SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN IV MÙA CHAY
Lm. Nguyệt Giang
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY-NĂM A
1Sm 16, 1b.6-7. 10-13a; Ep 5,
8-14; Ga 9, 1-41
Suy niệm 1:
Chúa nhật IV
MC hôm nay được gọi là Chúa nhật của niềm vui. Vui không bởi phẩm phục màu hồng
nhưng vui vì GH sắp cử hành đại lễ phục sinh, kỷ niệm biến cố Con TC sống lại,
mở ra cho nhân loại niềm hy vọng vào sự sống mai này. Vui vì ánh sáng cứu độ
của Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô đã đến trần gian, xua tan bóng đêm tội lỗi và
sự chết, ban lại cho nhân thế ánh sáng của niềm vui và sự sống mới.
Xin cho
chúng ta biết tích cực đón nhận ánh sáng của Chúa, bằng cách gắn bó mật thiết
với Chúa, khiêm tốn lắng nghe và thực thi đường lối của Chúa với niềm hân hoan,
tin tưởng và phó thác vào tình thương của Chúa.
“Ánh sáng” là chủ
đề nổi bật trong Tin mừng của thánh Gioan. Nên ngay những trang đầu của Tin
mừng, thánh Gioan cho biết Chúa Giêsu chính là: “Ánh sáng thật, ánh
sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9). Qua phép lạ chữa
lành cho người mù được sáng mắt hôm nay, minh chứng cho thấy Đức Giêsu chính là
ánh sáng thật đã đến trần gian, xua tan bóng tối tội lỗi và sự chết, mang lại
niềm vui và sự sống cho con người: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo
tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự
sống.” (Ga 8,12).
Xin cho
chúng ta biết mở lòng tiếp nhận ánh sáng niềm vui Tin mừng của Chúa và tích cực
bước theo ánh sáng Ngài soi dẫn, ngỏ hầu chúng ta trở nên con cái của sự sáng
theo như lời thánh Gioan đã nói: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà
chẳng chịu đón nhận. Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người,
thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.” (Ga 1,11-12).
Suy niệm 2:
Phụng vụ lời
Chúa hôm nay cho thấy có những cái nhìn khác nhau về con người và sự kiện, khởi
đi từ những quan điểm và tâm ý khác biệt nơi mỗi người.
1. Với tiên
tri Samuel và ông Giétsê: thì nhìn con người qua diện mạo bên ngoài
nên khi ông được Thiên Chúa sai đến Belem để tìm Đavit (con út của ông Isai
(Giétsê), thuộc chi tộc Giuđa) để xức dầu tấn phong đứa út này lên làm vua thay
cho Saolê vì đã không tuân phục ý Chúa (1S 16,13), thì Samuel ông lại muốn xức
dầu cho Êliab một người có dáng vóc cao lớn, khoẻ mạnh trong số 8 người con
trai của Giétsê. Nhưng Chúa bảo: “Không phải người phàm nhìn sao, Thiên
Chúa cũng nhìn thế, bởi người phàm chỉ trông thấy điều lộ trước mắt, còn Giavê
trông thấy điều ẩn đáy lòng”. Cuối cùng, nghe theo sự soi sáng của Chúa,
Samuel cũng đã chọn và xức dầu cho Đavít, đứa em nhỏ nhất, đứa mà người cha là
ông Giétsê cũng coi thường nên ban đầu ông không đưa ra giới thiệu với Samuel.
Câu chuyện
cho thấy cái nhìn của Thiên Chúa không giống cái nhìn của loài người, vì loài
người quen nhìn đáng vẻ bề ngoài, còn Thiên Chúa nhìn tận đáy lòng.
2. Còn những
người Biệt phái, thì nhìn Đức Giêsu với cái nhìn định kiến và ganh ghét nên họ không
thể nhận ra được Thiên Tính nơi Người.
Tin Mừng hôm
nay cho biết vì muốn phủ nhận uy quyền TC nơi Đức Giêsu nên những người Biệt
phái đã tìm đủ mọi cách để chối bỏ phép lạ Chúa Giêsu chữa cho người mù từ lúc
mới sinh được sáng mắt.
- Trước hết
họ mở cuộc điều tra rộng rãi từ đương sự đến những người láng giềng và cả cha
mẹ của đương sự nữa. Họ hạch hỏi và đe dọa những người này đủ điều, với mục
đích làm áp lực để người mù và cha mẹ anh ta sợ hãi mà chối bỏ phép lạ Chúa
Giêsu đã làm. Nhưng vì phép lạ quá hiển nhiên nên không thể nào phủ nhận được.
- Biết xử
dụng quyền lực không được, họ dùng đến lý lẽ để thuyết phục mọi người với cách
lý luận rằng: “Ông Giêsu đã chữa mắt cho người mù trong ngày hưu lễ vì
luật trong hưu lễ là cấm làm việc. Ai vi phạm là kẻ có tội. Mà kẻ tội lỗi thì
không thể là người bởi Thiên Chúa và không thể làm được phép lạ”. Nhưng
cho dù họ có cố tình bẻ cong sự thật, thì sự thật vẫn hiển nhiên, bởi chính
đương sự đã làm chứng: “Nếu đó là một người tội lỗi, tôi không biết;
tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi mù và bây giờ tôi trông thấy”.
- Thấy không
thể đối chất lại cách lý luận đầy thuyết phục của anh mù, cuối cùng họ
phải dùng đến thủ đoạn nham hiểm, bằng cách khơi lại tình trạng quá khứ mù lòa
của anh, rồi dựa vào quan điểm mù quán mà cho rằng anh ta là người tội lỗi mà
mạt sát anh: “Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư? Rồi trục
xuất anh ra ngoài”. Với ý định qua đó cảnh báo mọi
người đừng bao giờ tin vào lời chứng của người có tội. Nhưng tất cả những
mưu hèn kế bẩn ấy cũng không làm thay đổi được niềm tin của người mù vào quyền
năng TC nơi Đức Giêsu qua lời xác quyết của anh: “Xưa nay chưa từng
nghe nói có ai mở mắt một người mù từ khi mới sinh. Nếu người đó không bởi
Thiên Chúa thì không làm được gì”. Vì thế sau khi Chúa Giêsu cho anh
biết Người chính là Con Thiên Chúa thì anh liền “sấp mình thờ lạy
Người”.
Trong khi
người mù được Chúa ban cho ánh sáng thể lý và tâm hồn thì những người Biệt phái
sáng mắt thể lý lại trở nên mù lòa về tâm hồn nên đã không tin nhận Chúa Giêsu
là TC làm người. Sở dĩ như vậy là vì mắt tâm hồn họ còn bị quá nhiều ngăn cản
bởi lòng đầy kiêu căng tự mãn; bởi những định kiến sẵn có về Chúa Giêsu khi cho
rằng, Người không tuân thủ lề luật, dám làm việc ngày hưu lễ, cho dẫu họ biết
rất rõ về những việc tốt lành Chúa Giêsu đã làm. Chính vì thế mà họ đáng bị
Chúa Giêsu lên án: “Nếu các ngươi mù, thì các ngươi đã không mắc tội;
nhưng các ngươi nói ‘Chúng tôi xem thấy’, nên tội các ngươi vẫn còn”.
