SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN IV PHỤC SINH
Lm. Nguyệt Giang
CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH-NĂM A
CHÚA CHĂN CHIÊN
LÀNH
Cv 2,14a.36-41;
1Pr 2,20b-25; Ga 10,1-10
SUY NIỆM 1: CHÂN DUNG NGƯỜI MỤC TỬ NHÂN LÀNH
Hôm nay Chúa
nhật IV phục sinh, GH tôn kính Chúa Giêsu là Mục Tử Nhân Lành. Ngày cầu nguyện
đặc biệt Cho Ơn Thiên Triệu Linh Mục Và Tu Sĩ.
Chúa Giêsu quả
là Vị Mục Tử Nhân Lành vì Ngài biết-chăm sóc-bảo vệ-và sẳn sàng hy sinh mạng
sống mình để cho chiên được sống và sống dồi dào.
Xin Chúa ban
cho quý Linh Mục Tu Sĩ luôn trung thành và nhiệt tâm với ơn gọi và sứ vụ Chúa
trao ban; ta cũng nguyện cầu cho mỗi người chúng ta luôn là chiên ngoan của
Chúa qua việc lắng nghe và hăng hái bước theo sự hướng dẫn của Chúa Giêsu Phục
sinh, vị mục tử nhân lành.
Tin
Mừng chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu đã khắc họa đậm nét bức chân dung đích thực
của người mục tử nhân lành. Chân dung ấy đã được Chúa Giêsu chấm phá bằng những
đường nét hết sức tinh tế và sống động như: “hy sinh” (x. Ga 10,11); “hiểu
biết” (x. Ga 10,14); “quan tâm lo lắng” (x. Ga 10, 10); “thao thức tìm kiếm”…
Trong
nhiều đường nét tinh tế ấy, nếu chiêm ngắm kỹ, ta sẽ bắt gặp hai đường nét chủ
đạo, làm nên cái hồn của bức chân dung người Mục Tử Nhân Lành. Hai nét chủ đạo
ấy là: “biết” và “hy sinh”.
- Biết chiên: Để
trở nên người mục tử nhân lành, trước hết phải “biết” rõ chiên
mình: Biết từng con chiên một trong đàn. Biết khi nào chiên đói để cho ăn; khi
nào chiên khát để cho uống. Biết con chiên nào lạc đàn để tìm về; con nào gặp
nguy hiểm để tiếp cứu. Hơn thế nữa, người mục tử còn phải biết cảm thương những
con chiên đang trong tình trạng mệt mỏi để dắt dìu và tận tâm yêu mến lo lắng
những con chiên bị bệnh tật để tìm cách chữa trị…
- Hy sinh: Có
thể nói hy sinh chính là nét nổi bậc thứ hai làm nên cái hồn của bức chân dung
người mục tử nhân lành. Sức hấp dẫn và lôi cuốn nơi bức chân dung người mục tử
chính là “hy sinh” cho đoàn chiên: Hy sinh sức khỏe, thời giờ để đi tìm đồng cỏ
xanh tốt; ra sức khai thác nguồn nước mát trong lành cho chiên uống no thỏa.
Không quản khó nhọc để tắm rửa cho chiên được sạch sẽ; không ngần ngại thức
khuya dậy sớm để đưa chiên đi ăn và tối đưa chiên về nghỉ ngơi. Sẵn sàng hy
sinh giấc ngủ để canh giữ cho đoàn chiên được an giấc. Trên hết người mục tử
nhân lành còn phải anh dũng dám liều mạng sống mình chống lại sói dữ và kẻ trộm
để bảo vệ cho đàn chiên được sống và sống dồi dào. (x. Ga 10, 16).
Chúa
Giêsu không chỉ khắc họa chân dung tuyệt mỹ về người mục tử nhân lành bằng lời
nói suông, bằng những nét vẽ vô hồn. Nhưng Người còn khắc họa bức chân dung ấy
bằng chính đời sống trong suốt ba năm rao giảng Tin mừng, mà đỉnh cao là cái
chết đau thương trên thập giá. Trên đỉnh cao thập giá, Chúa Giêsu đã sẵn sàng
đổ hết máu và nước mình ra hầu hoàn thiện nét vẽ cuối cùng làm nên bức chân
dung mục tử không thể hoàn hảo hơn. Vì thế, Ngài không ngần ngại tự xưng mình
là đấng Mục Tử Nhân Lành, chẳng những cho dân Israel mà cho toàn thể
nhân loại ( x Ga 10,11-16). “Tôi chính là mục tử nhân lành, mục tử nhân
lành hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên” (Ga 10,11). “Tôi chính
là mục tử nhân lành, Tôi biết chiên của Tôi và chiên Tôi biết Tôi” (Ga
10, 15). “Để nhờ danh Người mà chúng ta được ơn cứu độ” (x.
Cvtđ 4, 12).
Hiểu
theo một nghĩa nào đó, thì cha mẹ cũng chính là mục tử nhân lành nơi gia đình
và là chủ chăn của con cái mình. Vì thế, cha mẹ cũng được kêu gọi trở nên
người mục tử nhân lành theo mẫu gương của Chúa Giêsu.
Xin cho bậc làm cha mẹ biết quan tâm lắng nghe,
tìm hiểu con cái để nhận ra tình trạng, tâm tư, nguyện vọng thầm kín…của chúng
mà chia sẻ, chăm sóc và hướng dẫn chúng kịp thời. Biết kiến tạo gia đình mình
trở thành mái ấm yêu thương hiệp nhất trong Chúa. Biết sẵn sàng hy sinh bảo vệ
con cái mình khỏi sa vào lưới ba thù: xác thịt, thế gian, ma quỷ. Nhất là
xin cho những bậc làm cha mẹ cũng biết hy sinh quảng đại dâng hiến những người
con ưu tú của mình cho Chúa và Giáo hội trong ơn gọi tu trì, cũng như ước mong
có nhiều bạn trẻ mạnh dạn dấn thân đáp lại tiếng Chúa kêu mời. Amen.
SUY NIỆM 2: CHÂN DUNG ĐÍCH THỰC CỦA NGƯỜI MỤC TỬ
Trong
Tin Mừng Chúa Giêsu đã khắc họa lên bức chân dung đích thực của người mục tử
nhân lành bằng nhiều đường nét tinh tế và sống động như: “hy sinh” (x. Ga
10,11); “hiểu biết” (x. Ga 10,14); “quan tâm lo lắng” (x. Ga 10, 10); “thao
thức tìm kiếm”…
Trong nhiều đường nét tinh
tế ấy, nếu chiêm ngắm kỹ, ta sẽ bắt gặp ngay hai đường nét chủ đạo, làm nên cái
hồn của bức chân dung người Mục Tử Nhân Lành mà Tin Mừng hôm nay khắc họa.
Đó là: “biết chiên” và “trao ban” cho chiên
sự sống đời đời.
- Biết chiên: Để
trở nên người mục tử nhân lành, trước hết phải “biết” rõ chiên
mình: Biết từng con chiên một trong đàn. Biết khi nào chiên đói để cho ăn; khi
nào chiên khát để cho uống. Biết con chiên nào lạc đàn để tìm về; con nào gặp
nguy hiểm để tiếp cứu. Hơn thế nữa, người mục tử còn phải biết cảm thương những
con chiên đang trong tình trạng mệt mỏi để dắt dìu và tận tâm yêu mến lo lắng
những con chiên bị bệnh tật để tìm cách chữa trị… Cái
biết của người mục tử nhân lành không theo kiểu cái biết của lý trí
trên danh sách hay số liệu…mà là cái biết của trái tim, của
tình thương. Bởi lẽ chỉ có cái biết trong tình yêu thì mới thấu
hiểu, cảm thông, nâng đỡ, chăm lo cho nhau. Biết bằng yêu
thương thì mới dám sống chết đoàn chiên của mình.
- Trao ban: Có thể nói “trao
ban” sự sống đời đời, chính là nét nổi bậc thứ hai làm nên cái hồn của bức
chân dung người mục tử nhân lành. Sức hấp dẫn và lôi cuốn nơi bức chân dung
người mục tử chính là “trao ban” cho đoàn chiên được sống và sống dồi dào:
trao ban sức khỏe, thời giờ để đi tìm đồng cỏ xanh tốt; ra sức khai thác nguồn
nước mát trong lành cho chiên uống no thỏa. Không quản khó nhọc để tắm rửa cho
chiên được sạch sẽ; không ngần ngại thức khuya dậy sớm để đưa chiên đi ăn và
tối đưa chiên về nghỉ ngơi. Sẵn sàng hy sinh giấc ngủ để canh giữ cho đoàn chiên
được an giấc. Trên hết người mục tử nhân lành còn phải anh dũng dám liều mạng
sống mình chống lại sói dữ và kẻ trộm để bảo vệ cho đàn chiên được sống và sống
dồi dào. (x. Ga 10, 16).
Chúa
Giêsu không chỉ khắc họa chân dung tuyệt mỹ về người mục tử nhân lành bằng lời
nói suông, bằng những nét vẽ vô hồn. Nhưng Người còn thể
hiện bằng chính đời sống trong suốt ba năm rao giảng Tin mừng, mà đỉnh cao
là cái chết đau thương trên thập giá. Trên đỉnh cao thập giá, Chúa Giêsu đã sẵn
sàng đổ hết máu và nước mình ra hầu hoàn thiện nét vẽ cuối cùng làm nên bức
chân dung mục tử không thể hoàn hảo hơn! Vì thế, Ngài không ngần ngại tự xưng
mình là đấng Mục Tử Nhân Lành, chẳng những cho dân Israel mà cho toàn
thể nhân loại ( x Ga 10,11-16). “Tôi chính là mục tử nhân lành, mục tử
nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên” (Ga 10,11). “Tôi
chính là mục tử nhân lành, Tôi biết chiên của Tôi và chiên Tôi biết Tôi” (Ga
10, 15). “Để nhờ danh Người mà chúng ta được ơn cứu độ” (x.
Cvtđ 4, 12).
Phần chúng
ta là chiên của Ngài thì chúng ta cần phải lắng nghe và sẵn
sàng đi theo sự hướng dẫn của Ngài. Tựa như con cái cần nghe lời cha
mẹ thì đoàn chiên cũng cần phải nghe lời Chúa.
Vậy ta nghe lời
Chúa thế nào? Mỗi ngày ta dành bao nhiêu thời giờ để nghe lời Chúa? Khi tham dự
thánh lễ không ta có để tâm nghe và sống lời Chúa không? Hay đi lễ
cho có, cho qua. Nhưng chưa bao giờ ta ước muốn lắng nghe lời Chúa.
Chỉ khi nào ta yêu mến Chúa thật sự, mới hy vọng ta
mới có thể bó đời mình với Chúa và mới nghe theo sự hướng dẫn
của Ngài.
Chúa Nhật này
cũng là dịp đặc biệt để chúng ta cầu nguyện cho ơn thiên triệu, xin
cho có nhiều người dâng hiến đời mình cho Chúa và Giáo Hội. Cầu xin cho Giáo
hội có nhiều linh mục giống Chúa Giêsu mục tử nhân lành.
Cầu xin cho mỗi người trong chúng ta thật sự là
chiên ngoan của Chúa qua việc tích cực lắng nghe lời Chúa chỉ dạy, gắn bó mật
thiết đời mình với Chúa và can đảm bước theo con đường Chúa đã đi
qua. Amen.
SUY NIỆM 3: LINH MỤC - NGƯỜI MỤC TỬ NHÂN LÀNH
“Công cuộc canh tân Hội Thánh cần được bắt đầu từ hàng
Linh mục, vì thế, ước mong các Giám mục và Linh mục Việt Nam không chỉ là người
quản trị giỏi, nhưng trước hết là người của Chúa và là những mục tử nhân lành”.
(Sứ điệp Đại hội Dân Chúa Việt Nam 2010, số 5). Xin cho các vị chủ chăn trong
Hội Thánh là những chủ chăn đích thực như lòng Chúa mong ước, nhờ thế Hội Thánh
Chúa được canh tân mỗi ngày nên tốt đẹp hơn.
