy Giả không giới thiệu Đức Giêsu như một vị vua quyền uy hay một thẩm phán nghiêm khắc, mà bằng một tước hiệu rất lạ: “Chiên Thiên Chúa.”

Đó không chỉ là lời giới thiệu, mà là lời tuyên xưng quan trọng nhất trong cả cuộc đời Gioan.

1. Nhận ra đúng Đấng quan trọng nhất

Vậy “Chiên Thiên Chúa” nghĩa là gì?

Trước hết, hình ảnh con chiên gợi nhớ đến con chiên vượt qua trong Cựu Ước: máu của nó đã cứu dân Israel khỏi cái chết khi ra khỏi Ai Cập. Nay, Đức Giêsu chính là Con Chiên mới, hiến tế chính mạng sống mình để giải thoát nhân loại khỏi ách tội lỗi và sự chết.

Con chiên cũng là hình ảnh của sự hiền lành, âm thầm và dễ bị tổn thương. Qua đó, Gioan Tẩy Giả cho chúng ta hiểu: Thiên Chúa cứu thế giới không bằng bạo lực, không bằng quyền lực trần gian, mà bằng sự khiêm nhường, vâng phục và tình yêu tự hiến.

Đấng xoá tội trần gian không đứng trên ngai vàng, mà treo mình trên thập giá.

Đấng cứu độ nhân loại không thống trị, mà hiến mình như Con Chiên chịu sát tế vì chúng ta.

2. Gioan Tẩy Giả – mẫu gương của người làm chứng

Gioan Tẩy Giả không chỉ nói đúng về Chúa Giêsu, mà còn sống đúng vai trò của người làm chứng. Ông sẵn sàng lùi lại để Đức Giêsu tiến lên: “Tôi đã thấy và tôi làm chứng: Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”

Gioan cũng không giữ môn đệ cho riêng mình, không tìm vinh quang cho bản thân, nhưng chỉ cho người khác đến với Nguồn Sống thật.

Làm chứng không phải là nói nhiều về mình, mà là để cho cả cuộc đời mình trở thành mũi tên chỉ về Chúa.

Điều đáng trân trọng là: Gioan là người có uy tín, có ảnh hưởng lớn, được dân chúng kính trọng. Thế nhưng, khi Đức Giêsu xuất hiện, ông chủ động nhỏ lại, để Chúa lớn lên.

Từ đó, Gioan dạy chúng ta những bài học rất thực tế:

- Làm cha mẹ: đừng chỉ lo cho con thành công, mà quên dẫn con đến với Chúa.

- Làm người phục vụ trong Giáo Hội: đừng tìm tiếng khen, mà tìm thánh ý Chúa.

- Làm Kitô hữu: sống sao để người khác có thể gặp được Chúa qua chính đời sống của mình.

3. Chiên Thiên Chúa vẫn đang xoá tội trần gian hôm nay

Chúa Giêsu xoá tội trần gian không bằng phép màu dễ dãi, mà bằng: Thập giá – Tha thứ – Tình yêu đến cùng.

Và hôm nay, Người vẫn tiếp tục xoá tội:

- Trong Bí tích Hoà Giải, nơi chúng ta được tha thứ và chữa lành.

- Trong Thánh Thể, nơi Con Chiên hiến mình nuôi dưỡng chúng ta mỗi ngày.

- Và trong từng cố gắng hoán cải nhỏ bé của mỗi người chúng ta.

Nhưng Chúa không ép buộc ai. Người vẫn đứng đó, hiền lành như Con Chiên, chờ đợi chúng ta tin yêu và đón nhận Người.

4. “Đây Chiên Thiên Chúa” – lời tuyên xưng của chính chúng ta

Mỗi Thánh lễ, linh mục lặp lại lời của Gioan Tẩy Giả: “Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian.”

Ước gì lúc ấy, chúng ta không chỉ cúi đầu đọc theo cho quen miệng, mà thầm thĩ trong lòng: “Lạy Chúa, con tin Chúa đang ở đây. Con cần Chúa xoá tội, chữa lành và đổi mới đời con.”

Kính thưa cộng đoàn,

Hôm nay, Gioan Tẩy Giả không còn đứng bên bờ sông Giođan. Nhưng Giáo Hội vẫn không ngừng chỉ vào Đức Giêsu và nói với chúng ta: “Đây là Chiên Thiên Chúa.”

Ước gì mỗi Thánh lễ giúp chúng ta:

- Nhận ra Chúa rõ hơn,

- Yêu mến Chúa sâu hơn,

- Và sống sao để chính đời mình cũng trở thành một lời giới thiệu sống động về Chúa cho người khác. Amen.


Suy niệm 5: CHÚA GIÊSU-CHIÊN HIỀN LÀNH YÊU THƯƠNG CHÚNG TA

LỄ THIẾU NHI

1. Gợi chuyện-tạo tương tác

Các con thân mến,

Cha hỏi nhé:

- Ở nhà, ai đã từng thấy con chiên (con cừu) chưa?

- Con chiên thì hiền hay dữ? Có cắn người không?

(Đợi các con trả lời)

Đúng rồi! Con chiên rất hiền lành, không làm hại ai, và luôn nghe theo người chăn chiên.

Hôm nay, trong bài Tin Mừng, thánh Gioan Tẩy Giả chỉ vào Chúa Giêsu và nói một câu rất đặc biệt: “Đây là Chiên Thiên Chúa.”

2. “Chiên Thiên Chúa” là ai?

Khi gọi Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa, không phải là Chúa có… lông trắng đâu nhé.

- Chiên Thiên Chúa có nghĩa là: Chúa Giêsu rất hiền lành. Chúa luôn yêu thương và tha thứ. Chúa hy sinh vì chúng ta

Giống như con chiên hiền lành, Chúa Giêsu đã chịu đau khổ, chịu chết trên thánh giá, để xoá tội cho chúng ta và đưa chúng ta về với Thiên Chúa.

3. Chúa Giêsu yêu thương từng bạn nhỏ

Các con nhớ nhé:

- Chúa Giêsu không chỉ yêu người lớn. Chúa Giêsu cũng yêu từng bạn thiếu nhi. Khi các con: ngoan ngoãn, vâng lời cha mẹ, đi lễ sốt sắng, biết xin lỗi khi làm sai, là lúc các con đang đi theo Chiên Thiên Chúa.

Cha hỏi nè:

- Khi làm điều sai, các con nên giấu đi hay xin lỗi?

(Đợi trả lời)

Đúng rồi! Chúa Giêsu rất vui khi các con biết nhận lỗi và sửa lỗi.

4. Thiếu nhi được mời gọi trở nên “chiên ngoan”

Các con thân mến,

Chúa Giêsu là Chiên hiền lành, và Chúa mời gọi mỗi bạn thiếu nhi trở thành:

- chiên ngoan trong gia đình- Vâng lời cha mẹ!