Trước những
biến cố xảy ra trong đời sống, có thể mỗi người chúng ta có những cái nhìn khác
nhau tùy theo quan điểm tự do của mình. Nhưng với cái nhìn của thánh Phaolô
trong thư gửi tín hữu Ephêsô trong bài đọc 2 hôm nay, thì ngài khuyên chúng ta
nên khiêm tốn nhận ra quyền năng của TC qua mọi biến cố mà chân thành sám hối
từ bỏ nếp sống cũ là gian dối, bất công, kiêu ngạo mà nỗ lực thực thi giáo huấn
của Đức Kitô bằng đời sống lương thiện, công chính và chân thật, với ước mong
làm mọi điều sao cho đẹp lòng Chúa. Được như vậy, tâm hồn chúng ta mới có được
bình an mỗi khi đối diện với những biến cố vui buồn trong đời sống.
* Gợi Ý
Xét Mình
Khi nhìn vào thực tế đời sống, ta nhận thấy có nhiều loại mù khác nhau: mù
chữ, kiến thức, tin học, ngoại ngữ…mặc dù bệnh mù nào cũng gây nên khó khăn và
đau khổ và cần được chữa lành. Nhưng có lẽ bệnh mù cần được cứu chữa nhất vẫn
là bệnh mù về tâm hồn vì chẳng những nó giết chết bản thân mình mà còn gây nên
biết bao đau khổ cho người khác. Dựa trên nền tảng lời Chúa trong Kinh thánh,
chúng có thể tìm thấy một vài nguyên nhân đưa đến bệnh mù về tâm hồn nguy hiểm
này:
- Do lòng tham lam
Sách Các Vua có thuật lại câu chuyện hoàng hậu I-dơ-ven, vợ vua A-kháp, có
lòng tham lam muốn chiếm đoạt vườn nho của ông lão nghèo Na-vốt, nên đã dàn
dựng một vụ án kể tội Na-vốt đã dám nguyền rủa Thiên Chúa và nhà vua, rồi tuyên
án ông phải bị ném đá chết. Lòng tham đã làm cho hoàng hậu I-dơ-ven trở thành
mù quáng phạm tội giết hại người nghèo vô tội để chiếm đoạt vườn nho của ông
ta. (1V 21)
- Do thói ganh tị
Đọc Kinh
Thánh, ta thấy sách Sáng thế có ghi lại câu chuyện dâng của lễ của Cain và
A-ben. Của lễ của A-ben được Chúa đón nhận còn của lễ Cain thì không. Cain đem
lòng ganh tị với A-ben đã làm cho tâm hồn anh trở nên mù quáng, đến độ đã nhẫn
tâm ra tay giết hại A-ben là đứa em hoàn toàn vô tội chỉ vì lễ vật của A-ben
đẹp lòng Thiên Chúa.
Sách Samuel ghi lại rằng vua Sa-un rất yêu thương Đavít, nhưng sau khi
Đavít giết được tướng giặc khổng lồ là Gô-li-át để cứu nguy cho quân dân Israel
và khải hoàn về thành. Đa-vít được các phụ nữ đi đón rước. Họ vừa múa nhảy theo
tiếng reo mừng não bạt, vừa ca hát như sau : “Vua Sa-un hạ được hàng
ngàn, còn Đa-vít giết được hàng vạn”. Nghe lời ca đó, vua Sa-un cảm thấy
rất tức giận Đa-vít. Chính do lòng ganh tị đã làm cho vua trở thành kẻ mù
quáng, từ lòng yêu thương hóa ra thù ghét và đã ra tay truy lùng Đa-vít, quyết
giết chết bằng được người anh hùng Đa-vít nầy. (1 Sm, Ch 18).
- Do dục tình bất chính
Sau khi lên làm vua thay Sa-un, Đavít lên ngôi vua, ông cũng trở nên mù quáng vì
tình dục. Do say đắm sắc đẹp của bà Bát-sa-bê, vợ của U-ri-a, nhà vua đã sa ngã
phạm tội với bà, sau đó lại tìm cách giết U-ri-a chồng bà và rồi chính thức
cưới bà ấy làm vợ. Mù quáng đến thế thì thật là khủng khiếp!
Tóm lại, do tình dục, do lòng tham, do kiêu căng ganh tị… mà người ta
có thể trở nên mù tối phạm phải những tội ác không ngờ. Bất cứ người mù nào
cũng khao khát được sáng; nhưng điều đáng tiếc là nhiều người mù tâm hồn, do
không ý thức tình trạng mình đang bị mù, nên không quyết tâm ra khỏi tình trạng
mù quáng của mình, và cuối cùng đã bị loại ra khỏi Nước Trời, giống như các đầu
mục dân Do thái khi xưa.
Để kết thúc xin kể một câu chuyện ngắn sau đây:
Một vị Nhật hoàng sau khi làm việc căng thẳng muốn thư giãn, nên yêu cầu
các quan tìm kiếm một người biết nói đùa. Người ta đã dẫn đến cho vua một vị
thiền sư.
Nhật hoàng nói : “Ta muốn nhà ngươi nói đùa cho ta nghe và ta sẽ không hài
tội về lời nói đùa của ngươi”.
Thiền sư nói : “Tâu bệ hạ, xin bệ hạ nói trước để hạ thần nói đùa theo”.
Nhà vua nói : “Ta thấy nhà ngươi giống y như một con lợn !”
Thiền sư đáp : “Còn hạ thần thì nhìn thấy bệ hạ giống y như Đức Phật !”
Nhà vua liền thắc mắc : “Tại sao ta bảo nhà ngươi là con lợn mà nhà ngươi
lại bảo ta là Đức Phật?”
“Tâu bệ hạ, dễ hiểu thôi ạ : ai có tâm của Phật thì nhìn đâu cũng thấy Đức
Phật; Còn ai có tâm của lợn thì nhìn đâu cũng thấy lợn !”
Suy niệm
3: TỪ BÓNG TỐI ĐẾN ÁNH SÁNG
Trong hành
trình Mùa Chay, Giáo hội dùng hình ảnh "người mù bẩm sinh" để nhắc
nhở rằng: tất cả chúng ta, ở một khía cạnh nào đó, đều đang mang trong mình một
sự mù lòa tâm linh. Chúng ta cần được Chúa chạm đến để có thể "thấy"
đúng thực tại.
1. Bài đọc
I, trích sách Samuel, khi đi xức dầu cho vị vua mới, chính vị ngôn sứ vĩ đại
cũng bị đánh lừa bởi vẻ bề ngoài. Ông tưởng rằng những người con cao lớn, đẹp
trai của Giesê là người được chọn. Nhưng Thiên Chúa đã phán: "Người
ta nhìn bề ngoài, còn Thiên Chúa nhìn tận tâm hồn."
Chúng ta
thường đánh giá người khác dựa trên địa vị, ngoại hình hay sự thành công. Sự mù
lòa của chúng ta nằm ở chỗ chỉ thấy cái "vỏ" mà không thấy cái
"nhân". Thiên Chúa chọn Đavít một cậu bé chăn cừu nhỏ nhất
để nhắc ta rằng giá trị đích thực nằm ở sự khiêm nhường và lòng yêu mến.
2. Bài Tin
Mừng, phép lạ chữa người mù bẩm sinh không chỉ là một sự kiện y khoa, mà là một
biểu tượng về hành trình đức tin. Hãy nhìn vào sự biến đổi của người mù qua
từng giai đoạn:
- Giai đoạn
1: Ông
gọi Ngài là "ông Giêsu" (một con người).
- Giai đoạn
2: Ông
khẳng định Ngài là "một vị ngôn sứ".
- Giai đoạn
3: Ông
tin Ngài là người "đến từ Thiên Chúa".
- Giai đoạn
cuối: Ông sấp mình xuống và thưa: "Lạy Chúa, con tin" (Tôn
thờ Thiên Chúa).