Nhờ
bí tích truyền chức, linh mục trở nên “Alter Christus” và được tham dự vào
đức ái mục tử, tự hiến bản thân mình để phục vụ Hội Thánh theo gương hiến thân
của Đức Kitô.
Như
Đức Kitô đã cảm thương với dân chúng khi nhọc mệt, đuối sức (
x. Mt 9, 35-36; Ga 6, 15). Linh mục cũng phải biểu lộ lòng cảm thương của mình
cách chân thành và cụ thể đối với mọi người mà mình gặp gỡ “anh em hãy
vui với người vui, khóc với người khóc.” (Rm 12, 15).
Như
Đức Kitô đã yêu mến những con chiên lạc đàn và vui mừng khi
tìm gặp (x. Mt 18, 12-14; Ga 8,11). Linh mục cũng phải tìm đến những ngưuời
đang sống trong cô đơn thất vọng; những người tội lỗi, nhất là những người
không mấy cảm tình với Giáo Hội…, vì họ cũng là đối tượng của lòng thương xót
Thiên Chúa. “Con Người đến để tìm và cứu chữa những gì đã hư mất.” (Lc
19, 10).
Như
Đức Kitô hằng biết rõ và gọi tên từng người một (x. Ga 10, 3).
Linh mục phải nỗ lực quan tâm và phục vụ từng người trong Họ đạo mình, không
loại trừ một ai.
Như
Đức Kitô đã hy sinh hiến thân vì tình yêu nhân loại (x. Ga 10,
15). Linh mục cũng hãy yêu thương chăm sóc cộng đoàn mà Chúa trao phó. Người
mục tử nhân lành không chỉ dẫn chiên đến đồng cỏ xanh tươi và suối mát (x. Tv
23, 22), mà còn phải nuôi dưỡng đàn chiên bằng chính sự sống mình
qua việc hiến tế theo gương Chúa Giêsu (x. Ga 6, 56). Để có thể nói được
như Chúa Giêsu đã nói: “Ta đến để chiên được sống và sống dồi dào”.
(Ga 10,10).
Như
ngọn nến cháy hao mòn theo tháng ngày để chiếu giãi ánh sáng; như hạt lúa mục
nát để phát sinh sự sống mới, Linh mục cũng phải chấp nhận tiêu hao đời mình
từng giây phút để phục vụ cộng đoàn dân Chúa. Người Linh mục giống Đức Kitô thì
không trách khỏi qui luật “vượt qua” chết để được sống (x. Ga 12, 25). Chính
thánh Phanxicô Assisi cảm nghiệm quy luật này và đã thốt lên những lời nghịch
lý trong bài ca bất hủ: “Chính lúc hiến thân là khi được nhận lãnh…
Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”. Trên hết để thực hiện
được vai trò người mục tử nhân lành, Linh mục phải có Đức Ái Mục Tử vì đó là
nguyên lý và động lực thúc đẩy Linh mục sống xứng danh vai trò mục tử của mình.
Lạy Chúa Giêsu là mục tử tối cao, chúng con là những Linh
mục bước theo Chúa trong vai trò người mục tử.
Xin cho trái tim chúng con thuộc thuộc về Chúa và thuộc
về mọi người. Xin cho trái tim chúng con biết yêu bằng tình yêu hiến
dâng. Xin
cho trái tim chúng con mở rộng đủ lớn để chứa mọi người và từng người một. Xin cho chúng con có trái tim
của Chúa để con say mê Chúa và say mê con người. Xin cho chúng con luôn yêu Chúa, vì khi yêu Chúa chúng
con mới sẵn sàng hy sinh đời mình bảo vệ đoàn chiên và dẫn đưa đoàn chiên đến
với Chúa là nguồn sống đích thực. Amen.
SUY NIỆM 4:
Hàng năm GH
dành ngày Chúa Nhật thứ 4 Phục Sinh để suy tôn Chúa Giêsu vị Mục Tử
tối cao. Sứ điệp Lời Chúa cho chúng ta biết: Chúa Giêsu sống lại, Ngài là Mục
tử nhân lành, Ngài biết rất rõ từng người chúng ta là chiên của Ngài, Ngài
chăm sóc, gìn giữ và ban cho chúng ta sự sống dồi dào.
Hôm nay cũng là
ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu Linh mục và Tu sĩ, chúng ta sốt sắng hiệp
dâng Thánh Lễ. Xin Chúa ban cho nhiều bạn trẻ quảng đại đáp lại tiếng
Chúa sống ơn gọi Linh mục và Tu sĩ. Nhất là xin cho mỗi người chúng ta trở nên
chiên ngoan của Chúa, biết nghe tiếng Chúa, sẵn sàng dấn thân làm chứng
cho tình yêu Chúa trong cuộc sống hàng ngày.
Tin Mừng chúng
ta vừa nghe vẽ nên hai nét cơ bản tạo nên chân dung của người mục tử nhân lành,
đó là: biết chiên và hy sinh mạng sống vì chiên.
1. Biết chiên: cái
biết ấy không chỉ là sự hiểu biết về kiến thức trên bàn giấy mà
là cái biết của con tim, cái biết của tình yêu hai chiều ““Tôi
biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi.” Chỉ có cái biết ấy,
người ta mới có thể thấu hiểu, cảm thông, nâng đỡ và quan tâm chăm lo cho nhau.
2. Hy
sinh vì chiên: Cha ông ta thường nói: “Mạng sống hơn đống
vàng". Vì thế, ai cũng sợ chết. Được sống lâu sống khỏe là mong ước
lớn nhất của con người. Tuy nhiên nếu chỉ sống lâu và khỏe về thể chất thì
chưa đủ, điều quan trọng nhất vẫn là sống sao cho có giá trị và ý nghĩa.
Tin Mừng
cho thấy có 2 lối sống tương phản: Người làm thuê vì chỉ
nhắm đến lối sống thể xác và vị kỷ nên sẵn sàng chạy bỏ chiên miễn sao bảo
toàn được bản thân mình. Còn người mục tử nhân lành thì sẵn sàng hy
sinh, ngay cả mạng sống mình để bảo vệ, chăm sóc cho chiên được sống và sống
dồi dào.
Chúa
Giêsu đã tự xưng mình là Mục Tử Nhân Lành bởi Ngài không sống cho mình mà
sống vì mọi người, đã sẵn sàng hy sinh mạng sống mình để cứu
độ nhân loại với mong muốn mọi người được hạnh phúc đời này lẫn đời
Qua bí tích rửa tội, mọi người được tham dự sứ vụ mục tử
của Chúa Giêsu. Thế nên, mỗi người đều được mời gọi tiếp bước Chúa Giêsu mục tử
nhân lành: Biết quan tâm tìm hiểu và phục vụ mọi người nhất là những ai
Chúa trao phó cho chúng ta chăm sóc. Và nếu đòi buộc phải
hy sinh mạng sống mình để bảo vệ gia đình, GH nhất là con cái
mình khỏi những sức mạnh của sự dữ thì cũng phải can đảm bảo vệ.
SUY NIỆM
5:
Tin Mừng hôm
nay, Chúa Giêsu nói về cửa chuồng chiên. Nhưng cửa này không
phải là vật dụng bằng gỗ hay đá mà là chính bản thân Ngài. Ngài
tự ví mình là cửa chuồng chiên vì muốn nói lên tình yêu Ngài dành cho
đàn chiên. Ngài là cửa chuồng chiên nên Ngài luôn bảo
vệ cho chiên được nghỉ ngơi an toàn. Ngăn chặn sói rừng vào sát hại
chiên cũng như không để cho kẻ trộm cướp vào bắt chiên.
Đức
Kitô còn đưa ra hai hình ảnh trái ngược, người chăn chiên nhân
lành, và người chăn chiên thuê mướn.
Người chăn
chiên nhân lành, ngày đêm
chăm sóc, bảo vệ đàn chiên, dẫn chúng đến nguồn nước trong lành, đồng cỏ xanh
tươi. Người chăn chiên nhân lành luôn sẵn sàng bảo vệ đàn chiên khỏi bị
thú dữ sát hại và anh dũng dấn thân vào chốn nguy hiểm để bảo vệ cho
đàn chiên được sống dồi dào. Mục tử nhân lành còn biết
rõ từng con chiên và chấp nhận mang lấy mùi chiên, hiểu biết và
gọi đúng tên từng con chiên. Ngược lại chiên ngoan cũng nhận ra bóng dáng và
tiếng gọi của chủ mình mà nghe theo.
Qua cuộc tử nạn
và phục sinh của Đức Kitô minh chứng cho một tình yêu vĩ đại mà Đức
Kitô, mục tử nhân lành dành cho chúng ta là đàn chiên của Người.
Vì là cửa
chuồng chiên nên Đức Kitô
để cho chúng ta có quyền tự do lựa chọn. Những ai tin yêu, chọn bước theo Ngài
thì sẽ đón nhận được tình yêu hy hiến của Ngài. Ngược lại những ai
chọn theo ý riêng mình thì không bao giờ đón nhận được tình yêu hy sinh của
Người.
Ai chọn yêu mến
và tin theo Đức Kitô sẽ không mất gì cả mà còn nhận được nhiều ơn phúc của
Chúa ban tặng. Cuộc sống họ trở nên phong phú, tinh thần thảnh thơi, tâm tư
thoải mái và luôn sống trong vui, ngay cả khi gặp gian nan thử thách.
Chuồng chiên chỉ bảo vệ cho những ai yêu mến, tín trung còn
những kẻ bất tín thì chuồng chiên không thể bảo vệ được. Vì lòng nhân lành,
Chúa Kitô đã sẵn sàng mở cửa chuồng chiên để đón nhận bất cứ ai biết hồi tâm,
thống hối quay trở về cùng đàn chiên Người chăn dắt.
Đức Kitô không
chỉ là người gác cửa mà Ngài còn là người đi tìm những con chiên lạc, khi tìm
được thì vui mừng vác trên vai mang về đàn (x. Lc 15, 5) với mong
sao chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên duy nhất.
Trộm cắp dùng
nhiều hình thức dụ dỗ để bắt chiên; còn sói dữ thì luôn rình rập cắn xé chiên.
Người chăn chiên mướn là người làm thuê, chủ chiên trả công. Nếu người đó không
hoàn thành nhiệm vụ được trao phó; người đó hành động khác chi kẻ trộm cướp hay
sói rừng, trá hình, đội lốt, chăn chiên để cầu lợi, để ngầm cấu xé và cắn phá
chiên.
Chúng ta dâng
lời tạ ơn Đức Kitô, Đấng chăn chiên nhân lành đã yêu thương và hy sinh mạng
sống vì ta. Xin cho chúng ta trở thành chiên ngoan luôn biết nghe lời của
Chúa mà sống hiệp thông với nhau trong tình yêu thương của Chúa. Amen.
SUY NIỆM 6:
CHÚA CHIÊN LÀNH-TIẾNG GỌI DẪN ĐẾN SỰ SỐNG
Những ngày vừa
qua, cả thế giới lại chú ý đến lời kêu gọi mạnh mẽ của Đức Giáo hoàng Lêô XIV: “Hãy
để vũ khí im tiếng!”, hãy dừng chiến tranh, hãy đối thoại, hãy chọn con
đường hòa bình.
Giữa một thế
giới đầy tiếng ồn của vũ khí, quyền lực và xung đột, tiếng nói ấy vang lên như
tiếng của một người mục tử đang gọi đoàn chiên quay về, tránh xa hiểm nguy.
Và thật đẹp,
Lời Chúa hôm nay cũng nói về một tiếng gọi như thế: Tiếng gọi của Chúa Giêsu, Mục Tử Nhân Lành. Người nói: “Tôi đến
để cho chiên được sống và sống dồi dào.” (Ga 10,10)
1. Mục Tử Nhân
Lành, Đấng biết chiên bằng trái tim.
Tin Mừng hôm nay
vẽ nên một hình ảnh rất đẹp: Chúa Giêsu không phải là một nhà lãnh đạo xa cách,
nhưng là một mục tử gần gũi.
Ngài nói: “Tôi
biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi.”