- chiên ngoan ở trường học- Ngoan ngoãn, không đánh nhau!

- chiên ngoan trong lớp giáo lý- Chăm học giáo lý, biết cầu nguyện!

Cha chốt: Mỗi bạn thiếu nhi đều có thể trở thành chiên ngoan của Chúa Giêsu khi các con vâng lời cha mẹ, không nói dối, không đánh nhau, biết giúp đỡ bạn bè, siêng học giáo lý và tích cực tham dự thánh lễ mỗi ngày

5. Kết luận – Lời mời gọi

Các con thân mến,

Mỗi khi đi lễ, cha chủ tế giơ cao Mình Thánh Chúa lên và nói: “Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian.”

Lúc đó, các con hãy nhớ:

- Chúa Giêsu đang nhìn các con

- Chúa yêu các con

- Chúa muốn các con sống ngoan và thánh thiện hơn mỗi ngày

6. Lời nguyện ngắn cho thiếu nhi

Các con cùng cha đọc thầm trong lòng nhé:

“Lạy Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa,

Chúa rất hiền lành và yêu thương chúng con.

Xin giúp chúng con biết vâng lời,

sống ngoan ngoãn và yêu thương mọi người. Amen.”

 

Thứ hai: 1 Sm 15,16-23; Mc 2,18-22

Suy niệm 1:

Sứ điệp lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta thành tâm oán cải đời sống sao cho phù hợp với tinh thần mới của Tin mừng mà Chúa Giêsu mang đến.

3 việc đạo đức mà người Do Thái rất quan tâm thực hành, đó là: cầu nguyện, ăn chay và bác ái. Nên khi thấy các môn đệ của Thầy Giêsu không giữ chay, trong khi đó môn đệ của Gioan, cũng như môn đệ của những người Pharisêu thì giữ luật ăn chay cách nghiêm ngặt. Điều này khiến cho một số người trong nhóm Pharisêu khó chịu, nên họ lên tiếng phàn nàn với Thầy Giêsu:“sao môn đệ ông lại không ăn chay?”.

Nhân cơ hội này, Chúa Giêsu vừa giải thích cho những người Pharisêu biết lý do vì sao các môn đệ Chúa không ăn chay; đồng thời Chúa Giêsu cũng vừa mạc khải cho họ biết về bản thân và sứ mạng của Ngài.

Trong Cựu Ước, Thiên Chúa tự ví Người là chàng rể và Israel là nàng dâu.

Như thế khi đem trường hợp tiệc cưới ra để giải thích về việc ăn chay, Chúa Giêsu muốn cho họ biết rằng: Ngài là chàng rể và Israel là nàng dâu. Qua đó mặc nhiên tuyên bố Ngài chính là Thiên Chúa đã đến giữa lòng nhân loại.

Hơn nữa, mục đích chính của việc ăn chay bấy giờ là mong đợi Đấng Messia đến. Mà Chúa Giêsu chính là Đấng Messia (chàng rể)  đã đến với loài người (nàng dâu) rồi, thì cớ gì phải ăn chay.

Việc ăn chay phải gắn liền với cuộc đời của Đức Giêsu. Do đó lúc Ngài vui thì con người phải chia vui với Ngài. Khi Ngài khổ thì con người cùng chung đau khổ. Lúc Ngài chết thì con người phải cùng chấp nhận chịu chết với Ngài. Khi Ngài sống lại thì con người cũng cùng sống lại với Ngài.

Tóm lại, Chúa Giêsu không hề phủ nhận việc ăn chay, nhưng qua lời giải đáp thắc mắc trên, Chúa Giêsu muốn cho biết: Ngài chính là chàng rể Chúa Cha sai đến kết hôn với loài người, yêu thương loài người và cứu độ loài người. Cũng như xác định rõ cho chúng ta biết việc ăn chay là để dọn lòng tiếp rước Chúa. Một khi đã tiếp nhận Chúa rồi thì không cần ăn chay nữa, trái lại phải vui mừng phấn khởi trong niềm tin yêu Chúa.

Xin cho chúng ta biết lo ăn chay hãm mình, để dọn lòng xứng đáng đón nhận Chúa qua bàn tiệc Thánh Thể mỗi ngày, nhờ đó mà được thông hiệp với Chúa nguồn hạnh phúc đời ta.

 

Suy niệm 2:

Lời Chúa hôm nay đặt trước mặt chúng ta một vấn nạn rất căn bản của đời sống đức tin: điều gì làm đẹp lòng Thiên Chúa: nghi thức bên ngoài hay tấm lòng vâng phục và đổi mới từ bên trong?

Trong bài đọc I, ngôn sứ Samuen quở trách vua Sa-un vì đã không thi hành trọn vẹn lệnh truyền của Thiên Chúa. Sa-un vẫn dâng hy lễ, vẫn giữ lại những gì ông cho là “tốt nhất”, và còn biện minh rằng làm như thế là để kính Chúa. Nhưng Samuen khẳng định một chân lý bất hủ: “Vâng lời thì tốt hơn hy lễ, tuân phục thì quý hơn mỡ chiên cừu.”

Thiên Chúa không cần của lễ nếu con người thiếu vâng phục. Khi đặt ý riêng, toan tính và sự khôn ngoan của mình lên trên thánh ý Chúa, Sa-un đã đánh mất điều cốt lõi của đức tin, dù bề ngoài ông vẫn giữ những nghi thức đạo đức.

Tin Mừng hôm nay tiếp tục làm sáng tỏ ý tưởng ấy. Người ta thắc mắc vì sao các môn đệ Đức Giêsu không ăn chay như môn đệ Gioan hay người Pharisêu.

Chúa Giêsu trả lời bằng hình ảnh rất mới mẻ: rượu mới và bầu da mới. Người không phủ nhận giá trị của chay tịnh hay luật lệ, nhưng Người mời gọi một điều sâu xa hơn: đón nhận điều mới mẻ mà Thiên Chúa đang thực hiện.

Chay tịnh, giữ luật, thực hành đạo đức… chỉ thực sự có ý nghĩa khi xuất phát từ một con tim được đổi mới. Nếu chỉ giữ hình thức mà tâm hồn vẫn khép kín, thì “bầu da cũ” ấy không thể chứa được “rượu mới” của ân sủng.

Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta xét lại đời sống đức tin của mình:

- Tôi có dễ biện minh cho mình như vua Sa-un, làm theo ý riêng rồi khoác lên đó danh nghĩa “vì Chúa” không?

- Tôi có bằng lòng để Lời Chúa làm mới tư duy, não trạng và cách sống của mình, hay chỉ muốn giữ những thói quen đạo đức quen thuộc mà không hoán cải thực sự?

Theo Chúa không chỉ là giữ luật, mà là để Chúa đổi mới con tim; không chỉ là dâng hy lễ, mà là vâng phục thánh ý Chúa trong từng chọn lựa của đời sống hằng ngày.