Sự tương
phản cay đắng: Trong khi người mù dần dần "thấy" được sự thật, thì những
người biệt phái, những kẻ tự cho mình là hiểu biết Luật Chúa lại dần dần
trở nên mù lòa vì lòng kiêu ngạo. Họ có đôi mắt sáng nhưng tâm hồn họ đóng sầm
trước ánh sáng thật.
3. Bài đọc
II, Thánh Phaolô nhắc nhở tín hữu Êphêsô và cả chúng ta hôm nay: “Xưa
anh em là bóng tối, nhưng nay, trong Chúa, anh em là ánh sáng.”
Ánh sáng của
Chúa không chỉ để chúng ta chiêm ngưỡng, mà để chúng ta phản chiếu.
Hoa trái của
ánh sáng là: Lòng nhân hậu, sự công chính và chân lý.
- Nhận diện
"điểm mù" của bản thân: Đâu là những định kiến, sự ích kỷ hay thói
vô cảm đang làm mờ mắt chúng ta trước nhu cầu của tha nhân và sự hiện diện của
Chúa?
- Rửa sạch
tại hồ Silôê: "Silôê" nghĩa là "Người được sai đi". Hãy để Lời
Chúa và các bí tích (đặc biệt là Bí tích Hòa giải) tẩy rửa tâm hồn chúng ta
trong mùa Chay này.
- Can đảm
làm chứng: Người mù đã bị trục xuất khỏi hội đường vì nói sự thật. Theo Chúa đôi
khi đòi hỏi chúng ta phải chấp nhận sự khác biệt và bị từ chối bởi thế gian.
Xin Chúa
Giêsu, xin mở mắt tâm hồn ta, để ta thấy Chúa đang hiện diện trong anh chị em
ta, và thấy được cn đường yêu thương mà Chúa muốn ta đi. Amen.
SUY NIỆM
4: ĐỂ CON ĐƯỢC THẤY
Hôm nay,
Giáo hội tạm gác lại vẻ u buồn của Mùa Chay để mời gọi chúng ta "Mừng vui
lên" (Laetare). Tại sao lại vui?
Vì chúng ta
đã đi được nửa chặng đường hành hương và Ánh Sáng Phục Sinh đã thấp thoáng ở
phía chân trời.
Các bài đọc
hôm nay không chỉ nói về việc chữa lành đôi mắt vật lý, mà quan trọng hơn là
việc chữa lành "đôi mắt tâm hồn".
Bài đọc I:
Cách nhìn của Thiên Chúa
Trong việc
chọn lựa vua Đavít, Thiên Chúa đã dạy tiên tri Samuel một bài học đắt
giá: "Thiên Chúa không nhìn theo cách nhìn của con người: con
người nhìn bên ngoài, còn Thiên Chúa nhìn thấu tận tâm can".
Chúng ta
thường bị đánh lừa bởi vẻ hào nhoáng, địa vị hay ngoại hình. Mùa Chay là dịp để
chúng ta xin Chúa chỉnh lại "thấu kính" của tâm hồn, để biết nhìn
nhận giá trị đích thực của anh chị em xung quanh qua cái nhìn yêu thương của
Chúa.
Tin Mừng:
Hành trình từ bóng tối bước vào đức tin
Phép lạ chữa
người mù bẩm sinh là một vở kịch dài với nhiều nhân đoạn tương phản:
- Người
mù bẩm sinh: Anh ta không chỉ được sáng mắt mà còn trải qua một tiến
trình đức tin tuyệt vời. Ban đầu anh gọi Chúa là "ông Giêsu",
sau đó là "một vị ngôn sứ", và cuối cùng anh sấp mình thờ
lạy Ngài: "Thưa Ngài, tôi tin".
- Những
người biệt phái: Họ có đôi mắt sáng, thông thạo lề luật, nhưng lại mù
lòa về tâm linh. Họ từ chối sự thật vì những định kiến và lòng kiêu ngạo. Họ
thấy phép lạ nhưng chỉ lo tranh cãi về ngày Sabát.
- Sứ
điệp của Chúa Giêsu: "Tôi là ánh sáng thế gian". Ngài
đến để đảo lộn trật tự: người mù thì được thấy, còn kẻ tự cho mình là thấy thì
lại trở nên mù lòa.
Từ câu
chuyện này, chúng ta rút ra 3 điểm suy niệm:
- Nhận
diện "điểm mù" của bản thân: Ai trong chúng ta cũng có những
"vùng tối". Đó là sự ích kỷ, thành kiến, sự ghen tị khiến chúng ta
không thấy được điều tốt nơi người khác. Hãy can đảm thừa nhận: "Lạy Chúa,
con đang mù, xin chữa lành cho con".
- Rửa
sạch tại hồ Siloam: Chúa bảo người mù đi rửa tại hồ Siloam (nghĩa là
"Người được sai đi"). Phép rửa tội chúng ta đã lãnh nhận chính là hồ
Siloam ấy. Mùa Chay là lúc chúng ta trở về với ân sủng Phép Rửa để tẩy sạch
những bụi bặm của tội lỗi đang làm mờ mắt mình.
- Trở
thành chứng nhân của Ánh Sáng: Như lời Thánh Phaolô trong Bài đọc II
(Ep 5, 8-14): "Xưa anh em là bóng tối, nhưng nay anh em là ánh sáng
trong Chúa". Người Kitô hữu không chỉ nhìn thấy ánh sáng, mà còn
phải phản chiếu ánh sáng đó qua hành động nhân ái, sự thật thà
và lòng bao dung.
Thế giới hôm
nay có quá nhiều thứ làm chúng ta lóa mắt nhưng lại khiến tâm hồn mịt mù. Xin
ban cho chúng ta đức tin của người mù trong Tin Mừng, để dù trong nghịch cảnh,
chúng ta vẫn nhận ra sự hiện diện của Chúa. Xin cho chúng ta được thấy Chúa
trong mọi người và thấy mọi người trong tình yêu của Chúa.
Suy niệm 5:
LỄ THIẾU NHI
Các em thiếu
nhi thân mến,
Cha hỏi các
em một câu nhé.
- Nếu tối
nay điện trong nhà tắt hết, tối thui luôn… các em có sợ không?
Nhiều bạn sẽ
nói: “Có!”
- Vì khi tối
quá: chúng ta không thấy đường, dễ đụng bàn ghế, thậm chí đụng đầu cái “cốp”
nữa!
- Lúc đó
chúng ta cần gì?
- Đúng rồi:
cần ánh sáng. Chỉ cần bật một cái đèn lên thôi là: thấy đường đi, thấy đồ vật,
và hết sợ ngay.
Các em thân
mến,
Bài Tin Mừng
hôm nay kể về một người bị mù từ khi mới sinh.
Anh chưa
từng thấy: mặt trời, cây cối, hay khuôn mặt cha mẹ mình.
Một ngày
kia, Chúa Giêsu đi ngang qua. Ngài làm một việc rất lạ: Ngài trộn bùn, xức vào
mắt anh, rồi bảo anh đi rửa.
Sau khi rửa
xong… Anh mở mắt ra… và nhìn thấy!
Anh thấy bầu
trời. Anh thấy con người. Anh thấy thế giới. Anh vui lắm! Nhưng điều đặc biệt
hơn nữa là: Không chỉ mắt anh được sáng,
mà tâm hồn anh cũng sáng lên. Anh bắt đầu tin vào Chúa Giêsu.
Các em thiếu
nhi thân mến,
Chúng ta hôm
nay không bị mù mắt. Nhưng đôi khi chúng ta lại mù trong tâm hồn.