Cái “biết” này
không phải là: biết qua hồ sơ, biết qua con số Nhưng là: biết từng con chiên, biết hoàn cảnh,
nỗi đau, biết cả những yếu đuối thầm kín…Đó là cái biết của trái tim.
Anh chị em thân
mến, trong cuộc đời, ai cũng có lúc cảm thấy: không ai hiểu mình, không ai lắng
nghe mình. Nhưng hôm nay, Chúa nói với ta: Có một Đấng hiểu ta tận đáy lòng – và vẫn yêu ta
Ngài biết ta
không phải để kết án, mà để cứu độ và
nâng đỡ.
2. Mục Tử hy sin, trao ban sự sống.
Điểm khác biệt lớn nhất giữa: người chăn thuê và mục tử
nhân lành
là ở chỗ:
- Người chăn thuê → gặp nguy hiểm thì bỏ chạy
- Mục tử nhân lành → ở lại và hy sinh
Chúa Giêsu không chỉ nói, nhưng đã sống điều đó. Đỉnh cao
của tình yêu mục tử là thập giá:
“Chính Người đã mang lấy tội lỗi chúng ta
vào thân thể Người.” (1Pr 2,24)
Ngài: không trả thù khi bị xúc phạm, không chống lại bằng
bạo lực, nhưng chịu chết để cho ta được
sống. Đó là con đường của mục tử: hy sinh để cứu người khác. Và đó cũng
là lý do Giáo Hội luôn kêu gọi hòa bình. Bởi vì: Bạo lực không bao giờ đem lại sự sống. Chỉ có tình yêu và hy sinh
mới cứu được con người
3. Chúa là “Cửa”, con đường dẫn đến
sự sống.
Chúa Giêsu còn nói một điều rất đặc biệt: “Tôi là cửa
cho chiên.” Hình ảnh này mang một ý nghĩa rất sâu sắc:
- Qua Ngài → ta được an toàn
- Qua Ngài → ta được nuôi dưỡng
- Qua Ngài → ta được tự do và sự sống
Ngược lại, có những “cánh cửa khác”: tiền bạc, danh vọng,
hưởng thụ… Thoạt đầu rất hấp dẫn, nhưng cuối cùng lại dẫn đến: trống rỗng và
mất hướng. Vì thế, đời sống đức tin là một chọn lựa mỗi ngày: Ta bước qua “cửa” nào?
4. Nghe tiếng Chúa, điều kiện để
không lạc đường.
Chúa nói: “Chiên tôi thì nghe tiếng tôi.” Vấn đề
không phải là Chúa không nói, mà là ta
có nghe hay không.
Ngày nay có quá nhiều “tiếng gọi”: mạng xã hội, công
việc, tiền bạc, hưởng thụ…Những tiếng đó dễ làm ta lạc đàn.
Câu chuyện thời sự vừa rồi rất đáng suy nghĩ: Giữa bao
tiếng nói của vũ khí và quyền lực, Đức Giáo hoàng vẫn kiên trì nói một điều “Hãy dừng lại – hãy đối thoại – hãy sống hòa
bình”. Đó chính là tiếng của Tin Mừng. Nhưng đáng tiếc: không phải ai
cũng muốn nghe.
Cũng vậy trong đời sống:
- Chúa mời gọi tha thứ → ta lại muốn trả thù
- Chúa mời gọi hy sinh → ta lại chọn dễ dãi
- Chúa mời gọi cầu nguyện → ta lại bận rộn.
Không nghe tiếng Chúa, con người dễ rơi vào “chiến tranh”
ngay trong gia đình mình.
5. Từ người chiên đến người mục tử.
Chúng ta là
chiên của Chúa. Nhưng đồng thời, chúng ta cũng được mời gọi trở thành “mục tử
nhỏ”.
- Cha mẹ → mục
tử của con cái
- Linh mục →
mục tử của cộng đoàn
- Mỗi Kitô hữu
→ mục tử trong môi trường sống
Một gia đình
hạnh phúc là gia đình có những “mục tử”: biết lắng nghe, biết hy sinh, biết yêu
thương. Một lời nói nhẹ nhàng. Một cử chỉ tha thứ. Một sự quan tâm nhỏ bé, cũng
có thể đem lại “hòa bình” cho cả một gia đình.
6. Lời mời gọi
hôm nay: cầu nguyện và đáp lại tiếng Chúa.
Chúa Nhật IV
Phục Sinh là Ngày cầu cho ơn gọi. Giáo Hội mời gọi chúng ta: cầu cho các linh
mục sống đúng nghĩa mục tử ; cầu cho nhiều bạn trẻ quảng đại đáp lại tiếng
Chúa ; cầu cho các gia đình biết nâng đỡ ơn gọi. Và mỗi người cũng tự hỏi:
Hôm nay Chúa đang gọi tôi điều gì?
Giữa một thế
giới đầy bất an và chia rẽ, Chúa Giêsu, Mục Tử Nhân Lành vẫn đang nói: “Hãy theo Ta, để được sống.”
Ước
gì mỗi người chúng ta: biết lắng nghe tiếng Chúa; trung thành bước theo
Ngài ; và trở thành dấu chỉ của bình an. Để từ gia đình, đến họ đạo, và
lan ra cả thế giới, mọi người được sống và sống dồi dào. Amen.
SUY NIỆM 7: CHÚA
GIÊSU-VỊ MỤC TỬ BIẾT, YÊU VÀ BAN SỰ SỐNG
Trong những ngày qua,
thế giới hướng về những lời kêu gọi hòa bình tha thiết của các vị lãnh đạo tinh
thần trước những xung đột bạo lực. Giữa một thế gian đầy rẫy những tiếng ồn của
vũ khí, của lợi nhuận, và của những lo âu, con người hôm nay hơn bao giờ hết
đang khao khát một người dẫn đường đáng
tin cậy.
Hôm nay, Chúa Nhật IV
Phục Sinh, Giáo hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm Chúa Giêsu dưới một hình ảnh
rất thân thương: Mục Tử Nhân Lành.
Ngài không chỉ là một vị lãnh đạo xa xôi, nhưng là Đấng biết rõ từng con chiên,
là cánh cửa dẫn đến sự sống và là Đấng đã hy sinh mạng sống vì chúng ta.
1.
Chân dung vị Mục Tử: Biết
bằng trái tim, Yêu bằng mạng sống
Tin Mừng hôm nay vẽ nên
chân dung Chúa Giêsu qua hai nét cốt lõi:
- Mục tử
"biết" chiên: Cái "biết" của Chúa không phải là con số
trên giấy tờ, mà là cái biết của tình yêu. Ngài biết tên từng con, biết nỗi đau
thầm kín, biết cơn đói tâm linh và cả những vấp ngã của chúng ta. Giữa 8 tỷ
người, bạn không phải là một con số vô danh; trong ánh mắt Chúa, bạn là duy
nhất và quý giá.
- Mục tử hy
sinh: Khác với "người chăn thuê" chỉ làm vì lợi ích và tháo chạy khi
nguy hiểm, Chúa Giêsu là Mục Tử sẵn sàng ở lại. Đỉnh cao là Thập giá, nơi Ngài
mang lấy tội lỗi chúng ta để chúng ta được chữa lành (như bài đọc II đã nhắc
nhở).
2.
Chúa Giêsu là "Cửa" dẫn đến sự sống dồi dào
Chúa Giêsu khẳng định: "Tôi
là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu".
- Sự bảo
vệ: Cánh cửa ấy ngăn chặn sói dữ và những cám dỗ tinh vi của thế gian như tiền
bạc, danh vọng ảo huyền.
- Sự tự do: Ngài không giam hãm
chúng ta trong luật lệ khắt khe, nhưng mời gọi ta bước ra đồng cỏ xanh tươi để
được nuôi dưỡng.
- Sự sống
dồi dào: Mục đích cuối cùng của Chúa không chỉ là để chúng ta
"tồn tại" qua ngày, mà là để chúng ta có một cuộc sống tràn đầy ý
nghĩa, bình an và hy vọng ngay từ đời này.
3. Phản
hồi của đoàn chiên: Lắng nghe và bước theo
Nếu Chúa là Mục Tử,
chúng ta là chiên. Nhưng liệu chúng ta có là "chiên ngoan"?
- Trong thời đại số,
chúng ta dễ bị lôi cuốn bởi tiếng gọi của mạng xã hội, của lòng ích kỷ và hưởng
thụ. Tiếng Chúa đôi khi trở nên thầm lặng và dễ bị lấn át.
- Bài học
từ bài đọc I: Dân chúng thời Phêrô đã "đau đớn trong lòng" khi nhận ra tiếng Chúa. Đó là sự
hoán cải. Nghe tiếng Chúa là dành thời gian thinh lặng, lắng nghe lương tâm và
can đảm thay đổi những thói quen xấu.
4. Sứ
vụ: Trở nên những "Mục tử nhỏ" cho nhau
Ngày hôm nay cũng là
ngày cầu nguyện cho ơn Thiên triệu. Chúng ta được mời gọi:
- Cầu
nguyện: Cho các linh mục, tu sĩ trở nên những "Alter
Christus" (Đức Kitô khác), biết hy sinh như ngọn nến cháy tiêu hao để
chiếu sáng.
- Thực thi: Mỗi Kitô hữu cũng là một mục
tử trong môi trường sống của mình.
Cha mẹ là mục tử của con
cái (hiểu tâm hồn con thay vì chỉ quan tâm điểm số).
Mỗi chúng ta là mục tử
cho anh chị em mình khi biết dùng lời nói hiền lành để đem lại hòa bình cho một
gia đình đang căng thẳng.
Chúa Giêsu, Mục Tử Nhân
Lành, vẫn đang gọi tên mỗi người chúng ta hôm nay. Ngài không ép buộc, nhưng
tôn trọng tự do của chúng ta trước "Cửa
Chuồng Chiên".
Ước gì mỗi khi tham dự Thánh lễ, chúng ta không chỉ
đi "cho xong", nhưng thực sự lắng nghe tiếng Ngài qua Lời Chúa và
Thánh Thể. Xin cho chúng ta biết nhận ra tiếng Chúa giữa những biến cố cuộc
đời, dám bước theo Ngài trên con đường hiền lành và khiêm nhường, để chính
chúng ta cũng trở thành những dấu chỉ của sự sống dồi dào và bình an cho thế
giới hôm nay. Amen.
SUY NIỆM 8: CHÚA GIÊSU - MỤC TỬ NHÂN LÀNH
(Dành cho
Thiếu nhi)
1. Các con thân mến, cha kể cho các con nghe một câu chuyện
nhỏ: Có một em bé đi siêu thị với mẹ. Vì mải mê nhìn đồ chơi, em bị lạc mất mẹ.
Giữa bao nhiêu người xa lạ, em hoảng sợ và khóc òa lên vì không biết phải đi
theo ai. Nhưng rồi, giữa tiếng ồn ào của đám đông, bỗng có tiếng gọi vang lên: “Con
ơi!”. Ngay lập tức, em nín bặt, quay đầu lại và chạy thật nhanh về phía mẹ.
Tại sao em
nhận ra tiếng mẹ? Vì em
quen tiếng mẹ. Vì mẹ là người yêu em nhất và em thuộc về mẹ.
2. Hôm nay, Chúa
Giêsu cũng nói với chúng ta: “Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta”. Chúa ví
Ngài là Mục Tử (người chăn chiên), còn chúng ta là những chú chiên nhỏ.
- Người mục tử biết
rõ từng con chiên (biết tên, biết tính nết từng bạn).
- Người mục tử dẫn
chiên đến đồng cỏ xanh và dòng nước mát.
- Và đặc biệt:
Người mục tử nhân lành sẵn sàng hy sinh mạng sống để bảo vệ đàn chiên
khỏi sói dữ.
Chúa Giêsu
yêu thương các con như vậy đó! Ngài đã chết trên Thánh giá để bảo vệ chúng ta
khỏi tội lỗi và cái chết.
3. Nhưng các con
ơi, thế giới hôm nay có quá nhiều tiếng ồn làm chúng ta "điếc" tai
linh hồn:
- Tiếng của điện
thoại, game, TikTok hấp dẫn.