Xin Chúa cho chúng ta biết trở nên “bầu da mới”, với một tâm hồn khiêm tốn, vâng phục và luôn sẵn sàng đón nhận điều mới mẻ Chúa muốn thực hiện nơi chúng ta. Amen.

 

Thứ ba: 1Sm 16,1-13; Mc 2, 23-28

Suy niệm 1:

Qua cuộc tranh luận với những người Biệt phái mà đoạn Tin mừng hôm nay trình thuật, Chúa Giêsu cho chúng ta biết rõ về ý nghĩa và mục đích thật sự của việc giữ luật ngày Sabat như thế nào.

Xin cho mỗi người chúng ta có cái nhìn đúng đắn về việc tuân giữ luật ngày Chúa nhật cách riêng và luật lệ nói chung theo tinh thần như Chúa Giêsu mong muốn.

Tin Mừng hôm nay trình thuật về cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và những người Pharisêu.

Lý do xảy ra cuộc tranh luận là vì các môn đệ Chúa Giêsu bứt bông lúa ăn cho đỡ đói vào ngày Sabát.

Nguyên nhân chính của cuộc tranh luận này là vì bất đồng quan điểm.

- Với những người Pharisêu giữ ngày Sabát là điều hết sức quan trọng. Ai vi phạm ngày này có thể bị xử tử (x. Xh 31,14), bị ném đá (x. Ds 15,32-36).

Bứt bông lúa để ăn là một hành động không thể chấp nhận được. Mặc dù theo sách Đệ Nhị Luật (23,26) thì hành động này được phép làm: “Khi vào đồng lúa của người đồng loại, anh em có thể lấy tay bứt bông lúa”. Nhưng vì đố kỵ, ghen ghét Chúa Giêsu nên họ cho rằng việc bứt lúa và vò trong tay cũng giống với hành vi gặt và xay lúa, mà gặt và xay lúa là một trong ba mươi chín việc không được phép làm ngày Sabát.

- Còn Chúa Giêsu thì cho rằng: Thiên Chúa lập nên ngày Sabát để loài người có thời gian nghỉ ngơi hầu nhớ đến công trình tạo dựng và giải phóng của Ngài (Đnl 5,14-15). Ngày Sabát đúng là ngày của Chúa, dành cho Chúa, nhưng nó cũng là ngày phục vụ nhu cầu lợi ích cho con người và vì con người: "Ngày Sabát được đặt ra vì con người".

Do đó việc các môn đệ Chúa bứt lúa ăn cho đỡ đói trong ngày Sabát là một nhu cầu chính đáng vì nó phục vụ cho nhu cầu lợi ích chính đáng cho con người. Chính vua Đavít và đoàn tùy tùng cũng đã vào đền thờ và đã lấy bánh dâng tiến để ăn khi bụng đói! Nhưng vì ghen ghét và hận thù đã làm cho những người Pharisêu trở nên mù quáng mà quên đi mục đích chính của việc giữ luật.

Để giúp cho những người Pharisêu có cái nhìn đúng đắn về mục đích của luật, Giêsu đã không ngần ngại đối đầu với họ cho đến cùng, dù có phải trả giá bằng cái chết trên Thập giá, tất cả là để minh chứng rằng: chỉ có một lề luật duy nhất để tuân giữ, đó là luật yêu thương, và chỉ có một giá trị cao cả nhất để sống và chết cho, đó là tình yêu. Sống "yêu thương là chu toàn lề luật" (Rm 13,10).

Xin Chúa loại trừ nơi chúng ta những đố kỵ, ghen ghét tầm thường để chúng ta có được cái nhìn trong sáng đúng đắn. Và xin Chúa giúp chúng ta luôn biết sống nhân ái và bao dung với hết mọi người như Chúa đã yêu thương chúng ta. Amen.

 

Suy niệm 2: CON NGƯỜI LÀM CHỦ NGÀY SA-BÁT

Trong cả hai bài đọc hôm nay, Lời Chúa mời gọi chúng ta điều chỉnh lại cách nhìn và cách sống, để không dừng lại ở bề ngoài hay hình thức, nhưng đi vào ý định và lòng thương xót của Thiên Chúa.

1. Bài đọc 1: Khi sai ngôn sứ Samuel đi xức dầu phong vương, Thiên Chúa không chọn theo tiêu chuẩn quen thuộc của con người: dáng vẻ oai phong, chiều cao, sức mạnh. Những người con lớn tuổi, bề ngoài nổi bật của Giêsê lần lượt đi qua, nhưng đều không phải là người Thiên Chúa chọn.

Và rồi Đavít xuất hiện, người con út, đang chăn chiên, bị bỏ quên trong cái nhìn của gia đình. Chính nơi con người nhỏ bé ấy, Thiên Chúa lại thấy một trái tim phù hợp với kế hoạch của Ngài. Lời Chúa vang lên như một nguyên tắc nền tảng cho đời sống đức tin: “Người phàm chỉ thấy điều trước mắt, còn Đức Chúa nhìn thấy tận đáy lòng.”

Điều này nhắc chúng ta: trong đời sống cá nhân, trong việc phục vụ và đánh giá người khác, đừng vội phán xét theo bề ngoài, theo chức vụ, tài năng hay hình ảnh bên ngoài. Thiên Chúa âm thầm làm việc nơi những con người khiêm tốn, trung thành và chân thành.

2. Trong bài Tin Mừng: Các môn đệ bị trách vì bứt lúa ăn trong ngày sa-bát. Chúa Giêsu không phủ nhận giá trị của luật, nhưng Người trả lại cho luật ý nghĩa đích thực: “Ngày sa-bát được làm ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày sa-bát.”

Luật lệ tôn giáo không phải để trói buộc, loại trừ hay làm nặng gánh cho con người, nhưng để phục vụ sự sống, tự do và phẩm giá con người. Khi luật lệ bị tách khỏi lòng thương xót, nó dễ trở thành gánh nặng và công cụ xét đoán.

Chúa Giêsu khẳng định quyền tối thượng của tình yêu và sự sống, đồng thời mặc khải căn tính của Người: “Con Người là Chúa của ngày sa-bát.”
Người có quyền dẫn luật về đúng với ý định cứu độ của Thiên Chúa.

3. Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi chúng ta tự vấn:

- Tôi đang nhìn người khác bằng ánh mắt của Thiên Chúa, hay bằng định kiến và thói quen của mình?

- Trong đời sống đức tin và mục vụ, tôi có đặt luật lệ cao hơn con người, hình thức cao hơn tình yêu không?

- Tôi có sẵn sàng để Chúa thanh luyện trái tim mình, để trở nên khí cụ của lòng thương xót và sự sống?

Noi gương Đavít, người được chọn không vì dáng vẻ nhưng vì trái tim; noi gương Chúa Giêsu, Đấng đặt con người làm trung tâm của lề luật, chúng ta được mời gọi sống đức tin chân thành, nhân hậu và đầy lòng cảm thông.