Ví dụ như
khi: chúng ta nói dối, cãi lời cha mẹ, đánh nhau với bạn, ganh tị, không chịu
đi lễ hoặc học giáo lý... Những điều đó giống như bóng tối trong lòng mình.
Vậy ai là
ánh sáng? Chúa Giêsu.
Đúng vậy, Chúa Giêsu đã nói: “Thầy là ánh sáng thế gian.”
Khi chúng
ta: cầu nguyện, đi lễ, học giáo lý, làm điều tốt, yêu thương bạn bè..., thì ánh
sáng của Chúa chiếu vào lòng chúng ta.
Cha hỏi các
em một câu nữa nhé: Các em muốn làm đứa trẻ của ánh sáng hay đứa trẻ của bóng
tối?
Chắc chắn là
ánh sáng, đúng không?
Vậy từ hôm
nay chúng ta cố gắng: ngoan với cha mẹ, không nói dối, yêu thương bạn bè, siêng
năng đi lễ và học giáo lý
Cuối bài Tin
Mừng, người mù đã nói một câu rất đơn giản: “Trước đây tôi mù, bây giờ
tôi nhìn thấy.” Cha mong mỗi em sau Mùa Chay này cũng có thể nói:
“Trước đây con chưa ngoan…nhưng bây giờ con muốn sống tốt hơn.”
Xin Chúa
Giêsu là Ánh Sáng luôn soi sáng tâm hồn các em để các em trở thành những em thiếu nhi ngoan của Chúa. Amen.
Suy niệm
6: MÙ – MỞ – MỘ
Từ đầu Mùa
Chay đến nay, phụng vụ dẫn chúng ta bước đi trên một hành trình thiêng liêng:
Chúa Giêsu vào hoang địa để chiến thắng cám dỗ; lên núi cao tỏ lộ vinh quang;
rồi đến giếng nước Samaria để ban nguồn nước hằng sống.
Hôm nay,
trong Chúa nhật IV Mùa Chay, Chúa lại gặp gỡ một người mù từ thuở mới sinh và
ban cho anh được sáng mắt. Qua dấu lạ ấy, Chúa mời gọi chúng ta mở đôi mắt đức
tin để nhận ra ánh sáng của Người giữa cuộc đời.
Trong tâm
tình đó, chúng ta cùng sốt sắng hiệp dâng Thánh lễ, xin Chúa chữa lành những
bóng tối trong tâm hồn, để chúng ta biết sống trong ánh sáng của Chúa và trở
nên ánh sáng cho mọi người.
Có một câu
chuyện vui kể rằng: một ông cụ lớn tuổi đi khám mắt.
Sau khi khám
xong, bác sĩ hỏi:
- “Cụ thấy
mắt mình dạo này thế nào?”
Ông cụ thở
dài trả lời:
- “Bác sĩ
ơi, chắc mắt tôi yếu rồi!”
Bác sĩ hỏi
tiếp:
- “Cụ thấy
mờ à?”
Ông cụ đáp:
- “Không
hẳn… Tôi vẫn thấy tivi rất rõ!”
Bác sĩ ngạc
nhiên:
- “Vậy thì
tốt chứ, sao cụ bảo mắt yếu?”
Ông cụ mới
phân trần:
- “Nhưng lạ
lắm bác sĩ ạ! Tôi nhìn tivi thì rõ, nhưng nhìn vợ tôi thì… lúc nào cũng thấy
sai!”
Cả phòng
khám được một trận cười vui vẻ về câu trả lời dí dỏm của cụ.
Nhưng khi
suy nghĩ kỹ lại thì câu chuyện ấy lại nói lên một sự thật:
Nhiều khi mắt chúng ta vẫn thấy, nhưng chúng ta lại không thấy đúng điều
cần và đáng thấy.
Tin Mừng hôm
nay kể chuyện Chúa Giêsu chữa một người mù từ khi mới sinh. Nhưng điều
đáng suy nghĩ là: trong câu chuyện này không chỉ có một người mù, mà còn
có nhiều người mù theo những cách khác nhau.
Để tóm gọn
sứ điệp Tin Mừng hôm nay, chúng ta có thể dùng ba chữ “M”: MÙ-MỞ-MỘ.
1. MÙ
Tin Mừng bắt
đầu bằng hình ảnh một người mù bẩm sinh.
Anh chưa bao
giờ thấy ánh sáng. Chưa bao giờ thấy khuôn mặt của cha mẹ. Chưa bao giờ thấy
bầu trời hay cảnh vật chung quanh. Cuộc đời anh chỉ là bóng tối.
Nhưng điều
đáng suy nghĩ trong câu chuyện này là không chỉ có anh mù về
thể lý, mà còn có những người mù trong tâm hồn. Đó chính là
những người Pharisêu. Họ thấy phép lạ, nhưng không tin. Họ thấy sự
thật, nhưng không chấp nhận. Họ thấy Chúa, nhưng lại chống
đối. Vì thế Chúa Giêsu nói một câu rất sâu sắc: “Những ai thấy
lại trở nên mù.”
Trong cuộc
sống hôm nay cũng vậy. Có những lúc chúng ta mù trước nhiều điều: mù
trước nỗi khổ của người nghèo, mù trước lỗi lầm của chính mình, mù
trước những ân huệ Chúa ban, mù trước tình yêu của Thiên Chúa. Có
khi mắt chúng ta sáng, nhưng tâm hồn lại rất đen tối.
2. MỞ
Chúa Giêsu
không bỏ mặc người mù. Ngài chủ động đến gần bên anh.
Ngài trộn bùn, xức vào mắt anh và sai anh đi rửa ở hồ Silôê. Và thật lạ lùng,
sau khi rửa xong, mắt anh được mở ra. Hãy tưởng tượng niềm vui
của anh: Lần đầu tiên anh thấy ánh sáng. Lần đầu tiên anh thấy con người. Lần
đầu tiên anh thấy cả thế giới.
Nhưng phép
lạ của Chúa không chỉ dừng lại ở đôi mắt. Chúa còn mở cả
tâm hồn anh. Vì Đức tin của anh được lớn lên từng bước:
- Ban đầu
anh nói: “Người tên là Giêsu.”
- Sau đó anh
nói: “Người ấy là một ngôn sứ.”
- Cuối cùng
anh tuyên xưng: “Lạy Ngài, tôi tin.”
Nghĩa là
Thiên Chúa. Như Vậy, Chúa Giêsu không chỉ mở mắt anh mà Người
còn mở cả trái tim của anh.
Mùa Chay là
thời gian Chúa muốn mở mắt tâm hồn chúng ta:
- để ta nhận
ra tội lỗi của mình
- để ta cảm
nhận tình yêu của Chúa
- để ta thấy
được anh chị em đang cần chúng ta giúp đỡ.
3. MỘ
Sau khi được
sáng mắt, người mù không giữ im lặng. Anh can đảm làm chứng cho Chúa. Dù
bị chất vấn. Dù bị gây áp lực. Dù cuối cùng bị đuổi ra khỏi hội đường. Anh
vẫn nói một câu rất đơn sơ nhưng hết sức mạnh mẽ: “Trước
đây tôi mù, nhưng bây giờ tôi thấy.”
Đó chính
là lời tuyên xưng đức tin. Anh không chỉ thấy Chúa, không
chỉ tin Chúa, mà còn mộ Chúa, nghĩa là yêu mến Chúa và gắn bó
với Ngài. Khi con người mộ Chúa, thì họ sẵn sàng: đứng về phía
sự thật, bảo vệ điều đúng, sống hoàn toàn cho Chúa.