- Tiếng rủ rê làm
điều xấu, bỏ lễ, lười học giáo lý.
- Tiếng ích kỷ:
chỉ muốn cho mình, không muốn giúp đỡ ai.
Nếu không
cẩn thận, chúng ta sẽ đi lạc khỏi vòng tay của Chúa và cảm thấy cô đơn, sợ hãi
như em bé lạc mẹ trong siêu thị.
4. Các con biết
không, Chúa không chỉ gọi chúng ta sống tốt, mà Chúa còn đang ghé tai nói nhỏ
với một số bạn trong chúng ta một lời mời gọi rất đặc biệt: “Con ơi, con có
muốn trở thành một Mục Tử giống như Cha không?”.
- Đàn chiên của
Chúa ngày nay rất đông, nhưng lại đang thiếu những người chăn chiên.
- Chúa đang cần
những cánh tay nối dài là các Linh mục để dâng Thánh lễ, tha tội và đem
Chúa đến cho mọi người.
- Chúa đang cần
những tâm hồn quảng đại là các Tu sĩ (các thầy, các sơ) để chăm sóc
người nghèo, dạy dỗ trẻ em và cầu nguyện cho thế giới.
Các con
đừng sợ! Đi tu không phải là mất đi niềm vui, mà là dâng hiến niềm vui nhỏ bé
của mình để nhận lấy niềm vui to lớn của Chúa. Khi các con dâng đời mình cho
Chúa và Giáo hội, các con sẽ trở thành những "người hùng" đem tình
thương đến cho muôn nơi.
5. Để có thể nghe được
tiếng Chúa gọi đi tu hay tiếng Chúa dạy sống tốt, cha đề nghị các con thực hiện
3 điều:
- Cầu nguyện mỗi ngày: Mỗi tối trước khi ngủ, hãy thưa: "Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, xin
cho con được dâng mình cho Chúa để làm Linh mục hay Tu sĩ".
- Tập vâng lời: Vâng lời cha mẹ, thầy cô ngay lập tức là cách tốt nhất để tập vâng nghe
tiếng Chúa.
- Yêu mến Giáo hội: Hãy tích cực giúp lễ, tham gia ca đoàn, học giáo lý thật chăm chỉ. Đó
chính là những bước chân đầu tiên đi theo Chúa.
Các con thân mến, Chúa Giêsu là Mục Tử Nhân Lành, Ngài đang gọi tên từng
bạn ngồi đây. Đừng sợ hãi, hãy mở lòng ra.
Ước mong
sau này, trong số các con đây, sẽ có những bạn nam trở thành Linh mục của Chúa,
những bạn nữ trở thành những nữ tu đạo đức, để tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu
trên trần gian này.
Chúng ta
cùng thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con là chiên nhỏ của Chúa. Xin dạy con biết nghe tiếng
Chúa, và nếu Chúa muốn, xin hãy chọn con đi theo Chúa suốt đời. Amen.”
SUY NIỆM 9: THEO CHÂN ĐỨC KITÔ – VỊ MỤC TỬ NHÂN
LÀNH
Kính thưa quý ông bà và anh chị
em,
Khi nhắc đến Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, chúng ta
không chỉ nhớ đến một vị linh mục đạo hạnh, mà còn nhớ đến một hình ảnh sống
động của “Chúa Chiên Lành” giữa đoàn chiên. Ngài không bỏ chạy khi nguy
hiểm ập đến, nhưng đã chọn ở lại, dùng mạng sống mình để che chở cho giáo dân.
Cuộc đời ngài chính là một bài giảng thực tế nhất về sứ điệp Lời Chúa mà chúng
ta suy tôn hôm nay.
1. Đức Kitô: Cánh Cửa và Mục Tử Đích
Thực (Ga 10,1-10)
Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu không chỉ dùng một mà là hai
hình ảnh để nói về tương quan với chúng ta:
- Ngài là "Cửa" cho chiên ra vào: Đây là
cánh cửa dẫn đến sự an toàn và sự sống dồi dào. Muốn tìm thấy hạnh phúc thật,
ta phải bước qua "cánh cửa" Kitô, cánh cửa của yêu thương và hy sinh.
- Ngài là Mục Tử biết rõ từng con chiên: Thiên
Chúa không yêu chúng ta một cách chung chung hay mơ hồ. Ngài gọi đích danh từng
người, thấu hiểu từng nỗi đau và niềm vui của chúng ta.
Ngược lại với hình ảnh ấy là những “kẻ trộm, kẻ cướp”, đó
là những giá trị ảo, những lối sống ích kỷ chỉ biết tìm lợi ích cá nhân mà bỏ
mặc đoàn chiên.
2. Sự Đáp Trả: "Chúng tôi phải
làm gì?" (Cv 2,14a.36-41)
Trước tình yêu lớn lao của Mục Tử, Bài đọc I cho thấy phản ứng của dân chúng khi nghe Thánh Phêrô
giảng: “Họ đau đớn trong lòng”. Sự đau đớn ấy dẫn đến một câu hỏi mang
tính quyết định: “Chúng tôi phải làm gì?”
Câu trả lời của Giáo hội sơ khai cũng là lời mời gọi cho
chúng ta hôm nay: Sám hối và trở về. Trở về để bước qua cánh cửa là Đức
Kitô. Không có con đường tắt nào dẫn đến sự sống đời đời ngoài con đường vâng
phục và yêu thương mà Ngài đã đi.
3. Cái Giá của Tình Yêu (1Pr
2,20b-25)
Thánh Phêrô trong Bài
đọc II nhắc nhở chúng ta rằng: Mục tử đích thực không phải là người ra lệnh
từ xa, mà là người “lấy chính thân
mình gánh lấy tội lỗi chúng ta”. Ngài đã chịu đau khổ để chữa lành
thương tích cho chúng ta. Đây chính là điểm khác biệt giữa "người chăn
thuê" và "người mục tử": Người chăn thuê làm vì tiền lương, còn
Mục tử làm vì tình yêu đến cùng.
4. Cha Diệp chính là minh chứng sống
động cho Lòng Tin Thác
Nhìn vào cuộc đời Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, ta
thấy sự gặp gỡ kỳ diệu giữa Lời Chúa và thực tại:
- Ngài đã bước qua cánh cửa hy sinh khi chấp nhận bị bắt
thay cho giáo dân.
- Ngài không phải là kẻ chăn thuê, bởi nếu là kẻ chăn
thuê, ngài đã tìm cách thoát thân khi biến cố xảy đến.
- Hôm nay, dù ngài không còn hiện diện hữu hình, nhưng
tinh thần của ngài vẫn đang "nuôi dưỡng" đức tin cho bao tâm hồn tìm
đến với ngài.
5. Lời mời gọi trở thành "mục
tử nhỏ" giữa đời
Chúa Nhật Chúa Chiên Lành không chỉ dành riêng để cầu
nguyện cho các linh mục, tu sĩ, mà còn là lời mời gọi cho mỗi người chúng ta:
- Biết lắng nghe: Giữa tiếng ồn ào của tiền bạc,
danh vọng, chúng ta có đủ thinh lặng để nghe được tiếng Chúa gọi không?
- Dám bước qua “Cửa Kitô”: Sống công bằng, tha thứ
và yêu thương ngay cả khi điều đó làm ta thiệt thòi.
- Trở thành “mục tử nhỏ”:
* Cha mẹ là mục tử dẫn dắt con cái bằng sự hy
sinh.
* Người lớn là mục tử làm gương cho giới trẻ.
* Người mạnh là mục tử nâng đỡ kẻ yếu thế.
* Mẫu gương: Có một người cha nghèo đi làm lụng
cực nhọc cả ngày, tối về vẫn kiên nhẫn ngồi dạy con học. Khi con hỏi: "Cha
mệt sao không nghỉ?", ông trả lời: "Vì cha không muốn con bị
lạc đường". Đó chính là trái tim của một vị mục tử trong gia đình.
Kính thưa cộng đoàn,
Chúa Giêsu, Vị Mục Tử
Nhân Lành vẫn đang gọi tên chúng ta mỗi ngày. Xin nhờ lời chuyển cầu của Cha
Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, cho mỗi chúng ta biết can đảm lắng nghe và bước
theo Ngài.
Ước mong mỗi gia đình,
mỗi Kitô hữu chúng ta cũng trở thành những “mục tử nhỏ”, sẵn sàng hy sinh và
yêu thương để làm sáng danh Chúa giữa lòng đời. Amen.
Thứ hai: Cv 11,1-18; Ga
10,1-10
SUY NIỆM 1:
Đoạn sách Cvtđ hôm nay
ghi lại cuộc đối thoại giữa Phêrô và những người tín hữu gốc Do thái về vấn đề:
có nên mở cửa để tiếp nhận dân ngoại vào ngôi nhà Hội Thánh theo lệnh truyền
của Chúa Giêsu Phục sinh “các con hãy đi giảng dạy muôn dân,
làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ
mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho
đến tận thế.” (Mt 28,19-20); hay là đóng chặt cửa để bảo toàn những giá trị truyền thống?
Với những người tín hữu
gốc Do Thái thì không được vượt ra những luật lệ truyền thống như: vào nhà dân
ngoại, ăn uống những thức ăn bị xem là ô uế; nhất là phải giữ luật cắt bì. Nên
nghe biết sự việc ông Phêrô vào nhà ông Cornêliô là người ngoại ăn uống, giảng
dạy giáo lý và rửa tội cho ông và cả gia đình mà không phải giữ luật cắt bì, đã
làm cho họ khó chịu. Do đó, ngay khi Phêrô đặt chân về Giêrusalem thì họ kéo
đến để phản đối việc làm của Phêrô.
Tuy nhiên, sau khi lắng
nghe Phêrô giải thích về những gì ông làm không phải là do sáng kiến của ông mà
xuất phát từ ý muốn của Thiên Chúa ngang qua hai thị kiến kỳ lạ đã xảy ra với
ông và với ông Cornêliô đã làm cho Phêrô hiểu và xác quyết chắc chắn hơn về ý
định của Chúa: “Thiên Chúa đã ban cho họ cùng một ân huệ như Người đã
ban cho chúng ta”. Sau khi lắng nghe được lời giải thích của Phêrô,
các tín hữu ở Giêrusalem đã bị thuyết phục và họ đã thay đổi cái nhìn về dân
ngoại. Họ cũng nhận ra rằng: “Thiên Chúa cũng ban cho dân ngoại ơn sám
hối để được sự sống”.
Bế quan tỏa cảng để gìn
giữ và bảo toàn hay là mở rộng cửa tiếp nhận cái mới làm phong phú và hoàn
thiện hơn, đó luôn là vấn đề được đặt ra để bàn luận không những trên bình diện
vĩ mô mà còn là vấn đề được đặt ra trên bình diện vi mô, cụ thể nơi các gia
đình hôm nay, khi mà quyền tự do chính kiến nơi mỗi người được tôn trọng.
Xin cho các thành viên
trong gia hiểu rằng: gìn giữ bảo vệ những giá trị truyền thống cha ông là điều
đáng trân quý, nhưng nếu vì tục lệ truyền thống mà gây bất ổn xã hội và làm tổn
hại đến môi trường thì cũng nên xét lại. Nhất là với các gia đình Công giáo khi
có những bất đồng quan điểm xảy ra thì phải biết lấy Lời Chúa và đường hướng
của GH làm nền tảng để giải quyết vấn đề. Bởi ta tin rằng Lời Chúa là chân lý
và Giáo huấn GH là lẽ khôn ngoan hướng dẫn chúng ta. Đó cũng là chọn lựa khôn
ngoan của thánh Phêrô: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người
phàm.” (Cv 5,32).
SUY NIỆM 2:
Đoạn Tin Mừng hôm nay,
Chúa Giêsu cho chúng ta biết những đặc tính cần phải có của người mục tử nhân
lành:
1. Dám hy sinh mạng sống
mình: Đoàn chiên không phải là của người chăn thuê, nên
anh ta không thiết tha gì để bảo vệ đàn chiên. Mục tiêu của người chăn thuê
thường là vì lợi ích của bản thân. Vì thế, khi có sói dữ tấn công, anh ta
sẽ dễ dàng bỏ mặt chiên cho sói dữ ăn thịt, còn anh ta thì sẽ tìm cách thoát
thân. Còn mục tử chân chính thì sẵn sàng đứng ra chống lại sói dữ để bảo vệ đàn
chiên mình, dù phải đối mặt với hiểm nguy, cho dù phải hy sinh mạng sống.