Xin Chúa cho chúng ta có được một trái tim giống như trái tim Chúa: biết nhìn sâu hơn bề ngoài, biết yêu thương hơn là xét đoán, và biết dùng lề luật để phục vụ sự sống và tình yêu. Amen.


Suy niệm 3: ĐÔI MẮT CỦA TRÁI TIM

Trong cuộc sống thường nhật, chúng ta thường đánh giá mọi sự dựa trên những gì mắt thấy, tai nghe. Tuy nhiên, Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta thực hiện một cuộc "cải tổ" về nhãn quan: chuyển từ cái nhìn bề ngoài sang cái nhìn thấu suốt tâm hồn bằng lòng thương xót.

1. Cái nhìn của Thiên Chúa vs. Cái nhìn của con người (Bài đọc 1)

Câu chuyện ngôn sứ Samuen đi xức dầu cho vị vua mới của Israel là một bài học đắt giá về sự định kiến.

- Con người nhìn bề ngoài: Ngay cả một ngôn sứ như Samuen hay một người cha như Giê-sê cũng bị choáng ngợp bởi vẻ vạm vỡ, cao lớn của các người con lớn. Họ chọn theo tiêu chuẩn của thế gian: sức mạnh và ngoại hình.

- Thiên Chúa nhìn tâm hồn: Chúa phán: "Người ta chỉ nhìn thấy bên ngoài, còn Đức Chúa thì nhìn thấy tận lòng người." Đavít một cậu bé chăn cừu nhỏ nhất, đang ở ngoài đồng, nhưn lại là sự lựa chọn của Thiên Chúa.

Bài học: Đừng vội vàng đánh giá giá trị của một người qua địa vị, bằng cấp hay vẻ bề ngoài. Thiên Chúa thường chọn những gì thế gian coi là bé nhỏ, yếu đuối để thực hiện những điều lớn lao và vĩ đại.

2. Luật lệ hay Tình yêu? (Bài Tin Mừng)

Cuộc đối đầu giữa nhóm Biệt phái và Chúa Giêsu về sự kiện các môn đệ Người bứt lúa ăn trong ngày Sabát bộc lộ hai thái độ sống đạo trái ngược nhau:

- Cái nhìn hẹp hòi của người Pharisêu: Họ nhìn thấy lỗi lầm trước khi nhìn thấy con người. Họ dùng luật lệ như một chiếc kính lúp để soi xét và lên án người khác. Đối với họ, luật lệ quan trọng hơn sự đói khát và nhu cầu căn bản của anh em.

- Cái nhìn của Chúa Giêsu: Ngài nhìn thấy nỗi lòng và sự cần kíp của con người. Ngài khẳng định: "Ngày Sabát được làm ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày Sabát." Chúa Giêsu muốn đưa luật lệ trở về đúng căn tính của nó: Luật là để phục vụ tình thương và sự sống con người.

3. Điều chỉnh lại "Tiêu cự" của chúng ta

Điều nghịch lý là nhiều khi chúng ta quá khắt khe với người khác nhưng lại dễ dãi với chính mình. Dấu chỉ ấy cho thấy cái nhìn của ta bị lệch lạc bởi sự kiêu ngạo và lòng ghen tị thúc đẩy.

- Lòng thương xót giúp chúng ta thấy được những nỗi đau ẩn sau những hành động vụng về của người khác.

- Tình yêu giúp chúng ta giữ luật một cách tự nguyện và vui tươi, chứ không phải vì sợ hãi hay để phô diễn.

Xin Chúa ban cho ta có được đôi mắt của Chúa để ta thấy được vẻ đẹp trong tâm hồn anh chị em ta. Và xin dạy ta biết yêu thương trước khi xét đoán, biết đặt lòng nhân từ lên trên những nguyên tắc cứng nhắc, để trong mọi sự, danh Chúa được rạng rỡ qua cách ta sống và đối xử với mọi người. Amen.

 

Thứ tư: 1Sm 17, 32-33.37.40-51; Mc 3, 1-6

Nhớ thánh A-nê, trinh nữ, tử đạo.

Suy niệm 1: 

Làm việc lành không phải lúc nào cũng được ủng hộ, nhưng lắm khi lại bị lên án và ngăn cấm. Nhưng không vì thế mà Chúa Giêsu buông xuôi bỏ cuộc. Trái lại Người vượt lên tất cả để hoàn thành sứ mạng phục vụ hạnh phúc cho con người. Đó là điều mà Tin mừng hôm nay nói đến.

Tin Mừng hôm nay cho thấy 2 thái độ và cách hành xử khác nhau:

- Của những người Pharisêu: không nhắm đến phục vụ hạnh phúc con người, nhưng nhắm đến phụng sự cho lề luật. Không có cái nhìn cảm thông, nhưng lại có cái nhìn vô cảm trước đau khổ của đồng loại. Không dám chấp nhận sự thật hiển nhiên, nhưng lại cố tình tìm cách giải thích sai lệch. Tất cả những điều ấy đều phát xuất từ óc tự cao và lòng đố kỵ của họ dành cho Chúa Giêsu.

- Của Chúa Giêsu: Có cái nhìn đầy yêu thương trước những con người bị đau khổ. Dẫu biết rằng, chung quanh Người có nhiều ánh mắt không thiện cảm bởi những người Pharisêu. Họ đang theo dõi và đang giương những mũi tên độc ác hướng về Chúa Giêsu để tiêu diệt bất cứ lúc nào. Ấy vậy mà Chúa Giêsu không hề nao núng và lo sợ. Chính bởi sức mạnh tình yêu đã làm cho Chúa vượt qua mọi rào cản và sẵn sàng cứu chữa người bị tay khô bại ngay trong ngày Sabat.

Xin cho chúng ta tránh được thái độ ghen tỵ trước những việc làm tốt của tha nhân. Để ta không buông ra những lời ác độc hay tìm cách hãm hại tha nhân như những người Pharisêu.

Xin cho chúng ta cũng can đảm vượt qua những rào cản do quan niệm sai lạc hay do lòng đố kị của những người chung quanh mà quyết tâm làm những việc lành, việc thiện cho tha nhân, nhất là những người đang gặp đau khổ về thể xác và tinh thần theo gương Chúa Giêsu.

 

Suy niệm 2:

Tin mừng hôm nay cho biết: Chúa Giêsu rất khó chịu trước thái độ kiêu căng bảo thủ của những người Biệt phái và tỏ ra rất buồn phiền trước hành vi ghen tị của họ. Chúa cũng sẽ rất buồn phiền nếu chúng ta cũng giữ luật Chúa và Giáo Hội bằng hình thức và thiếu lòng yêu mến.