Vì thế Thánh
Phaolô trong bài đọc II nhắc nhở chúng ta: “Xưa anh em là bóng tối,
nhưng bây giờ anh em là ánh sáng trong Chúa.”
Kính thưa
cộng đoàn,
Tin Mừng hôm
nay là hành trình từ bóng tối đến ánh sáng, được gói gọn trong ba chữ
“M” rất dễ nhớ: MÙ – MỞ – MỘ.
Chúng ta
từng mù trong tội lỗi. Nhưng Chúa Giêsu đã đến mở mắt tâm hồn chúng
ta. Và Ngài mời gọi chúng ta mộ Chúa, yêu mến Chúa và mở lòng ra để làm
chứng cho Ngài.
Ước gì trong
Mùa Chay này, mỗi người chúng ta cũng có thể nói như người mù trong Tin
Mừng: “Lạy Chúa, trước đây con mù, nhưng bây giờ con thấy.” Amen.
Suy niệm
7: THẤY – TIN – SỐNG
Có một cậu
bé bị mù từ nhỏ.
Một ngày
kia, có người nói với em:
- “Thiên
Chúa yêu con.”
Cậu bé hỏi
lại:
- “Thiên
Chúa là ai? Con chưa bao giờ thấy Ngài.”
Người kia
trả lời:
- “Thiên
Chúa giống như ánh mặt trời.”
Cậu bé ngạc
nhiên:
- “Nhưng con
cũng chưa bao giờ thấy mặt trời.”
Người kia
kiên nhẫn giải thích:
- “Con không
thấy mặt trời, nhưng con cảm nhận được hơi ấm của nó, phải không?”
- Cậu
bé gật đầu.
Người kia
nói tiếp:
- “Thiên
Chúa cũng vậy. Dù con không thấy Ngài bằng mắt, nhưng con có thể cảm nhận
được tình yêu của Ngài.”
Cậu bé im
lặng một lúc rồi mỉm cười và nói:
- “Nếu vậy,
chắc Thiên Chúa rất gần con.”
Câu chuyện
nhỏ này nhắc chúng ta một điều hết sức quan trọng là: Có những điều quan
trọng trong cuộc đời không phải chỉ thấy bằng mắt, mà còn
phải thấy bằng trái tim nữa.
Người mù
trong Tin Mừng hôm nay cũng vậy. Ban đầu anh chỉ thấy bằng đôi mắt, nhưng
cuối cùng anh đã thấy Chúa bằng đức tin.
Có thể nói,
hành trình sáng mắt của anh cũng chính là hành trình đức tin của mỗi Kitô
hữu chúng ta. Hành trình có thể được tóm gọn bằng ba từ quan
trọng: THẤY – TIN – SỐNG.
1. THẤY
Điều đầu
tiên xảy ra trong Tin Mừng là người mù được thấy.
Chúa Giêsu
trộn bùn, xức vào mắt anh và sai anh đi rửa ở hồ Silôê. Khi anh rửa xong, anh
nhìn thấy ánh sáng lần đầu tiên trong đời.
Hãy tưởng tượng
niềm vui của anh: lần đầu thấy bầu trời, lần đầu thấy cây cối, lần đầu thấy
khuôn mặt cha mẹ. Cả thế giới như mở ra trước mắt anh.
Nhưng điều
quan trọng hơn là: Chúa Giêsu không chỉ muốn mở mắt thể lý, mà
còn muốn mở mắt tâm hồn.
Trong cuộc
sống, nhiều khi chúng ta có mắt sáng nhưng lại không thấy điều quan trọng:
không thấy nỗi đau của người nghèo, không thấy sự hy sinh của cha mẹ, không
thấy tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc đời mình.
Mùa Chay là
thời gian Chúa muốn mở mắt tâm hồn chúng ta.
2. TIN
Sau khi được
sáng mắt, người mù không chỉ thấy, mà còn tin. Đức
tin của anh lớn lên từng bước:
Ban đầu anh
nói: “Người tên là Giêsu đã chữa tôi.”
Sau đó anh
nói: “Người ấy là một ngôn sứ.”
Cuối cùng
khi gặp Chúa Giêsu, anh quỳ xuống và thưa: “Lạy Ngài, tôi tin.”
Anh từ
chỗ mù mắt trở thành người có đức tin sáng tỏ. Trong
khi đó, những người Pharisêu lại không tin. Họ thấy phép lạ
nhưng vẫn cứng lòng. Vì vậy Chúa Giêsu nói: “Tôi đến thế gian này để
những ai không thấy thì được thấy, còn những ai thấy lại trở nên mù.”
Có một loại
mù còn nguy hiểm hơn mù mắt: đó là mù trong tâm hồn.
3. SỐNG
Tin Mừng
không dừng lại ở thấy hay tin, mà còn dẫn đến sống.
Khi đã tin
vào Chúa, người mù can đảm làm chứng cho sự thật.
Anh không sợ
bị chất vấn, không sợ bị đe dọa, thậm chí bị đuổi ra khỏi hội đường. Nhưng
anh vẫn mạnh mẽ tuyên bố: “Trước đây tôi mù, nhưng bây giờ tôi thấy.” Đó
là một lời chứng sống động.
Thánh Phaolô
cũng nhắc chúng ta: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ anh em là
ánh sáng trong Chúa.”
Nếu chúng ta
đã gặp Chúa, chúng ta cũng phải sống như con cái ánh sáng: sống ngay
thẳng, sống yêu thương, sống chân thật, sống bác ái.
Đức tin
không chỉ ở trong nhà thờ, mà phải tỏa sáng trong cuộc
sống mỗi ngày.
Kính thưa
cộng đoàn,
Tin Mừng hôm
nay tóm lại trong ba từ rất đơn giản nhưng rất quan trọng: THẤY-TIN-SỐNG.
Chúa mở mắt
chúng ta để thấy ánh sáng. Chúa mời gọi chúng ta tin vào Ngài. Và
Ngài muốn chúng ta sống như con cái ánh sáng.
Ước gì trong
Mùa Chay này, Chúa Giêsu cũng chạm vào mắt tâm hồn chúng ta, để mỗi người
có thể nói như người mù trong Tin Mừng: “Trước đây con mù, nhưng bây giờ
con thấy.” Amen.
Suy niệm 8: THẤY – TIN – SỐNG (LỄ THIẾU NHI)
Các
con thiếu nhi thân mến,
Cha
hỏi các con một câu nhé:
Nếu
bây giờ chúng ta nhắm mắt lại thì có thấy gì không?
(Các
con sẽ trả lời: Không thấy!)
Đúng
rồi. Khi không thấy thì chúng ta rất khó đi, dễ đụng vào bàn ghế, rất bất tiện.
Trong Tin Mừng hôm nay có một người bị mù từ
khi mới sinh. Suốt cuộc đời anh không thấy gì cả: không thấy bầu
trời, không thấy cây cối, cũng không thấy khuôn mặt của cha mẹ.
Một ngày kia Chúa Giêsu gặp anh. Chúa lấy
bùn xức vào mắt anh và nói: “Anh hãy đi rửa ở hồ Silôê.”
Anh nghe lời Chúa, đi rửa… và điều kỳ diệu xảy
ra: Anh bắt đầu nhìn thấy!
Các con thử tưởng tượng xem: Lần đầu tiên anh thấy
ánh sáng. Lần đầu tiên anh thấy cây cối. Lần đầu tiên anh thấy con
người.
Chắc anh vui lắm!
Nhưng câu chuyện Tin Mừng hôm nay không chỉ nói về
đôi mắt, mà còn nói về tâm hồn. Cha muốn các con nhớ ba từ rất
dễ nhớ:
1. THẤY
Chúa giúp người mù thấy được ánh sáng. Nhưng
Chúa cũng muốn mở mắt tâm hồn chúng ta.