2. Biết chiên của mình: Cái biết của người
mục tử không chỉ là cái biết chung chung về số lượng, hời hợt về tên gọi. Nhưng
mục tử đích thực phải biết chất lượng: tình trạng, nhu cầu, ước muốn sâu xa của
chiên mình. Cái biết đến độ đồng thân, đồng phận, đồng cảm và đồng tử với chiên
mình.
3. Quan tâm và đưa những
chiên xa lạc về đàn: Vì chiên cần có chủ chiên nên
chủ chiên phải quy tụ chiên vào cùng một đàn để chăm sóc, bảo vệ và nuôi dưỡng
cho chúng được sống và sống dồi dào. Do đó chủ chiên không chỉ quan tâm đến
chiên trong đàn mà còn tìm cách để đem các chiên ngoài đàn về, để chúng được
hiệp nhất trong cùng một đàn dưới sự hướng dẫn của cùng một chủ chiên.
Xin cho các vị chủ chăn
sẵn sàng hy sinh không chỉ thời giờ sức khoẻ mà cả mạng sống để phục vụ cho
cộng đoàn được lớn mạnh trong sức sống của Chúa.
Xin cho các vị chủ chăn
cũng khiêm tốn tìm hiểu và lắng nghe những tâm tư nguyện vọng chính đáng của
mọi người trong cộng đoàn mà sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu ấy bằng tình thương
của người mục tử nhân từ. Đừng vì tự cao, tự ái mà bỏ ngoài tai những đòi hỏi,
nhu cầu chính đáng của giáo dân. Xin cho các vị chủ chăn ngoài việc
lo lắng chăm sóc cho đàn chiên mình cho tốt, còn phải quan tâm đến những con
chiên ngoài đàn. Tìm mọi cách để dẫn đưa họ về với Chúa, hầu họ cũng được sống
trong tình thương chăm sóc của tình yêu Chúa.
SUY NIỆM 3:
Tin Mừng hôm nay, Chúa
Giêsu nói về cửa chuồng chiên. Nhưng cửa này không phải là vật dụng
bằng gỗ hay đá mà là chính bản thân Ngài. Ngài tự ví mình là cửa
chuồng chiên vì muốn nói lên tình yêu Ngài dành cho đàn chiên. Ngài
là cửa chuồng chiên nên Ngài luôn bảo
vệ cho chiên được nghỉ ngơi an toàn. Ngăn chặn sói rừng vào sát hại
chiên cũng như không để cho kẻ trộm cướp vào bắt chiên.
Đức Kitô còn đưa ra hai
hình ảnh trái ngược, người chăn chiên nhân lành, và người chăn chiên thuê
mướn.
Người chăn chiên nhân lành, ngày đêm chăm sóc,
bảo vệ đàn chiên, dẫn chúng đến nguồn nước trong lành, đồng cỏ xanh tươi. Người
chăn chiên nhân lành luôn sẵn sàng bảo vệ đàn chiên khỏi bị thú dữ sát hại
và anh dũng dấn thân vào chốn nguy hiểm để bảo vệ cho đàn
chiên được sống dồi dào. Mục tử nhân lành còn biết
rõ từng con chiên và chấp nhận mang lấy mùi chiên, hiểu biết và
gọi đúng tên từng con chiên. Ngược lại chiên ngoan cũng nhận ra bóng dáng và
tiếng gọi của chủ mình mà nghe theo.
Qua cuộc tử nạn và phục sinh của Đức
Kitô minh chứng cho một tình yêu vĩ đại mà Đức Kitô, mục tử nhân lành
dành cho chúng ta là đàn chiên của Người.
Vì là cửa chuồng chiên nên Đức Kitô để cho
chúng ta có quyền tự do lựa chọn. Những ai tin yêu, chọn bước theo Ngài thì
sẽ đón nhận được tình yêu hy hiến của Ngài. Ngược lại những ai chọn
theo ý riêng mình thì không bao giờ đón nhận được tình yêu hy sinh của
Người.
Ai chọn yêu mến và tin theo Đức Kitô
sẽ không mất gì cả mà còn nhận được nhiều ơn phúc của Chúa ban tặng. Cuộc
sống họ trở nên phong phú, tinh thần thảnh thơi, tâm tư thoải mái và luôn sống
trong vui, ngay cả khi gặp gian nan thử thách.
Chuồng chiên chỉ bảo vệ cho
những ai yêu mến, tín trung còn những kẻ bất tín thì chuồng chiên không thể bảo
vệ được. Vì lòng nhân lành, Chúa Kitô đã sẵn sàng mở cửa chuồng chiên để đón
nhận bất cứ ai biết hồi tâm, thống hối quay trở về cùng đàn chiên Người chăn
dắt.
Đức Kitô không chỉ là người gác cửa
mà Ngài còn là người đi tìm những con chiên lạc, khi tìm được thì vui mừng vác
trên vai mang về đàn (x. Lc 15,5) với mong sao chỉ có một đàn chiên
và một chủ chiên duy nhất.
Trộm cắp dùng nhiều hình thức dụ dỗ
để bắt chiên; còn sói dữ thì luôn rình rập cắn xé chiên. Người chăn chiên mướn
là người làm thuê, chủ chiên trả công. Nếu người đó không hoàn thành nhiệm vụ
được trao phó; người đó hành động khác chi kẻ trộm cướp hay sói rừng, trá hình,
đội lốt, chăn chiên để cầu lợi, để ngầm cấu xé và cắn phá chiên.
Chúng ta dâng lời tạ ơn Đức Kitô,
Đấng chăn chiên nhân lành đã yêu thương và hy sinh mạng sống vì ta. Xin
cho chúng ta trở thành chiên ngoan luôn biết nghe lời của Chúa mà sống hiệp
thông với nhau trong tình yêu thương của Chúa. Amen.
Thứ ba: Cv 11,19-26; Ga 10,22-30.
SUY NIỆM 1:
Đoạn sách Cvtđ hôm nay
gồm 2 phần:
- Phần thứ nhất: ghi
lại thành quả tốt đẹp của GH sau những ngày tháng lo sợ chạy trốn vì cuộc bách
hại xảy ra nhân sự kiện phó tế Stêphanô tử đạo tại Giêrusalem. Các môn đệ phải
tản mác đến các miền Phênixi, đảo Syp và thành Antiôkhia để trú ẩn.
Tại những nơi đây, các môn đệ chỉ rao giảng cho người Do Thái. Tuy
nhiên trong đó, có mấy người gốc Syp và Kyrênê, những người này, khi đến
Antiôkhia, đã mạnh dạn loan Tin mừng của Chúa cho người Hy-lạp nữa. Kết quả
thật bất ngờ là “một số đông đã tin và trở lại cùng Chúa”. Nhờ
đâu mà có nhiều người ngoại giáo tin theo Chúa như vậy? Thánh Luca cho biết đó
là nhờ“bàn tay Chúa ở với họ”. Nghĩa là nhờ vào sức mạnh và quyền năng
Thiên Chúa phù giúp họ. Chính tại Antiokhia mà lần đầu tiên các môn đệ được gọi
là Kitô hữu.
- Phần thứ hai: Đề
cao đến tình hiệp thông trong Hội Thánh. Khi nghe biết một số đông dân ngoại
tại Antiokhia tin theo đạo, thì các vị hữu trách của Hội Thánh tại Giêrusalem
cử ông Barnaba đến để chia sẻ niềm vui và củng cố đức tin cho các tín hữu ở đây
bằng cách khuyên nhủ họ hãy bền lòng gắn bó với Chúa. Rồi ông lên đường đi
Tácxô để tìm Saolô về để cộng tác với ngài lo cho giáo đoàn tại đây. Nhờ đó,
giáo đoàn Antiokhia càng thêm lớn mạnh. Qua đây cho thấy sự quan
tâm, nâng đỡ kịp thời của Hội Thánh. Điều này làm nổi bậc lên tính phổ quát và
tình hiệp thông của GH Công giáo.
Với cái nhìn của con người thì sự
kiện Hội Thánh bị bách hại gắt gao ở Giêrusalem là nỗi đau, nhưng với Thiên
Chúa thì đó lại là cơ hội để Tin mừng đến được với dân ngoại. Nhất
là trong mọi hoàn cảnh GH luôn biết quan tâm tìm hiểu để nâng đỡ cách tốt nhất
trong tình hiệp thông.
Xin cho chúng ta luôn biết phó thác
vào đường lối khôn ngoan của Chúa và tin tưởng vào đường hướng của GH. Phần ta
hãy luôn biết tận dụng mọi hoàn cảnh để làm chứng tin mừng của Chúa theo gương
các tín hữu Hy Lạp hóa theo tinh thần nhiệt tâm của thánh Barnaba và
Phaolô: “Hãy rao giảng Lời Chúa, hãy
lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận
tiện; hãy biện bác, hãy khiển
trách, hãy khuyên lơn, hết tình đại lượng
và dụng tâm dạy dỗ.” (2Tim 4,2).
SUY NIỆM 2:
Nhờ bí tích rửa tội,
chúng ta trở thành chiên của Chúa. Xin cho chúng ta hết lòng tin kính, vâng lời
và sẵn sàng đi theo sự hướng dẫn của Chúa Giêsu, vị chủ chăn tốt lành chúng ta.
Dù được nghe những lời
giảng dạy và chứng kiến biết bao phép lạ Chúa làm, nhưng những người Do Thái,
cách riêng Biệt Phái và Kinh Sư vẫn không tin nhận Chúa Giêsu là Đấng Thiên
Sai. Do đâu mà họ không tin nhận và nghe theo lời của Chúa Giêsu?
Tin mừng hôm nay, Chúa
Giêsu cho biết, vì họ không thuộc về đoàn chiên của Ngài. Theo nghĩa phổ quát,
mọi người đều là chiên của Chúa, vì mọi người đều được Chúa yêu thương dựng nên
và hy sinh đổ máu cứu chuộc. Tuy nhiên để trở thành chiên thật thuộc về Chúa
thì cần phải thỏa mãn hai điều kiện:
1. Tin nhận Chúa và chịu
phép rửa tội: Giáo lý Công giáo dạy, nhờ bí tích rửa tội, chúng ta được thanh
tẩy mọi tội lỗi, được làm con Chúa, được gia nhập vào đoàn chiên Chúa là Giáo
Hội.
2. Phải nghe theo lời
Chúa là mục tử tối cao, cũng như tuân giữ mọi điều răn và luật lệ Chúa truyền
dạy với tình yêu mến : Nhiều người Do Thái đã không
thành tâm yêu mến Chúa, nên cho dù Chúa Giêsu ở giữa họ, có giảng dạy và làm
nhiều phép lạ, họ vẫn không tin nhận, vì họ không thuộc đoàn chiên đích thực
của Chúa.
Như Chúa Giêsu đã nói:
chỉ những ai thuộc đoàn chiên Chúa, thì mới được Chúa gìn giữ và ban cho sự
sống đời đời .
Xin cho chúng ta biết tin kính và
yêu mến Chúa Giêsu, đấng chăn chiên tốt lành của chúng ta. Đồng thời cho chúng
ta luôn là những con chiên ngoan hiền của Chúa. Biết lắng nghe, vâng lời và thi
hành điều Chúa chỉ dạy với tình con thảo.
Thứ tư: Cv 12,24-13,5a; Ga 12,44-50
Nhớ Thánh Ca-ta-ri-na Si-ê-na, trinh
nữ, tiến sĩ Hội Thánh.
SUY NIỆM 1:
Như chúng ta đã biết, sách Cvtđ ghi
lại những sự việc xảy ra trong GH lúc ban đầu, cũng như trình bày về những hoạt
động truyền giáo của các tông đồ, khởi đi từ “Giêrusalem trong khắp miền
Giuđê, Sammari và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1,8), nhằm thực thi
lệnh truyền của Chúa Giêsu phục sinh, trước khi Người lên trời.