Cả 2 bài đọc hôm nay đều nhấn mạnh đến cuộc chiến đấu không cân sức. Nhưng người biết đứng về chân lý sẽ được Chúa ban ơn giúp sức và sẽ chiến thắng.

Bài đọc 1, thuật lại cuộc chiến đấu giữa Đavit, chàng trai trẻ, là con dân của đất nước Do Thái nhỏ bé; phải đối mặt với đội quân hùng mạnh, võ trang đầy đủ và dày dặn trận mạc, dưới quyền chỉ huy của một vị tướng sức mạnh phi thường là Gôliac cao to của một đế quốc hùng cường Philitinh. Đúng là sự đối đầu không cân tài, cân sức. Dưới cái nhìn tự nhiên thì Đavit không thể nào chiến thắng được quân thù. Ấy vậy mà nhờ vào sự khôn ngoan và sức mạnh của ơn Chúa ban, Đavit và dân Do Thái nhỏ bé đã chiến thắng cách oanh liệt kẻ thù.

Bài Tin Mừng tiếp tục trình thuật lại cuộc đối đầu không cân sức giữa Chúa Giêsu và với giới chức lãnh đạo tôn giáo đã liên kết với nhóm cầm quyền chính trị quân sự là phái Hêrôđê. Bao vây Chúa Giêsu không chỉ là sức mạnh của giới chức đạo-đời, mà còn bởi sự kiềm hãm bởi những lề luật trói buột, giữa những quan niệm củ kỷ khắc nghiệt…Nhưng Chúa Giêsu đã không ngần ngại đấu đầu, tất cả chỉ vì giá trị của Tin mừng tình yêu. Với câu hỏi “Ngày Sabat làm việc lành hay sự dữ”. Chúa Giêsu cho thấy đích điểm của mọi lề luật là hướng đến hạnh phúc và sự sống cho con người. Nên Chúa Giêsu đã không ngần ngại cứu chữa cho người bị khô bại tay trong ngày Sabát được khỏi.

Xin cho chúng ta cũng can đảm làm việc thiện nhằm phục vụ lợi ích cho tha nhân mà không sợ thua thiệt hay tính toán hơn thiệt. Nhất là can đảm sống đức tin và thi hành các việc đạo đức cho dẫu gặp phải nhửng chống đối, ngăn đe hay chỉ trích.


Suy niệm 3:

1. Câu chuyện Đavít đối đầu với Gôliát luôn gợi lên sự tương phản mạnh mẽ: một bên là chiến binh khổng lồ, áo giáp nặng nề, gươm giáo đầy uy lực; bên kia là một chàng thiếu niên nhỏ bé, không áo giáp, chỉ với chiếc trành và năm viên đá cuội.

Về mặt con người, Đavít không có gì để thắng. Nhưng điều làm nên sức mạnh của anh không phải là vũ khí, mà là niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa: “Đức Chúa đã cứu con khỏi nanh vuốt sư tử và gấu, Người cũng sẽ cứu con khỏi tay tên Phi-li-tinh này.”

Đavít không hành động vì tự cao hay liều lĩnh, nhưng vì xác tín rằng cuộc chiến này thuộc về Đức Chúa. Chính niềm tín thác ấy đã giúp anh chiến thắng, để vinh quang không thuộc về con người, mà thuộc về Thiên Chúa.

2. Trong Tin Mừng, thánh Máccô thuật lại một cuộc “đối đầu” khác: Đức Giêsu và nhóm Pha-ri-sêu trong hội đường ngày sa-bát. Ở đó có một người bị bại tay, cần được chữa lành. Đức Giêsu đặt câu hỏi: “Ngày sa-bát được phép làm điều lành hay điều dữ?” Nhưng các ông làm thinh.

Sự thinh lặng ấy không phải vì không biết câu trả lời, mà vì trái tim đã khép kín, sợ mất luật hơn là mất con người. Trước cảnh đó, Đức Giêsu “giận dữ và buồn phiền vì lòng chai đá của họ”, rồi Người chữa lành người bệnh. Đối với Đức Giêsu, lề luật không bao giờ được đặt cao hơn con người, và việc thờ phượng đẹp lòng Thiên Chúa nhất chính là tình yêu thương và lòng xót thương.

3. Hôm nay, Giáo Hội kính nhớ thánh A-nê, trinh nữ, tử đạo, một thiếu nữ rất trẻ, yếu đuối theo tiêu chuẩn thế gian, nhưng mạnh mẽ trong đức tin. Như Đavít trước Gôliát, như người bại tay trước những luật lệ cứng nhắc, thánh A-nê không có sức mạnh trần thế, nhưng có một tình yêu trọn vẹn dành cho Chúa Kitô. Chính tình yêu ấy đã giúp ngài vượt thắng sợ hãi, trung thành đến cùng, và trở nên chứng nhân anh dũng cho Tin Mừng.

4. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tự vấn:

- Tôi đang cậy dựa vào “vũ khí” nào trong đời sống đức tin: sức riêng, địa vị, thói quen đạo đức hình thức, hay thực sự là niềm tín thác nơi Chúa?

- Trái tim tôi có đang trở nên chai đá vì quá bám vào luật lệ, nguyên tắc, thành kiến, đến mức quên đi con người cụ thể đang cần được yêu thương và chữa lành?

Xin cho chúng ta, noi gương Đavít và thánh A-nê, biết chọn đức tin đơn sơ nhưng kiên vững, và noi gương Đức Giêsu, biết đặt tình yêu và lòng xót thương làm tiêu chuẩn cao nhất trong đời sống Kitô hữu. Khi đó, ngay giữa những “cuộc chiến” nhỏ bé của đời thường, chúng ta cũng sẽ trở thành chứng nhân cho quyền năng và lòng nhân hậu của Thiên Chúa.


Suy niệm 3:

Cùng với Giáo hội, hôm nay chúng ta kính nhớ thánh nữ A-nê, trinh nữ, tử đạo. Thánh nữ A-nê (Agnes) là một vị thánh trẻ tuổi (khoảng 12-13 tuổi) đã can đảm làm chứng cho đức tin vào thế kỷ IV. Tên của ngài có gốc từ tiếng Latinh là Agnus (Chiên con) và tiếng Hy Lạp là Hagne (Khiết tịnh). Cuộc đời ngài là minh chứng cho sức mạnh của Thiên Chúa được thể hiện nơi sự yếu đuối của con người.

Tin Mừng hôm nay xoay quanh việc Chúa Giê-su chữa lành cho người bại tay trong ngày Sa-bát. Qua đó, Chúa muốn nói với chúng ta hai điều sau đây:

1. Sự tự do của tình thương: Chúa Giê-su đặt câu hỏi: "Ngày Sa-bát, được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay giết đi?". Ngài cho thấy luật pháp cốt lõi là để phục vụ con người và sự sống.

Thánh A-nê đã chọn "điều lành" cao nhất là hiến dâng mạng sống cho Chúa, vượt lên trên mọi nỗi sợ hãi thế trần.