Cha hỏi các con nhé:
- Ai cho chúng ta cơm ăn mỗi ngày?
(Các con: Cha mẹ!)
- Ai yêu thương chúng ta luôn luôn?
(Các con: Chúa Giêsu!)
Nhiều khi chúng ta có mắt nhưng lại không thấy
những điều tốt đẹp đó.
2. TIN
Sau khi được sáng mắt, người mù tin vào Chúa
Giêsu.
Cuối cùng anh quỳ xuống và nói: “Lạy Ngài, tôi
tin.”
Các con có tin Chúa Giêsu yêu các con không?
Nếu tin, các con hãy trả lời thật to: “Con tin!”
3. SỐNG
Tin Chúa không chỉ nói bằng miệng mà còn sống
bằng hành động. Cha hỏi các con:
- Ngoan với cha mẹ là ánh sáng hay bóng tối?
- Nói dối là ánh sáng hay bóng tối?
Chúa muốn chúng ta sống như con cái ánh sáng:
ngoan ngoãn, thật thà, biết giúp bạn bè, biết cầu nguyện
Các con thân mến,
Tin
Mừng hôm nay rất dễ nhớ với ba từ: THẤY-TIN-SỐNG
Chúa
mở mắt chúng ta để thấy điều tốt. Chúa mời gọi chúng ta tin vào Ngài.
Và Chúa muốn chúng ta sống như con cái ánh sáng.
Ước
gì hôm nay mỗi bạn thiếu nhi đều nói với Chúa: “Lạy Chúa Giêsu, con tin Chúa
và con muốn sống tốt mỗi ngày.” Amen.
Thứ
hai: Is 65, 17-21; Ga 4, 43-54
Suy niệm 1:
Đức tin
chính là thần dược chữa lành mọi bệnh tật cho con người. Chính đức tin, viên sĩ
quan đã đặt trọn vẹn lòng cậy trông và hy vọng vào Chúa. Nhờ đức tin mà phép lạ
Chúa được thực hiện và con ông được cứu chữa. Xin Chúa ban thêm lòng tin nơi
chúng ta.
Ông viên sĩ
quan trong bài tin mừng hôm nay vì tin tưởng vào Chúa Giêsu nên ông đã đặt trọn
niềm hy vọng vào Chúa:
Hy vọng vào
Chúa, nên ông đã ra đi tìm đến Chúa Giêsu.
Hy vọng nơi
Chúa, ông đã không ngại kêu xin và kiên nhẫn nài nỉ Chúa đến nhà cứu sống con
ông.
Hy vọng ở
Chúa, ông đã khiêm tốn đón nhận mọi thử thách: “Các ông mà không thấy dấu lạ
điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu”. Dẫu bị mỉa mai, nhưng ông vẫn khiêm
tốn kiên nhẫn kêu xin.
Cũng chính
vì hy vọng rất nhiều vào Chúa, ông đã tin nhận Lời Chúa và an tâm ra về: “Cứ về
đi, con ông sống.”
Nhờ bởi lòng
tin mạnh mẽ của viên sĩ quan ngoại giáo mà con ông đã được Chúa cứu khỏi chết
và cả gia đình ông được ơn đức tin.
Tin chính là
đặt hết niềm hy vọng vào Chúa. Trao cho Chúa mọi lắng lo, khốn khó của cuộc
đời.
Con cái là
món quà quý giá và là kho báu vô tận. Đau đớn, bệnh tật của con cái cũng chính
là nỗi đau của bậc làm cha mẹ. Nhưng chính trong những lúc đau khổ ấy, lại làm
cho viên sĩ quan ngoại giáo có được niềm tin. Và khi gặp gỡ Chúa Giêsu niềm tin
của ông càng được thêm củng cố lạ thường, có sức mạnh cứu rỗi cho cả gia đình
ông.
Chúng ta
cũng vậy, niềm tin của chúng ta cần được trui rèn, để sau những thử thách đau
thương, đức tin chúng ta càng được vững mạnh hơn.
Cuộc sống
không nhất thiết phải đón nhận ơn lành qua những phép lạ như người cha trong
bài tin mừng hôm nay. Điều quan trọng là trong mọi biến cố vui hay buồn, thành
công hay thất bại,..ta nhận ra được ý muốn của Chúa cần gì nơi ta, giúp ta
thanh luyện tâm hồn thêm vững mạnh hơn vào tình thương và quyền năng của Chúa.
Trong cuộc sống,
chúng ta xin ơn Chúa rất nhiều nhưng lại quên xin ơn rất quan trọng là ơn Đức
Tin. Chắc chắn đức tin của ta vẫn còn yếu kém. Mùa chay này, chúng ta hãy tha
thiết xin Chúa gia tăng thêm niềm tin nơi chúng ta.
Suy niệm 2:
Ngày đầu
tuần, chúng ta cùng hướng về Thánh Thần, Ngôi Ba TC để xin ơn biến đổi
đời sống nên kiên vững hơn trong đức tin, với mong muốn trở nên những chứng
nhân trung thành cho tin mừng cứu độ của Chúa.
Sau cuộc trở
về quê hương Nazareth thuộc miền nam Giuđêa, không được dân làng đón nhận. Chúa
Giêsu trở lại miền Canaan thuộc miền Galilê. Như chúng ta cũng biết tại nơi
này, trước đây Chúa Giêsu đã thực hiện phép lạ đầu tiên, hóa nước lả thành rượu
ngon giúp cho tiệc cưới được trọn niềm vui và đôi tân hôn đong đầy hạnh phúc,
nhờ sự quan tâm và lời kêu xin của Đức Maria. Và hôm nay cũng tại nơi này, Chúa
Giêsu tiếp tục làm phép lạ thứ hai để cứu sống đứa con trai sắp chết của viên
sĩ quan người ngoại giáo cũng chính nhờ vào lời kêu xin khẩn thiết của ông.
Cả hai phép
lạ đều minh chứng quyền năng của TC nơi Đức Giêsu. Tuy nhiên uy quyền của Thiên
Chúa chỉ được thực thi một khi con người biết tin tưởng và phó thác tuyệt đối
vào tình thương của Chúa.
Nhờ vào niềm
tin vững vàng của Mẹ Maria mà phép lạ được thực hiện nơi tiệc cưới Cana.
Nhờ lòng tin mạnh mẽ của viên sĩ quan ngoại giáo mà đứa con trai của ông đã
được Chúa Giêsu cứu chữa. Như vậy, đức tin chính là chìa khóa mở ra ánh sáng hy
vọng và là điều kiện căn bản để quyền năng và ân sủng của Chúa được tỏ lộ.
Xin Chúa ban
thêm lòng tin nơi chúng ta, để ngay trong những lúc khó khăn, nguy khốn nhất
của cuộc đời, chúng ta vẫn đặt trọn niềm tin vào tình thương và quyền năng của
Người.
Suy niệm 3:
Tin Mừng hôm
nay, thánh Gioan trình thuật lại phép lạ Chúa Giêsu chữa lành cho con trai của
một viên sĩ quan cận vệ nhà vua. Điều đáng chú ý là phép lạ ấy không xảy ra
trực tiếp hay công khai, nhưng diễn ra âm thầm, từ xa, nhờ vào lòng tin của
người cha: “Ông tin vào lời Đức Giêsu nói với mình, và ông ra về”.
Không đòi
hỏi dấu lạ ngay lập tức, ông tin vào lời nói đơn sơ của Chúa: “Con ông
sống”. Và chính khi ông quay về, ông thấy lời ấy thành sự thật, đứa con ông
đã lành bệnh đúng giờ Chúa Giêsu đã phán.