Dựa vào nội dung những gì thánh Luca
ghi lại, người ta có thể chia sách Cvtđ ra làm 2 phần (hoặc 3 phần) tùy theo
cái nhìn của đọc giả.
A. Nếu chia sách Cvtđ thành 2 phần
thì:
1. Phần thứ nhất (chương 1- 12): nói về
những sự việc xảy ra của GH và nhấn mạnh đến sứ vụ làm chứng của các tông đồ
tại Giêrusalem và những vùng phụ cận như: Samaria (8,4-40), Xêdarê Duyên Hải
(10,1-11,18), Phênixi và Sýp (11,19, và Antiokhia (11,22-26).
2. Phần thứ hai (chương 13-28):
nói nhiều về hoạt động của thánh Phaolô và nhấn mạnh đến 3 cuộc hành trình
truyền giáo của ngài:
- Hành trình truyền giáo thứ nhất
(13,4-14,28): bắt đầu từ An-ti-ô-khi-a miền Xy-ri-a đến tận Lý-tra, Đéc-bê, rồi
trở về An-ti-ô-khi-a (13,1) vào những năm 46-48.
- Hành trình truyền giáo thứ hai
(15,36-18,22): Bắt đầu từ An-ti-ô-khi-a miền Xy-ri-a đến A-thê-na (Hy lạp),
Cô-rin-tô qua Giê-ru-sa-lem và về An-ti-ô-khi-a (18, 22) vào những năm 49 đến
52.
- Hành trình truyền giáo thứ ba
(18,23-21,16): Bắt đầu từ An-ti-ô-khi-a đến Cô-rin-tô, rồi về Giê-ru-sa-lem
(20,1-6).
Nói đến sự kiện Phaolô bắt giam tại
Giêrusalem, rồi tại Xê-da-rê Duyên Hải (21,17-26,32), nhưng vì Phaolô có quốc
tịch Rôma (16,21.37) nên ngài được bị dẫn độ về Rôma xét xử. (Lm. Tanila Hoàng
Đắc Ánh, OP).
B. Còn nếu chia sách Cvtđ làm 3 phần
thì:
1. Phần thứ nhất (1-7): Phêrô và
các tông đồ làm chứng tại Giêrusalem.
2. Phần thứ hai (8-12): Phêrô và
các phó tế làm chứng tại Giuđê và Sammaria.
3. Phần thứ ba (13-28): Phaolô
làm chứng cho dân ngoại đến tận cùng thế giới (Rôma), mà theo cái nhìn thời bấy
giờ thì đế quốc Rôma được coi là hùng mạnh nhất trên trái đất, nên cũng xem như
là tận cùng của thế giới. (Lm. Phêrô Lê Tấn Lợi).
Khi nhìn lại như thế, ta dễ dàng
nhận ra bài đọc 1 được trích đọc trong thánh lễ hôm nay được ví như là bản lề
hay cánh cửa thời gian để khép lại giai đoạn thứ nhất trong sứ vụ “làm chứng”
của các tông đồ tại Giêrusalem, Giuđê và Sammaria và mở ra giai đoạn thứ hai
trong sứ vụ “làm chứng” cho Chúa đến tận cùng thế giới, theo như lệnh truyền
của Chúa Giêsu phục sinh.
- Giai đoạn 1 (1- 12, 25): Nhìn lại giai đoạn
đầu, các tông đồ chỉ làm chứng cho Chúa tại Giêrusalem và những vùng phụ cận thôi,
nhưng các ngài cũng gặp rất nhiều khó khăn thử thách. Tuy nhiên với lòng nhiệt
thành và với ơn ban của Thánh Thần nên lời Chúa vẫn được lớn lên (6,7), phát
triển (12, 24), lan tràn và vững mạnh (19,20) cả về số lượng lẫn chất lượng.
Nghĩa là Tin Mừng của Chúa đã được nhiều người đón nhận và niềm tin của các tín
hữu ngày thêm vững mạnh. GH có thêm 3000 người theo đạo (2, 41), số người đàn
ông hôm sau thêm đến 5000 người (4,4), số môn đệ thêm đông (6,1), thêm rất
nhiều (6,7). Rất đông người Do Thái và Hylạp tin theo đạo (14, 1).
- Giai đoạn 2 (13, 1-5tt): Bắt đầu sứ vụ làm
chứng cho Chúa đến tận cùng thế giới. Đây sẽ là giai đoạn mà các tông đồ sẽ đối
mặt với nhiều gian nan thử thách vì phải “làm chứng” cho dân ngoại, nơi những
miền xa xôi.
Ý thức được điều đó nên trước khi
bắt đầu cuộc hành trình truyền giáo đầy khó khăn này, cộng đoàn An-ti-ô-khi-a
đã họp nhau trong bầu khí phụng vụ thờ phượng Chúa, để lắng nghe lời Chúa hướng
dẫn. Và khi ấy họ đã nghe được tiếng Thánh Thần phán: “Hãy dành Barnaba
và Saolô cho Ta, để lo công việc Ta đã kêu gọi hai người ấy”.
Cộng đoàn Antiokhia hiểu rằng sứ vụ
truyền giáo của Phaolô và Barnaba trong chuyến hành trình thứ nhất này sẽ phải
gặp nhiều gian khổ, nên họ đã hiệp thông cầu nguyện và phó dâng hai ông cho TC,
qua việc “ăn chay, cầu nguyện, và đặt tay trên hai ông và tiễn đưa hai
ông lên đường”.
Hình ảnh hiệp nhất thờ phượng Chúa
qua cầu nguyện và ăn chay ấy của giáo đoàn Antiokhia thật tuyệt đẹp và cũng là
bài học quý giá cho chúng ta ngày hôm nay, khi phải đối mặt với cơn đại dịch
Covid-19, và trong những lúc gặp gian lao, đau khổ trong cuộc sống.
Xin Chúa cho chúng ta biết dành
nhiều thời gian để hiệp thông với nhau trong cầu nguyện và chay tịnh hãm mình
để đủ sức mạnh của Chúa mà vượt thắng mọi trở ngại. Xin Chúa cũng cho
chúng ta cũng biết tích cực góp phần vào việc truyền giáo của GH theo khả năng
của mình. Đồng thời phải luôn ý thức rằng công cuộc truyền giáo hay loan
báo tin mừng không phải là việc làm tùy tiện mang tính cá nhân nhưng phải được
thực hiện dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần qua sự điều phối chính thức của
GH, thì sứ mạng loan báo tin mừng hay “làm chứng” cho Chúa mới mang lại những
kết quả tốt đẹp.
SUY NIỆM 2:
Ánh sáng rất cần thiết trong cuộc
sống tự nhiên. Ánh sáng đem lại niềm vui tươi sinh động. Ở đây bài Tin Mừng
muốn nói đến ánh sáng siêu nhiên, tượng trưng sự hiện diện của Thiên Chúa. Ðức
Giêsu chính là ánh sáng. Ai không tin vào Ðức Giêsu, không giữ lời Ngài thì
sống trong tối tăm bất hạnh. Ðức Giêsu được sai đến không để xét xử nhưng để
ban ơn cứu độ. Bởi thế, nếu khước từ Lời Ngài, là tự lên án chính mình, tự tách
mình ra khỏi ánh sáng vinh quang Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con hằng khao
khát hạnh phúc. Mà chỉ có Chúa mới cho chúng con được hạnh phúc đích thực và
trường tồn. Trong cuộc sống, nhiều lúc chúng con gặp những trở ngại, khó khăn,
u ám. Xin cho chúng con biết tìm đến Chúa. Nhờ ánh sáng của Chúa, chúng con sẽ
tìm ra con đường đem lại hạnh phúc: Ðó là chúng con biết tin tưởng phó thác và
sống theo sự hướng dẫn của Chúa. Amen.
SUY NIỆM 3:
Sống trong xã hội vàng thau lẫn lộn,
con người không còn khả năng phân biệt đúng sai, tốt xấu, thật giả…vì thế, hơn
bao giờ hết con người ngày hôm nay cần có ánh sáng thật soi đường, chỉ lối.
Chúa Kitô, ánh sáng thật, đến trần
gian để soi đường chỉ lối. Xin cho chúng ta tin nhận và sống theo sự hướng dẫn
của Ngài.
Ánh sáng là chủ đề tài nổi bậc trong
tin mừng.
Ngay những trang đầu của tin mừng,
thánh Gioan đã cho biết Chúa Giêsu chính “là ánh sáng, ánh sáng thật,
ánh sáng đến trần gian và chiếu soi mọi người”.
Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu tự xưng
là ánh sáng thế gian và Ngài mời gọi con người đi trong ánh sáng của Ngài.
Từ hai ngàn năm qua, Ngôi Lời Thiên
Chúa đã chiếu ánh sáng Thiên Chúa vào trần gian. Người mang lửa xuống trần
gian. Người mong ước cho ngọn lửa ấy cháy bừng lên, lan rộng ra. Nhưng nhìn vào
tình hình thế giới hôm nay, ta thấy bóng tối vẫn còn vây phủ con người.
Bóng tối chết chóc của chiến
tranh, hận thù, của ô nhiễm môi trường, của đói nghèo, áp bức, phân biệt chủng
tộc, của nền văn hóa sự chết giết hại cả những mầm mống sự sống.
Bóng tối tội lỗi. Tội lỗi vẫn tiếp
tục lan tràn. Sự dữ nổi lên dưới nhiều hình thức khác nhau. Nguy hiểm nhất là
người ta đánh mất cảm thức về tội lỗi, thản nhiên sống trong tội, sống chung
với tội lỗi.
Bóng tối của hận thù ghen ghét.
Trong thế giới văn minh mà con người hô hào hôm nay, vẫn còn có những người say
máu giết hại đồng bào của mình, gây nên tội ác diệt chủng. Vẫn có những thế lực
đen tối ngấm ngầm gây chia rẽ giữa các quốc gia, dân tộc, giữa các cộng đoàn,
hội thánh...
Sống trong xã hội tràn ngập bóng tối
của sự chết, của tội lỗi và hận thù…như thế, Chúa Giêsu không ngừng mời gọi
chúng ta phải chiếu giãi trước mặt mọi người.
“Các con là ánh sáng thế gian”. Ngày
nhận lãnh bí tích rửa tội, Giáo Hội trao cho ta cây nến sáng để nhắc nhớ chúng
ta hãy gìn giữ ngọn nến ấy luôn cháy sáng mãi trong suốt cuộc đời.
Cây nến phục sinh mà người kitô hữu
chúng ta thắp lên trong đêm lễ phục sinh nhắc nhở chúng ta nhiệm vụ mang ánh
sáng Chúa Kitô chia sẻ cho mọi người chung quanh.
Xin Chúa giúp chúng ta tẩy sạch mọi
bóng tối tội lỗi, để thực sự được sinh lại cùng với Đức Giê-su. Trở nên con cái
sự sáng bằng đời sống tươi vui, an hoà, khiêm nhường, nhịn nhục, yêu thương,
đoàn kết đến cho anh em.
Thứ năm: Cv 13,13-25; Ga 13,16-20.
SUY NIỆM 1:
Sách Cvtđ hôm nay tiếp
tục ghi lại cuộc hành trình truyền giáo lần thứ I của Phaolô và Barnaba nơi
vùng đất dân ngoại, ngoài lãnh thổ Giêrusalem. Có lẽ cuộc hành trình truyền
giáo này gặp rất nhiều vất vả, khó khăn nênmôn đệ Gioan-Márcô đã rời bỏ nhóm mà
trở về Giêrusalem, chỉ còn lại Phaolô và Barnaba. Hai ông rời bỏ Paphô để vượt
biển đến Antiokhia xứ Pisiđia. Tại đây, vào ngày Sabath, Phaolô cùng với
Barnaba vào hội đường người Do Thái để cử hành nghi thức phụng vụ (đọc và nghe
giải thích thánh kinh, học hỏi lề luật và cầu nguyện). Tận dụng cơ hội này,
Phaolô đã đứng lên giảng dạy. Nội dung bài giảng của Phaolô chủ yếu là
điểm lại những chặng đường lịch sử mà dân tộc Israel đã đi qua:
- Từ Ai-cập cho đến xuất hành khỏi
cảnh nô lệ.