2. Sức mạnh của đức tin: Hình ảnh người bại tay được Chúa chữa lành nhắc nhở chúng ta về sự biến đổi. Khi chúng ta "giơ tay ra" với Chúa bằng niềm tin, Ngài sẽ phục hồi những gì đã khô héo, tê liệt trong tâm hồn ta.

Vì vậy:

- Ta hãy can đảm làm chứng: Noi gương Thánh A-nê, chúng ta được mời gọi sống trung thành với Chúa trong những chọn lựa nhỏ bé hằng ngày: chọn sự thật, chọn bác ái và chọn bao dung.

- Luôn ưu tiên con người: Giống như Chúa Giê-su coi trọng sự sống hơn là những quy tắc cứng nhắc, chúng ta cũng cần nhìn thấy nhu cầu của anh chị em xung quanh để kịp thời an ủi và giúp đỡ.

Nhờ lời chuyển cầu của Thánh nữ A-nê, xin Chúa cho chúng ta một trái tim đơn sơ nhưng can trường, để chúng ta luôn biết dùng cuộc đời mình mà ca tụng Chúa và phục vụ tha nhân trong tình yêu thương.

 

Thứ năm: 1Sm 18,6-9;19,1-7; Mc 3, 7-12

Suy niệm 1:

Giữa lúc mà uy danh Chúa Giêsu được dân chúng không ngớt lời ca ngợi chúc tụng. Ngay cả ma quỷ cũng tôn vinh danh thánh Người. Nhưng không vì thế mà Chúa Giêsu hãnh diện về những lời tâng bốc ấy. Trái lại Người biết làm chủ bản thân nên đã giữ một khoảng cách an toàn khi tiếp xúc với mọi người, cũng như trước những lời đường mật của ma quỷ.

Có thể nói đây là thời kỳ vàng son của Chúa Giêsu với những thành công vang dội. Chính vì thế mà được rất đông đảo dân chúng đi theo để nghe Người giảng dạy và được chữa lành bệnh tật. Điều này khiến cho lịch làm việc của Chúa trở nên dày đặc. Tuy vậy, Chúa Giêsu luôn là người biết giữ khoảng cách tâm lý và vật lý chứ không bị cuốn theo những cuồng nhiệt của dân chúng.

Để cho lời giảng dạy đạt hiệu quả tốt và loan truyền dễ dàng đến tai người nghe, Chúa Giêsu dùng một chiếc thuyền để tách mình ra khỏi đám đông ồn ào và dùng sự lan truyền âm thanh mặt nước để rao giảng tin mừng.

Để tránh những người hâm mộ và những tình trạng quá khích có thể xảy ra, cũng như không chìm vào những thành công ngọt ngào, Chúa Giêsu đã tách mình ra khỏi họ và tìm cách giữ mình không sa đọa vào những lời tung hô của dân chúng.

Để tránh gây ra hiểm lầm về một Đấng Messia trần tục của dân chúng, Chúa Giêsu đã nghiêm cấm Ma quỷ không được tiết lộ về danh tính về con Thiên Chúa của Người. Bởi lẽ những lời tăng bốc ấy sẽ dễ cám dỗ Người rơi vào con đường riêng mình mà không vâng theo thánh ý Chúa Cha.

Xin cho mỗi người chúng ta cũng biết giữ khoảng cách tâm lý và vật lý trong mọi vấn đề trong cuộc sống, để ta có điểm dừng đúng lúc, nhớ đó có nhận định sáng suốt đúng đắng trước mọi cám dỗ của ma quỷ giăng bẩy.

 

Suy niệm 2:

1. Khi lòng ghen tỵ làm mờ ánh sáng của Thiên Chúa

Sau chiến thắng của Đavít, dân chúng reo vui và ca tụng: “Saun giết được hàng ngàn, Đavít giết được hàng vạn.” Lời ca ấy, thay vì trở thành niềm vui chung cho dân tộc, lại trở thành mũi dao đâm vào lòng vua Saun. Từ đó, Kinh Thánh ghi nhận một chi tiết rất đáng suy nghĩ: “Saun nhìn Đavít với con mắt ganh tỵ.”

Ghen tỵ không chỉ là cảm xúc thoáng qua, mà là thứ âm thầm gặm nhấm tâm hồn, làm biến dạng các mối tương quan. Từ chỗ là vua được Thiên Chúa tuyển chọn, Saun dần trở thành người sợ hãi, nghi kỵ, rồi tìm cách tiêu diệt người vô tội. Khi con người đặt “cái tôi” lên trên ý muốn của Thiên Chúa, thì thành công của người khác dễ trở thành mối đe dọa hơn là một ân huệ chung.

2. Gio-na-than-hình ảnh của người biết đặt sự thật và tình huynh đệ lên trên lợi ích riêng

Giữa bầu khí đen tối của ghen tỵ và bạo lực, Gio-na-than xuất hiện như một điểm sáng. Là con vua, có thể là người thừa kế ngai vàng, nhưng ông lại can đảm bảo vệ Đavít, nói sự thật với vua cha và kêu gọi Saun nhìn lại những điều tốt đẹp Đavít đã làm cho dân tộc.

Gio-na-than không để mình bị cuốn vào vòng xoáy quyền lực và thù hận. Ông chọn đứng về phía công lý, sự thật và tình huynh đệ. Qua đó, Lời Chúa mời gọi chúng ta tự hỏi: trong các mối tương quan hằng ngày – gia đình, cộng đoàn, giáo xứ – tôi đang nuôi dưỡng ghen tỵ hay đang trở nên người xây dựng bình an và hiệp nhất?

3. Đức Giêsu-Đấng được tìm đến nhưng không tìm vinh quang cho mình

Tin Mừng cho thấy một bức tranh hoàn toàn khác. Đức Giêsu được đám đông từ khắp nơi tìm đến, dân chúng chen lấn, các thần ô uế cũng phải sấp mình tuyên xưng: “Ông là Con Thiên Chúa.” Thế nhưng, Người nghiêm cấm chúng nói ra điều ấy.

Khác với vua Saun sợ mất vinh quang, Đức Giêsu không bám víu vào danh tiếng hay sự tung hô. Người đến để chữa lành, để giải thoát, và để thực thi thánh ý Chúa Cha. Vinh quang đích thực của Người không nằm ở tiếng tăm, mà ở tình yêu tự hiến.

4. Lời mời gọi cho người Kitô hữu hôm nay

Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi chúng ta xét lại lòng mình:

- Tôi có đang để ghen tỵ, so sánh, hay sợ mất chỗ đứng chi phối cách nhìn và cách hành xử của mình không?

- Tôi có đủ can đảm như Gio-na-than để bảo vệ sự thật, nâng đỡ người khác và góp phần xây dựng hiệp nhất không?