- Lòng tin
chân thành không cần điều kiện: Viên sĩ quan không đòi hỏi phải thấy tận mắt
phép lạ. Ông tin vào Lời Chúa, và chính đức tin ấy mở lối cho ân sủng Chúa tuôn
ban.
- Tin tưởng
và vâng phục: Ông không tranh luận, không ngờ vực. Lời Chúa đủ để ông hành động. Niềm
tin ấy chính là điều Chúa Giêsu luôn tìm kiếm nơi mỗi chúng ta.
- Chúa
vẫn hành động âm thầm: Nhiều khi chúng ta cầu nguyện và không thấy ngay kết
quả. Nhưng Chúa vẫn nghe biết và làm việc theo cách thức của Ngài. Điều Chúa
cần nơi ta là đức tin vững vàng.
Xin Chúa cho
chúng ta biết tin tưởng vào lời của Chúa với và sẵn sàng bước đi trong ánh sáng
của Lời Chúa với tinh thần phó thác. Trong những lúc mịt mù hay bế tắc, xin
cho chúng ta luôn giữ vững niềm tin vào quyền năng và tình thương của Chúa.
Thứ ba: Ed
47, 1-9.12; Ga 5, 1-3.5-16
Suy niệm 1:
Thiếu bác ái
yêu thương, việc thực thi lề luật chỉ còn là cái xác không hồn và những hành
động của ta sẽ trở nên mù quáng. Tin mừng hôm nay kêu gọi chúng ta ý thức trách
nhiệm đối với nhau trong cuộc sống, bằng việc thực thi tình bác ái, qua việc
giúp đỡ những người nghèo khổ và bất hạnh. Đó là cách thức ta thể hiện tâm tình
tôn vinh Chúa.
Người bị bại
liệt suốt 38 năm dài được Tin Mừng hôm nay nói đến. Chắc hẳn đã-đang và sẽ gặp
rất nhiều khó khăn, đau khổ trong đời sống.
Khó khăn
trong việc tự chăm sóc bản thân; khó khăn trong việc đi lại; khó khăn mỗi khi
tiếp xúc với những người chung quanh.
Đau khổ vì
bệnh tật hành hạ; đau khổ vì bị mọi người bỏ rơi, ngay cả những người
thân “không có người đem xuống hồ…”. Đau khổ vì bị mọi người
khinh ghét, bị xã hội xem thường. Anh bị liệt vào thành phần “mang kiếp cầm
ca”, ăn bám xã hội. Nhưng có lẽ đau khổ nhất vẫn là nỗi đau mặc cảm vì bị mọi
người xem là người tội lỗi.
Nỗi khát
khao lớn nhất của anh là được làm người bình thường như bao người. Được xã hội
tôn trọng; được mọi người quan tâm, yêu mến; được tự do đi lại; nhất là được
khẳng định giá trị và phẩm giá làm người của mình.
Hôm nay Chúa
Giêsu đã trao ban cho anh món quà vô giá mà anh hằng khao khát đêm ngày, đó là
chữa anh khỏi căn bệnh bại liệt. Quả là niềm vui lớn lao, niềm vui chính đáng.
Ấy vậy mà niềm vui ấy lại bị sự chống đối bởi những giới chức Do Thái giáo:
“Hôm nay là ngày Sabát không được phép vác chõng”. Không những họ chống đối
quyền đi lại và làm người của anh, mà họ còn chống đối cả Chúa Giêsu vì đã vi
phạm ngày Sabát.
Lòng ích kỷ
và luật lệ vô hồn, quả là một gánh nặng, một rào cản đáng sợ, đẩy con người đến
chổ vô cảm và cư xử bất nhân với nhau, khiến người khác không thể vươn lên sống
xứng đáng là con người được. Họ lại không hiểu rằng: “vinh quang Thiên Chúa là
con người được sống”. Bất cứ nơi nào phẩm giá con người được nhìn nhận, bất cứ
một con người nào được tôn trọng, thì nơi đó Thiên Chúa được tôn vinh.
Xin cho
chúng ta ý thức rằng: khi chối bỏ và khước từ thể hiện lòng nhân ái đối với
người khác là chúng ta đã xúc phạm đến chính Thiên Chúa. Yêu thương và thực thi
bác ái đối với người khác cũng là cách chúng ta đền bù tội lỗi trong mùa chay
thánh này.
Suy niệm 2:
Tin mừng hôm
nay thuật lại phép lạ Chúa Giêsu chữa cho người bại liệt 38 được khỏi. Bại liệt
thể xác không nguy hiểm bằng bại liệt tâm hồn. Xin Chúa cũng cứu chữa căn bệnh
bại liệt tâm hồn của mỗi chúng ta.
Phụng vụ lời
Chúa hôm nay gửi đến chúng ta hai thông điệp quan trọng:
1. Chúa
Giêsu chính là nguồn nước sự sống mà tiên tri Edekiel đã nhìn thấy trong thị
kiến. Dòng nước mang đến sự sống phong phú cho mọi sinh vật, làm cho cây cối
luôn mãi xanh tươi, trổ sinh nhiều hoa trái tốt lành, làm của ăn nuôi sống con
người và lá của nó chữa lành nhiều bệnh tật. Hình ảnh đó tiên báo về Đức Giêsu.
Chính Ngài là nguồn nước của sự sống ấy. Để từ nay ai tin vào Ngài, đến với
Ngài và tắm trong ân sủng của Ngài thì mọi đau khổ, bệnh tật phần xác cũng như
phần hồn đều được cứu chữa lành sạch.
Đúng vậy,
người bị bất toại (bại liệt) 38 năm qua, tuy anh ta không được ai đem xuống hồ
Bethsaida mỗi khi nước động, nhưng anh ta lại được tắm trong nguồn nước tình
thương và ân sủng của Giê su nên tức khắc anh được lành bệnh.
2. Căn bệnh
tâm hồn nguy hiểm hơn bệnh thể xác. Vì thế sau khi chữa khỏi bệnh cho
anh ta, Chúa Giêsu mới căn dặn: “Này, anh đã được lành bệnh, đừng phạm
tội nữa, kẻo phải khốn khổ hơn trước”. Tội lỗi là căn bệnh tâm hồn,
khiến cho lòng ta trở nên tê liệt, không còn khả năng mở ra để đón nhận ân sủng
của Chúa và sống quảng đại với tha nhân. Con tim trở nên chai cứng không còn
khả năng cảm thương trước nỗi đau của người khác, tựa như những người biệt phái
và luật sỉ, chỉ biết giữ luật cách mù quáng nên đã nhẫn tâm tìm mọi cách chống
đối lại những phép lạ của Chúa Giêsu.
Xin cho mùa
chay này, chúng ta biết siêng năng tìm đến với Chúa Giêsu mà đắm mình trong
nguồn nước ân sủng của ngài, bằng cách tích cực tham dự các bí tích, nhất là bí
tích thánh thể và hòa giải, nhờ đó mà căn bệnh bại liệt tâm hồn của chúng ta hy
vọng mới được Chúa chữa lành.
Suy niệm 3:
Tin Mừng hôm
nay trình thuật lại cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu với một người đau yếu đã 38 năm
chờ đợi bên bờ hồ Bết-da-tha. Nhìn thấy anh và Ngài hỏi một câu tưởng chừng đơn
giản: “Anh có muốn khỏi bệnh không?” Câu hỏi ấy không chỉ dành
cho người bệnh năm xưa, mà còn vang vọng tới mỗi người chúng ta hôm nay.