- Từ vượt qua hành trình 40 năm
trong sa mạc cho đến vào đất hứa.
- Từ thời các thủ lãnh đến thời quân
chủ
- Cuối cùng là thời Messia đã được
Gioan Tẩy Giả loan báo. Đấng Messia ấy chính là Đức Giêsu-Kitô. Người đến để
hoàn tất kế hoạch cứu độ mà Thiên Chúa đã hứa với các tổ phụ.
Sau khi tóm tắt lại những chặng
đường lịch sử mà dân tộc Israel đã đi qua, Phaolô muốn chứng minh cho khán giả
thấy rằng: Thiên Chúa là Đấng luôn trung tín trong lời hứa với tổ phụ Abraham
nên đã ban cho Israel Đấng Cứu Độ xuất thân từ giòng dõi vua Đavid và Đất
hứa làm gia nghiệp.
Xin cho chúng ta luôn ý thức: Lời
hứa rất quan trọng trong đời sống. Nếu một người biết giữ lời hứa và thực hiện
lời hứa, chứng tỏ người ấy sống có trách nhiệm với bản thân và người khác, sẽ
được người khác quý mến, tôn trọng và tín nhiệm. Ngược lại, nếu nói mà không
làm, thường xuyên thất hứa, chứng tỏ người ấy sống thiếu trách nhiệm, không
biết tôn trọng bản thân và người khác, chắc chắn sẽ không được tôn trọng. Nên
trước khi hứa với ai điều gì ta nên cẩn trọng xem mình có khả năng thực hiện
được không? Và nếu một khi đã hứa, hãy cố gắng thực hiện!
Trong ngày lãnh nhận bí tích rửa
tội, ta (hay cha mẹ thay ta) đã hứa với Chúa và GH là từ bỏ tà thần và tuyên
xưng đức tin, trung thành sống với Chúa trong tình con thảo. Xin cho mỗi chúng
ta luôn ý thức sống trung thành với lời đã thề hứa ấy. Nhất là xin cho
các đôi vợ chồng trẻ luôn biết tôn trọng và tuân giữ lời mình đã tự nguyện thề
hứa trước mặt Thiên Chúa và cộng đoàn trong ngày cử hành bí tích hôn phối mà
trung thành với nhau trong đời vợ chồng, cho dẫu phải đối mặt với những nghịch
cảnh trong đời sống.
SUY NIỆM 2:
Các nhà xã hội học định
nghĩa con người là con vật có xã hội tính. Thật vậy “không ai là một hòn đảo”.
Con người sống là sống với, sống cùng, sống cho và sống nhờ… người khác. Tin
mừng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta mở lòng đón tiếp những sứ giả Chúa
với tấm lòng yêu mến và hy sinh phục vụ. Yêu mến phục vụ các ngài chính
là yêu mến và phục vụ Chúa.
“Tôi tớ không lớn hơn
chủa nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi” (Ga 13, 16). Các
tông đồ là môn đệ Chúa nên các ông không thể bằng Chúa. Nhưng các ngài diễm
phúc được Chúa Giêsu đặt ngang hàng với Người. “Ai đón tiếp người Thầy
sai đến là đón tiếp Thầy”. Như thế, Chúa mời gọi chúng ta phải lưu tâm
đón tiếp và phục vụ những sứ giả của Chúa sai đến là các tông đồ. Tiếp nối các
tông đồ là các Linh mục. Các ngài cũng là những Chúa Kitô thứ hai. Do đó đón
tiếp các ngài là đón tiếp chính Chúa.
Trong Thánh Kinh chúng ta
thấy còn ghi lại một vài nét đẹp của sự tiếp đón đáng cho chúng ta bắt chước.
Những gương sáng này vẫn luôn giữ được tính cách thời sự của nó.
1. Ông Abraham.
Ông là một con người hiếu
khách và quảng đại. Khi thấy ba khách lạ đang đi trong sa mạc nắng cháy, không
những ông mời mà còn năn nỉ họ vào nhà nghỉ và ân cần săn sóc họ một cách chu
đáo. Ba người khách lạ đó là ai ? Đó là ba sứ giả của Thiên Chúa. Đáp lại
tấm thịnh tình và lòng quảng đại của ông, ba sứ giả ban cho vợ chồng hiến muộn
này một đứa con trai đầu lòng. Đó là cậu Isáac.
2. Một gia đình ở
Su-nêm.
Khi tiên tri Elia qua
Su-nêm, một bà giầu có rất hiếu khách đã mời Elia vào nhà dùng bữa với sự săn
sóc tỉ mỉ. Bà còn dọn cho tiên tri một phòng trên gác đầy tiện nghi để tiên tri
có thể lui tới tự do. Đáp lại tấm lòng quảng đại của bà, Elia cũng hứa ban cho
bà một đứa con vì bà son sẻ: ‘Vào thời kỳ này, vào độ này sang năm, bà sẽ có
cháu trai bồng”
3. Gia đình ba chị
em ở Bêtania.
Chúa Giêsu rất thương ba
chị em này, mỗi khi đi qua Bêtania, Chúa và các môn đệ thuờng ghé thăm chị em
và nghỉ ngơi. Chị cả Matta rất hiếu khách, dọn cho Chúa những bữa ăn ngon. Còn
cô em Maria đón tiếp Chúa bằng cách ngồi dưới chân Chúa mà nghe Ngài
dạy dỗ, cách đón tiếp này cũng làm cho Chúa rất hài lòng. Còn Lagiarô là đàn
ông thì tiếp theo kiểu đàn ông là ăn uống và chuyện trò với Chúa. Đáp lại sự
đón tiếp ân cần và thành thực của ba chị em, Chúa Giêsu đã làm cho Lagiarô sống
lại sau khi chết bốn ngày.
Khi tiếp đón các tông đồ
của Chúa, dĩ nhiên chúng ta phải mất mát : mất thì giờ, mất tiền của, mất
công... Nhưng tất cả sẽ được Chúa thưởng công cho ở đời này hay đời sau. Chúng
ta hãy cảm tạ Chúa, đã tiên liệu cho chúng ta có những người kế tiếp Chúa, là
các Linh mục, để đem Chúa đến cho chúng ta và dạy bảo chúng ta về đời sống đạo.
Chúng ta cầu xin cho các linh
mục biết sống và thể hiện đầy đủ trách nhiệm của mình trước mặt Chúa cho xứng
đáng, để mọi người nhận ra khuôn mặt Đức Kitô qua đời sống linh mục.
Thứ sáu: St 1,26-2,3; Cl 3,14-15,17,23-24; Mt
13,54-58
KÍNH THÁNH GIUSE THỢ
Ngày 1-5, Giáo hội mừng kính lễ
Thánh Giuse thợ, bổn mạng của tất cả những người lao động và cũng được thế giới
chọn làm ngày Quốc tế lao động. Điều này giúp cho chúng ta càng thấy rõ hơn nhu
cần cần thiết và quan trọng của lao động trong đời sống con người.
1. Lao động là nhu cầu của con
người.
Lao động là để mưu cầu vật chất cho
nhu cầu sinh hoạt đời sống của con người, vì vậy mà người Việt có câu "tay
làm hàm nhai" hay "có làm thì mới có ăn". Lao động cũng còn có
thể giúp cho con người tránh xa những dịp tội không đáng có thường xảy ra trong
cuộc sống, như người ta thường nói: “nhàn cư vi bất thiện”. Lao động cũng có
nhiều hình thức khác nhau : lao động bằng khối óc, lao động bằng chân tay, lao
động bằng máy móc. Cho dù bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng mục tiêu cuối
cùng cũng là tìm kiếm hạnh phúc cho cuộc sống.
Trong thế giới hôm nay, khi mà đồng
tiền trở thành sức mạnh thống trị, thì nó có thể biến con người lao động thành
nô lệ tìm kiếm, nhiều người đã lao mình vào vòng xoáy của nó để tìm kiếm, càng
tìm kiếm con người càng trở nên nô lệ cho nó. Thế là những mục đích tốt lành
của lao động như kiếm tìm hạnh phúc, thăng tiến bản thân, tránh xa dịp tội,
tăng thêm bạn hữu và tinh thần hiệp nhất cũng dần dần biến mất.
2. Ý nghĩa cao quý của lao động.
Trong sách Sáng thế ký chương thứ
nhất cho chúng ta biết: Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng con người và vạn vật, tất
cả đều tốt lành và Thiên Chúa đã trao ban cho nhân loại để con người sử dụng.
Điều cốt yếu trong công cuộc sáng tạo, là phát xuất từ tình yêu trao ban nhưng
không của Thiên Chúa. Như thế, để sống hạnh phúc bên Thiên Chúa và hưởng dùng
những tạo vật Chúa ban cho, con người phải luôn luôn cố gắng, để mỗi ngày mình
được trở nên giống Thiên Chúa, và đồng thời phải lao động, cộng tác với ơn Chúa
làm cho mọi tạo vật ngày càng trở nên hoàn hảo hơn. (x. St 1,1-31)
Chính Chúa Giêsu là nhân danh Chúa
Cha, làm theo ý muốn Chúa Cha khi Người nói : “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm
việc, thì tôi cũng làm việc” (Ga 5,17) ; “Tôi nói với các ông rồi mà các ông
không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho
tôi” (Ga 10,25). Ý muốn của Thiên Chúa Cha không gì khác hơn là muốn cho con
người được sống và sống hạnh phúc. Như thế lao động không còn dừng lại ở chỗ
tìm kiếm vật chất cho mình được sung túc hơn người, lao động cũng không dừng
lại ở chỗ mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình, cũng không chỉ là để thăng tiến bản
thân hay là tạo cho mình có một chỗ đứng vững chắc nào đó trong xã hội như quan
niệm thông thường của con người, nhưng lao động đó là làm theo Thánh ý Thiên
Chúa.
3. Noi gương thánh Giuse.
Khi nhìn vào đời sống thầm lặng của
Thánh cả Giuse, người mà Kinh Thánh rất ít nhắc đến, nhưng mỗi lần nhắc đến là
mỗi lần chúng ta nhìn thấy được thái độ tuyệt vời của Ngài khi biết đặt thánh ý
Thiên Chúa trên hết mọi suy nghĩ và hành động của mình, và nhờ đó mà ngài xứng
đáng người quản gia Chúa đã đặt để trông coi gia đình Chúa, xứng với danh hiệu
là người công chính, được chọn làm người dưỡng nuôi Chúa Giêsu và chăm sóc cho
Đức Maria.
Mừng kính lễ Thánh Giuse thợ hôm
nay, chúng ta cùng cảm tạ Chúa đã thương ban cho chúng ta được làm con cái
Chúa, cảm tạ Chúa đã ban cho chúng ta Thánh cả Giuse làm mẫu gương lao động cần
cù, khiêm tốn và tín thác.
Xin Chúa cho chúng ta noi gương
Thánh Giuse biết tin tưởng, tín thác và làm theo ý Thiên Chúa trong đời sống
lao động cần cù, chính đáng để mưu cầu hạnh phúc cho mình và cho tha nhân. Noi
gương Thánh Giuse biết tin tưởng tín thác và sống đúng trách nhiệm của một
người chồng, người cha trong đời sống gia đình, chu toàn bổn phận trong đời
sống đức tin và nhất là hăng say trong đời sống nhân chứng. (St).
* MÙA PHỤC SINH: Cv 13,26-33; Ga 14,1-6.
SUY NIỆM 1:
Sau khi nhắc lại những chặng đường
lịch sử mà dân Israel đã trãi qua dưới sự dẫn dắt đầy khôn ngoan của TC, Phaolô
tiếp tục dùng khung bài giảng Kerygma (bài giảng truyền giáo) để khái quát về
cuộc đời của Đức Giêsu nơi trần thế và khẳng định mọi điều Thiên Chúa hứa
ban nay đã được thành toàn nơi Đức Kitô qua cái chết và sự Phục Sinh vinh hiển
của Người.