- Tôi có học nơi Đức Giêsu sự khiêm tốn, biết làm việc thiện vì tình yêu chứ không vì tìm kiếm tiếng khen?

Xin Chúa thanh luyện tâm hồn chúng ta, để thay vì ganh tỵ và sợ hãi, chúng ta biết vui mừng trước ân huệ Chúa ban cho người khác; để thay vì tìm vinh quang cho mình, chúng ta biết tìm vinh quang Thiên Chúa và bình an cho cộng đoàn.

Xin Chúa cho chúng ta một trái tim trong sạch và quảng đại, để biết yêu thương, nâng đỡ nhau và trở nên chứng nhân của bình an giữa đời.

 

Thứ sáu: 1Sm 24, 3-21; Mc 3, 13-19

Suy niệm 1:

Tin Mừng hôm nay trình thuật lại việc Chúa Giêsu tuyển chọn 12 tông đồ để Người huấn luyện đào tạo và trao ban sứ vụ cộng tác với Người trong sứ mạng rao giảng Tin mừng. Mỗi người chúng ta cũng được Chúa chọn gọi và trao ban sứ vụ làm chứng cho Chúa nơi gia đình và môi trường chúng ta đang sống. Xin cho chúng ta thi hành tốt nhiệm vụ mà Chúa trao ban.

Để rao giảng tin mừng cứu độ con người một mình Chúa Giêsu là đủ, bởi lẽ Người là TC quyền năng nên Người làm được mọi sự. Nhưng Chúa lại không thực hiện cách thế đó. Trái lại, Người mời gọi con người cộng tác.

Cụ thể Tin mừng hôm nay, Chúa tuyển chọn 12 tông đồ để ở với Người, nghe và học hỏi đời sống của Người. Sau đó Người trao ban quyền năng và sứ mạng quan trọng, cộng tác với Người đi rao giảng Tin mừng.

Điều đáng nói là 12 tông đồ mà Chúa Giêsu chọn lựa không phải là những con người tài năng mà là những con người ít học. Đa phần họ là dân làng chài quen nắng mưa và dạn dày với sóng nước biển cả. Các ông cũng không phải là những người được giáo dục đúng mức nên tính các rất khác biệt và lắm khi lại nóng nảy và cộc tính. Vậy mà Chúa lại chọn gọi và trao ban sứ mạng quan trọng. Vượt qua tất cả những yếu hèn của con người nếu biết tin tưởng và can đảm làm theo ý muốn của Chúa, thì mọi việc sẽ hoàn thành tốt đẹp “vì ơn Ta đủ cho con”.

Mỗi người chúng ta mỗi tánh tình khác nhau, và chúng ta cũng là những con người thật yếu đuối và bất tài, nhưng Chúa vẫn yêu thương gọi tên ta và chọn ta làm con làm môn đệ của Người. Xin cho chúng biết cộng tác tích cực để thi hành sứ mạng loan báo tin mừng niềm vui mà Chúa trao phó hầu chúng ta xứng đáng với tình thương chọn gọi của Chúa dành cho ta.

 

Suy niệm 2:

- Bài đọc I kể lại một cảnh rất “người”: Đavít có cơ hội hiếm hoi để kết liễu vua Sa-un,  người đang truy đuổi ông không thương tiếc. Chỉ cần một nhát gươm, mọi bất công, sợ hãi, chạy trốn sẽ chấm dứt. Thế nhưng Đavít đã không làm vậy. Ông chỉ cắt vạt áo vua Sa-un, rồi lương tâm ông bứt rứt.

Đavít không hành động theo bản năng tự vệ hay lòng oán hận mà theo niềm tin: Sa-un vẫn là người được Chúa xức dầu. Ông để Thiên Chúa làm thẩm phán, còn mình chọn con đường công chính. Chính thái độ ấy đã đánh động lương tâm Sa-un và mở ra một khoảnh khắc hoán cải.

Trong đời sống mục vụ cũng như đời thường, có khi ta “có lý”, có cơ hội để phản công, để hơn thua, để chứng tỏ mình đúng. Nhưng Lời Chúa mời gọi: không phải cái gì làm được cũng là cái nên làm. Công chính không đến từ sự trả đũa, nhưng từ lòng kính sợ Thiên Chúa và tôn trọng người khác.

- Tin Mừng thuật lại việc Đức Giêsu lên núi và gọi những kẻ Người muốn, để họ ở với Người và được sai đi rao giảng. Những người được chọn không phải những người hoàn hảo, nhưng là những con người rất khác nhau: có Phêrô bộc trực, có Gioan nồng nhiệt, có Tôma đa nghi, có Mát-thêu từng là người thu thuế, và cả Giuđan sẽ phản bội.

Ơn gọi Tông Đồ trước hết không phải là công việc, nhưng là mối tương quan: “để các ông ở với Người”. Chỉ khi ở với Chúa, người môn đệ mới có thể thi hành sứ mạng cách đúng đắn.

Đời sống Kitô hữu, đặc biệt trong sứ vụ, dễ bị cuốn vào công việc, kế hoạch, thành quả. Nhưng nếu thiếu việc “ở với Chúa” qua việc cầu nguyện, lắng nghe, gắn bó thì sứ vụ sẽ trở thành hoạt động thuần túy nhân loại.

- Lời mời gọi:

1. Đavít không tự phong mình là thẩm phán, nhưng phó thác cho Thiên Chúa.

2. Các Tông Đồ không tự chọn mình, nhưng được Chúa gọi.

Ơn gọi và quyền bính trong Giáo Hội không phải để áp đảo hay loại trừ người khác, nhưng để phục vụ trong khiêm tốn và trung tín. Người được Chúa chọn không phải là người không bao giờ sai lầm, nhưng là người biết đặt Chúa lên trên cái tôi của mình.

Xin Chúa cho chúng ta biết kính sợ Chúa như Đavít, luôn tôn trọng người khác dù họ chưa hiểu hay chưa công bằng với chúng ta.

Xin Chúa cho chúng ta, dù trong bất cứ ơn gọi hay trách nhiệm nào,
cũng luôn biết ở lại với Chúa, để mọi lời nói và việc làm đều phản chiếu lòng nhân hậu và công chính của Ngài. Amen.

 

Thứ bảy: 2Sm 1, 1-4.11-12.19.23-27; Mc 3, 20-21

Nhớ thánh Phan-xi-cô Sa-lê-si-ô, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh

Suy niệm 1:

Sứ mạng loan báo Tin mừng đem ơn giải thoát cho con người khỏi đau khổ và sự chết của Chúa Giêsu không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió. Nhưng điều đó không làm cho Người nao lòng và chùng bước. Trái lại Người luôn kiên định trong lập trường và trung thành với lý tưởng mà Chúa Cha trao phó.

Xin cho chúng ta cũng can đảm sống niềm tin, cho dù phải đối mặt với bao nhiêu là thử thách. Rất có thể thử thách đó do chính  người thân yêu của chúng ta gây ra.

Trên bước đường thi hành sứ mạng loan báo Tin mừng, Chúa Giêsu phải đối mặt với bao nhiêu là khó khăn, thử thách.

Khó khăn từ những chống đối bên ngoài, như nhóm Biệt phái và Hêrôđê luôn tìm cách gài bẩy và ám hại.

Thử thách từ bên trong là những người nhà của Người đã gây nhiều đau khổ cho Chúa Giêsu. Có lẽ họ không ác ý khi cho rằng Chúa Giêsu bị tâm thần. Nhưng có lẽ họ cũng bị áp lực bởi những lời kết án của giới chức tôn giáo và sự đe dọa bởi giới lãnh đạo chính quyền nên họ lo sợ về sự an nguy của Chúa Giêsu. Chính vì thế mà họ thừa nhận Chúa Giêsu bị tâm thần, với hy vọng nếu Chúa Giêsu có bị bắt thì cũng sẽ giảm nhẹ mức án cho Người.

Tuy nhiên dẫu sao ý nghĩ và sự thừa nhận về sự mất trí của những người thân cũng làm cho Chúa Giêsu đau buồn. Đúng ra, khi nhìn thấy những vất vả mà Chúa Giêsu đã làm để thi ân giáng phúc cho những người đang gặp đau khổ, đến nổi không còn thời gian để nghỉ ngơi và ăn uống như vậy, thì người thân của Người phải cảm thông, ủng hộ và giúp đỡ Người chu toàn tốt sứ mạng. Đàng này họ lại hiểu lầm và tìm cách ngăn cản. Quả là một điều đáng buồn!

Qua đây cho ta biết: Sống đạo và làm chứng cho Tin mừng không phải lúc nào cũng êm ái dễ dàng; trái lại có lúc sẽ gặp phải nhiều khó khăn và chống đối. Chống đối ấy có thể đến từ bên ngoài, nhưng buồn nhất là đến từ những người rất thân yêu của chúng ta trong cùng một gia đình. Lý do có thể vì không cùng lý tưởng, quan niệm và niềm tin...

Xin Chúa ban thêm niềm tin nơi chúng ta, để chúng ta can đảm dấn thân hy sinh phục vụ hạnh phúc cho mọi người, nhất là những người nghèo khổ, dẫu phải đối mặt với nhiều khó khăn và bách hại.

 

Suy niệm 2:

- Bài đọc I thuật lại một trong những trang cảm động nhất của Cựu Ước: lời than khóc của Đavít trước cái chết của vua Sa-un và hoàng tử Giô-na-than. Điều đáng chú ý là: Sa-un từng truy sát Đavít, coi ông là kẻ thù không đội trời chung. Thế nhưng khi hay tin Sa-un tử trận, Đavít không hả hê, không mừng rỡ, cũng không nhắc đến những oan khuất mình đã chịu. Trái lại, ông xé áo, khóc than, chay tịnh và cất lên khúc ai ca chan chứa tình người.

Đavít đau không chỉ vì mất một vị vua, mà còn vì mất một người được Thiên Chúa xức dầu; ông đau vì dân Ít-ra-en mất đi người lãnh đạo; và nhất là đau vì mất người bạn tri kỷ Giô-na-than. Trái tim Đavít cho thấy một vẻ đẹp hiếm có: biết đặt lợi ích của Thiên Chúa và dân Người trên những tổn thương cá nhân. Đó là trái tim không để hận thù chiếm chỗ, nhưng để cho lòng trung thành, kính sợ Chúa và tình nghĩa huynh đệ lên tiếng.

- Tin Mừng theo thánh Máccô lại cho thấy một thực tế rất đời thường: Đức Giêsu làm việc không ngơi nghỉ vì dân chúng, đến nỗi “Người và các môn đệ không sao ăn uống được”. Trước cảnh ấy, những người thân của Người lại nghĩ rằng: “Người đã mất trí rồi!”.

Thật nghịch lý: Đấng đến để cứu độ, để chữa lành, để giải thoát con người, lại bị chính người nhà hiểu lầm. Đây là nỗi đau âm thầm của những ai dấn thân trọn vẹn cho sứ vụ. Khi chọn sống hết mình cho Chúa, người ta không tránh khỏi những lời bàn tán, những đánh giá sai lạc, thậm chí sự chống đối từ chính những người thân yêu nhất.

Đức Giêsu không thanh minh, không biện hộ. Người tiếp tục con đường Chúa Cha trao phó. Sự trung thành của Người không lệ thuộc vào sự tán thưởng của người đời, nhưng đặt nền trên tình yêu và thánh ý Chúa.

- Mẫu gương từ thánh Phan-xi-cô Sa-lê-si-ô

Trong ngày kính nhớ thánh Phan-xi-cô Sa-lê-si-ô, Lời Chúa hôm nay càng trở nên sống động. Ngài là vị giám mục và tiến sĩ Hội Thánh nổi tiếng với sự hiền hòa, kiên nhẫn và lòng bác ái mục tử. Trong một thời kỳ đầy chia rẽ và căng thẳng tôn giáo, thánh nhân đã không chọn con đường tranh luận gay gắt hay lên án nặng lời, nhưng chọn con đường của tình yêu, sự dịu dàng và bền bỉ.

Ngài từng nói: “Một giọt mật ong thì thu hút được nhiều ruồi hơn cả một thùng giấm.” Chính sự hiền lành ấy đã giúp nhiều tâm hồn trở về với Chúa. Thánh Phan-xi-cô Sa-lê-si-ô dạy chúng ta rằng: sống cho Chúa không phải là làm những điều phi thường theo kiểu ồn ào, nhưng là trung thành trong bổn phận hằng ngày với một trái tim hiền hòa và yêu mến.

- Lời mời gọi cho người Kitô hữu hôm nay

Từ Đavít, từ Đức Giêsu và từ thánh Phan-xi-cô Sa-lê-si-ô, Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta:

1. Biết vượt lên trên hận thù và tổn thương cá nhân để sống lòng trung tín và tình nghĩa.

2. Can đảm chấp nhận hiểu lầm khi chọn sống theo Tin Mừng.

3. Thi hành sứ vụ với trái tim hiền lành, khiêm tốn và kiên nhẫn.

Xin Chúa ban cho chúng ta một con tim giống như Trái Tim Chúa Giêsu: biết yêu đến cùng, dù bị hiểu lầm; biết hiền hòa và trung tín, dù phải trả giá.

Lạy Chúa, xin dạy con biết sống sự thật trong yêu thương, và làm mọi sự vì Chúa, chứ không vì lời khen chê của người đời.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

 CHÚA NHẬT V MÙA CHAY-NĂM A Lời Chúa mời gọi chúng ta theo chân Đức Giêsu đến làng Bêtania, để chiêm ngắm Đức Giêsu làm phép lạ cho ông Lada...