- Về sự phục sinh của Đức Giêsu:
Phaolô khẳng định chính Đức Kitô đã hiện ra nhiều lần với các môn đệ: "Trong
nhiều ngày, Đức Giêsu đã hiện ra với những kẻ từng theo Người từ Galilê lên
Giêrusalem. Giờ đây chính họ làm chứng cho Người trước mặt dân". Và
Phaolô và Barnaba chính là chứng nhân cho tin mừng ấy: "Còn chúng
tôi, chúng tôi xin loan báo cho anh em Tin Mừng này: Điều Thiên Chúa hứa với
cha ông chúng ta, thì Người đã thực hiện cho chúng ta là con cháu các ngài, khi
làm cho Đức Giêsu sống lại, đúng như lời đã chép trong Thánh vịnh 2: Con là Con
của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con” (Tv 2, 7).
- Về cái chết của Đứcc Giêsu: Phaolô
nhấn mạnh cái chết của Đức Giêsu là do "dân cư thành Giêrusalem và
các thủ lãnh của họ” gây nên. Nhưng cũng như Phêrô, ngài cho biết sở
dĩ họ giết Đức Giêsu là vì họ không nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ.
+ Từ đó, Phaolô hướng mọi người nhìn
về cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu là kế hoạch cứu độ đầy khôn ngoan của
TC, vì đã ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia đã nói về Người Tôi Trung của
TC. Và ông kêu gọi mọi người sám hối, tin nhận Đức Giêsu để đón nhận ơn
cứu độ.
Với cái nhìn đức tin, Phaolô cho
thấy: dù con người có từ chối và đóng đinh Chúa Giêsu trên Thập Giá, họ cũng không
tài nào vô hiệu hóa được kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, để từ nay, không những
dân Israel mà mọi người đều có thể nhận được ơn cứu độ.
Xin cho chúng ta biết phó thác đời
mình cho kế hoạch đầy khôn ngoan và giàu lòng yêu thương của TC. Để cứu độ
nhân loại, Chúa Giêsu vẫn phải chấp nhận ngang qua con đường thập giá. Vì thế
thập giá chính là con đường mà chúng ta phải bước theo nếu muốn được cứu độ.
Xin cho chúng ta luôn can đảm sống tinh thần của thánh Phaolô để sẵn sàng
"cùng chết với Đức Kitô, chúng ta sẽ cùng sống lại như Người".
SUY NIỆM 2:
Ngày xưa chưa có đường.
Nhưng do đi lại nên trở thành đường mà thôi. Muốn đi và đạt đến đỉnh hạnh phúc
vinh quang ta cần có con đường để đi. Con đường ấy chính là Đức Giêsu Kitô,
Ngài đi từ trời xuống và từ đất lên và trở nên đường đưa dẫn chúng ta về trời
sum họp cùng với Ngài trong nhà Cha. Xin cho chúng ta biết đi trên con đường mà
chính Chúa đã vạch ra hầu chúng ta đạt tới quê trời vinh phúc.
Sau một thời gian rời bỏ
Việt Nam để tìm cho mình cuộc sống tự do nơi quê hương xứ sở mới. Nay cuộc sống
của hầu hết Việt Kiều ở nước ngoài đều ổn định và sung túc. Trong khi đó những
người thân của họ ở lại thì phải sống trong cảnh khó khăn, vất vã. Với chính
sách đoàn tụ gia đình, những năm gần đây, nhiều việt kiều đã về nước để bảo
lãnh người thân của mình sang để sum họp gia đình và hưởng được cuộc sống tiện
nghi thoải mái. Tuy nhiên để được đoàn tụ với người thân bên nước ngoài, công
dân việt nam phải thoả mãn nhiều điều kiện....
Tin Mừng hôm nay, Chúa
Giêsu cho các tông đồ biết : Ngài sẽ ra đi để dọn chỗ cho các ông, rồi một
ngày nào đó, Chúa sẽ trở lại, đem các ông lên ở với Chúa trên nhà Cha trên
trời, để hưởng vinh phúc đời đời. Tuy nhiên để được đoàn tụ với Chúa Giêsu trên
quê hương thiêng đường, Chúa cũng đòi hỏi chúng ta phải thoả mãn các điều kiện
mà Chúa đưa ra. Đó là đi đúng con đường của Chúa đã đi, tuân giữ chân lý mà
Chúa đã truyền và hiệp thông trong sự sống của Chúa.
Con đường mà Chúa Giêsu
đi là con đường hẹp, con đường thập giá. Chấp nhận hy sinh, gian khổ để thi
hành những giời răn mà Chúa đã chỉ dạy. Biết khiêm tốn, hạ mình chấp nhận thiệt
thòi để phục vụ tha nhân với tình yêu mến.
Cố gắng sống theo chân lý
mà Chúa đã dạy. Chân lý ấy là sống yêu thương. Yêu không chỉ những người thân
cận, không phải những kẻ yêu mình mà tình yêu phải quy chiếu vào tình yêu của
Chúa Giêsu: “Yêu như Chúa yêu”, tình yêu ấy phải dành cho hết mọi
người, không phân biệt một ai, ngay cả kẻ thù.
Ý thức nổ lực sống hiệp
thông với Chúa, bằng việc lắng nghe và thi hành Lời Chúa cũng như tha thiết kết
hiệp với Chúa qua việc kính yêu và năng đón nhận Mình Thánh Chúa. Nhờ thế sự
sống và sức mạnh Chúa tuôn chảy trong ta. Như nhựa cây cần thiết để nuôi sống
cây nho và cành nho thế nào thì linh hồn chúng ta cũng cần đến Lời Chúa và Mình
Thánh Chúa như thế.
Mục đích một đời
sống đạo là hạnh phúc thiêng đàng. Nhưng để đạt được điều mong đó, không gì
khác hơn là chúng ta phải đi theo đường Chúa đã đi, sống theo chân lý mà Chúa
đã sống và chỉ dạy, nhất là phải luôn sống bằng sức sống của Chúa qua việc thi
hành Lời Chúa và năng kết hiệp với Chúa nơi bàn tiệc Thánh Thể.
Thứ bảy: Cv 13,44-52; Ga 14,7-14.
Nhớ Thánh A-tha-na-si-a,
giám mục, tiến sĩ Hội Thánh.
SUY NIỆM 1:
Với chủ đích ban đầu của các môn đệ
là loan báo Tin mừng Cứu độ chủ yếu cho người Do Thái nên Phaolô và Barnaba
luôn tận dụng Hội đường để rao giảng. Lần này cũng vậy, Phaolô và Barnaba đến
Hội đường vào ngày Sabath để rao giảng theo lời mời của một số người Do Thái.
Tuy nhiên lần này hai ông lại bị chống đối quyết liệt bởi những người Do Thái
quá khích.
Hai lý do họ chống đối Phaolô và
Barnaba là:
- Thứ nhất vì ghen tương: Họ không muốn
Phaolô và Barnaba có ảnh hưởng trên đám đông; vì nếu đám đông nghe theo Phaolo
va Barnaba thì họ sẽ không còn ảnh hưởng trên dân chúng nữa. Họ không muốn thấy
ai được phép bằng họ.
- Thứ hai vì quan niệm hẹp hòi: Truyền thống Do
Thái quan niệm chỉ có họ mới là con Thiên Chúa và có đặt quyền nghe lời của
Thiên Chúa. Giờ đây cả dân ngoại cũng được làm con Thiên Chúa và được nghe lời
Thiên Chúa thì họ đâu còn chi đặc biệt nữa. Nên khi “thấy đám đông dân
chúng, thì đâm ghen tương, nói lộng ngôn, chống lại các điều Phaolô giảng dạy”.
Cách giải quyết của Phaolô và Barnaba trước
sự chống đối:
1. Bình tĩnh can đảm giải thích: Lẽ ra "Anh
em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh
em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì
đây chúng tôi quay về phía dân Ngoại".
2. Dùng Lời Chúa để minh chứng: Phaolô và Barnaba
đã trích lại lời Thiên Chúa trong sách Isaia để cho thấy việc rao giảng Lời của
Chúa cho dân ngoại chính là lệnh truyền của Thiên Chúa: “Ta đặt ngươi làm
ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta
đến tận cùng cõi đất." (Is 49, 6).
Nhưng khi nghe những lời đó, họ càng
phẩn nộ, đã xách động và xúi dục nhóm phụ nữ thượng lưu đã theo đạo Do-thái, và
những thân hào trong thành, ngược đãi ông Phaolô và ông Barnaba, và trục xuất
hai ông ra khỏi lãnh thổ của họ.
Trước thái độ cố chấp của họ, cuối
cùng hai ông đành phải cắt đứt liên hệ với họ qua cử chỉ“giũ bụi chân phản
đối họ và đi tới Icôniô”, theo như lời Chúa Giêsu đã dạy:“Nếu người ta
không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi thành ấy, anh em hãy giũ bụi
chân lại.” (Mt 10,14). Chính nhờ đó mà Lời Chúa lan tràn khắp miền ấy
và dân ngoại được hân hoan ca tụng Lời Chúa.
Xin cho chúng ta biết noi gương hai
thánh tông đồ Phaolô và Barnaba luôn nhiệt tâm rao giảng Tin mừng cho mọi người
dù gặp phải nhiều gian nan thử thách. Nhất là cho mỗi người Kitô hữu chúng ta
biết tích cực góp phần cho công cuộc truyền giáo với hết khả năng của mình.
Đừng vì tính ích kỷ, ghen tị, tự mãn… hay bất cứ lý do nào làm ngăn cản cho sứ
vụ loan báo Tin Mừng.
SUY NIỆM 2:
"Xin cho chúng con
thấy Chúa Cha" (Ga 14,8). Đó không chỉ là khao khát của tông đồ
phi-lip-phê mà là mỗi chúng ta, những người tin Chúa. Khao khát đó sẽ được Đức
Giêsu làm thoả mãn qua sứ điệp của lời Chúa hôm nay.
Tin Mừng hôm nay,
Philipphê xin với Chúa Giêsu: "Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha,
như thế là chúng con mãn nguyện" (Ga14,8). Khao khát của Phi-lip-phê, cũng
là khao khát mỗi chúng ta.
Thiên Chúa đã đáp lại
khát vọng đó qua việc cho Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. “Thuở xưa,
nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ,
nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử
Giêsu.” (Dt 1,1- 20). Nơi Đức Giêsu Kitô, chúng ta gặp được Thiên
Chúa, dễ gần, dễ thấy, dễ quen.
Thiên Chúa đâu chỉ ở nơi
cao thẳm ngàn trùng, Thiên Chúa hiện diện nơi con người Đức Giêsu khiêm hạ.
Giữa Ngài và Thiên Chúa Cha có một gắn bó lạ lùng đến nỗi Đức Giêsu dám
nói: "Ai biết Thầy là biết Cha" (Ga 14,7). "Ai
thấy Thầy là thấy Cha." (Ga 14,9) vì "Thầy ở trong
Cha và Cha ở trong Thầy." (Ga 14,10).
Lời nói và việc làm của
Đức Giêsu chính là lời nói và việc làm của Thiên Chúa (x. Ga 14, 10). Toàn bộ
cuộc đời Đức Giêsu được Cha chiếm ngự. Ngài như tấm gương trong suốt, phản
chiếu khuôn mặt và trái tim Thiên Chúa, đầy nhân ái và bao dung với hết mọi
người. Kitô hữu là người có Chúa Kitô nên được mời gọi trở nên giống Chúa Giêsu
để có thể nói rằng: Ai biết tôi là biết Đức Kitô, ai thấy tôi là thấy Đức Kitô.
Lạy Chúa Giêsu! Ðã bao
lần con làm cho khuôn mặt Chúa trở méo mó, biến dạng và có thể là rất khó
thương vì đời sống không tốt đẹp của con. Xin cho con biết nhìn lên Chúa như
một khuôn mẫu tuyệt vời để tu tập thành con người mới, con người có phẩm chất
cao đẹp, có đạo đức và tình yêu thương, để nhờ đó con trở thành hình ảnh trung
thực về Chúa cho thế giới hôm nay. Amen.