Người bại
liệt không xin Chúa chữa lành, cũng không biểu lộ niềm tin. Anh ta chỉ bày tỏ
nỗi bất lực: “Thưa Ngài, không có ai đem tôi xuống hồ...” Anh
bất lực, cô đơn, bị lãng quên bởi xã hội. Nhưng chính trong hoàn cảnh
đó, Chúa Giêsu đã chủ động đến, nhìn thấy, cảm thông và chữa lành.
Điều đặc
biệt là Chúa chữa lành anh trong ngày sabát, ngày lề luật cấm
làm việc. Điều này khiến người Do Thái bắt đầu lên án Chúa. Nhưng Đức Giêsu
khẳng định: “Cha Thầy vẫn làm việc, thì Thầy cũng làm việc.” Nghĩa
là lòng thương xót của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi luật lệ, bởi định
kiến hay thời gian.
Bao lần
trong đời, chúng ta giống như người bại liệt kia, mỏi mòn đợi chờ, thất vọng vì
không ai giúp đỡ, bị tổn thương vì sự thờ ơ của người khác. Nhưng Chúa vẫn âm
thầm bước đến, nhìn thấy nỗi đau của ta, và hỏi: “Con có muốn được chữa
lành không?”
Câu hỏi ấy
mời gọi ta cộng tác với ơn Chúa, không chỉ ước muốn mà còn đứng dậy, vác
chõng và bước đi. Chúa không muốn ta tiếp tục nằm đó trong nỗi buồn, quá khứ
hay tội lỗi. Người muốn ta bắt đầu lại, sống một cuộc đời mới, tự do và hy
vọng hơn.
Xin Chúa cho
chúng con biết lắng nghe tiếng Chúa trong những giây phút tuyệt vọng nhất và
ban cho chúng con can đảm để đứng dậy, vượt qua sự lười biếng, tuyệt vọng hay
trì trệ của mình.
Xin chữa
lành chúng con khỏi những tổn thương sâu kín, giúp chúng con luôn biết tin
tưởng vào quyền năng và tình thương cứu độ của Chúa. Amen.
Thứ tư: Is
49, 8-15; Ga 5, 17-30
Suy niệm 1:
Người kitô
hữu, là người có Chúa Kitô. Nghĩa là từng suy nghĩ, lời nói và hành vi của ta
phải là của Chúa như chính Chúa Giêsu là hiện thân của Chúa Cha: “Ai thấy Ta là
thấy Cha”. Xin cho cuộc sống của chúng ta ngày càng phản ánh trung thực dung
mạo của Chúa Giêsu hơn, để qua ta, mà mọi người nhận biết Đức Giêsu.
Định luật
tình yêu dạy chúng ta rằng: “Yêu ai thì ở gần người ấy. Yêu ai thì nên giống
người ấy. Yêu ai thì muốn ở trong người ấy, và yêu ai thì sẵn sàng sống chết vì
người ấy”. Chính vì yêu mến Thiên Chúa là Cha, Chúa Giêsu đã trở nên giống Cha
mọi đàng.
Mối bận tâm
lớn nhất của Chúa Giêsu là thể hiện thánh ý Cha Ngài: “Lạy Cha, này con
xin đến để thi hành thánh ý Cha”. Chúa Giêsu khẳng định, suốt cuộc
đời, Ngài làm việc như Cha Ngài: “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc,
thì tôi cũng làm việc”. Chúa Giêsu cũng xác định cho chúng ta biết, Ngài
chính là hình ảnh của Thiên Chúa, vì “Ta và Cha là một”, và “Ai
thấy Ta là thấy cha”.
Như vậy, lẽ
sống của Chúa Giêsu là sống như Cha. Trong mọi sự, Ngài đều lấy Cha làm mẫu
mực. Và Ngài muốn chúng ta cũng phải lấy Cha làm mẫu mực cho đời sống
mình: “Các con hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời là Đấng trọn
lành”. Do đó muốn nên giống Chúa Cha ta chỉ cần nên giống Chúa Giêsu, bởi
chính Người là dung mạo đích thực của Chúa Cha.
Giống Chúa
Giêsu trong mối bận tâm duy nhất là cứu độ nhân loại.
Giống Chúa
Giêsu ở thái độ khiêm nhường vâng phục thánh ý Chúa Cha
Giống Chúa
Giêsu bằng cách sống thành thật: “Ta là đường là sự thật và là sự sống”.
Sự thật trong lời nói, trong việc làm, trong yêu thương.
Như trái tim
không bao giờ ngừng đập, tình thương cũng không bao giờ ngơi nghỉ. Chúa Giêsu
vẫn liên lỉ làm những việc tình thương, bất chấp là ngày Sa-bát, vì ngày Sa-bát
dù nghỉ ngơi, nhưng Thiên Chúa vẫn quang phòng vũ trụ và con nguời do chính
Ngài dựng nên.
Xin Chúa cho
chúng ta mỗi ngày trở nên giống Chúa Giêsu hơn, để tâm hồn, trái tim, suy nghĩ
và cách sống của chúng ta ngày càng phản ánh trung thực dung mạo của Chúa. Nhờ
đó mà mọi người nhận ra chúng ta là mộn đệ đích thật của Chúa Giêsu. Ngang qua cách
sống của ta danh Chúa được mọi người yêu mến và tôn vinh.
Suy niệm 2:
Bận tâm của
Chúa Giêsu khi đến trần gian là thực hiện thánh ý Thiên Chúa Cha, trở nên một
với Chúa Cha; Người cũng mong muốn chúng ta phản ánh trung thực lại khuôn mặt
đích thực của Người. Xin cho mỗi chúng ta luôn biết bận lòng thực thi
thánh ý Chúa, với mong muốn khuôn mặt của Đức Kitô giàu lòng thương xót được
khắc họa đậm nét hơn trong đời sống hàng ngày của chúng ta.
Đức Giêsu
chính là TC làm người. Ngài đến trần gian để nói cho chúng ta biết về Chúa Cha
và dạy cho chúng ta biết cách sống thế nào cho đẹp lòng Chúa Cha. Chúa Giêsu
không chỉ nói và hướng dẫn ta sống đẹp ý Cha mà Ngài còn sống để nêu gương
cho chúng ta. Để từ nay ai sống như Đức Kitô là sống đẹp lòng Chúa
Cha và xứng đáng trở thành con yêu dấu của Chúa Cha trong Chúa Giêsu Kitô.
Khi lãnh
nhận bí tích rửa tội, chúng ta được trở nên người Kitô hữu, nghĩa là người có
Chúa Kitô nơi bản thân mình. Vì thế mà những suy nghĩ, lời nói và hành vi của
ta phải là của Chúa. Để làm sao qua đời sống hàng ngày của ta
hình ảnh của Kitô được lớn lên, với mong muốn mọi người nhận ra
khuôn mặt đích thực của Chúa qua đời sống tốt lành của chúng ta, như Đức Giêsu
là hình ảnh trung thực của Chúa Cha. Amen.
Thứ
năm: 2Sm 7,4-5a.12-14a; Rm 4,13.16-18.22; Mt 1,16.18-21.24a
KÍNH THÁNH
GIUSE-BẠN TRĂM NĂM ĐỨC TRINH NỮ MARIA
Tên Giuse có nghĩa là gì?
Tên Giuse tiếng Do Thái là Yosef. Yosef bao gồm từ Jo được rút gọn bởi từ
Jeho, Yahweh, nghĩa là Thiên Chúa; và sef là viết tắt của động từ jasaf, có
nghĩa là “gia tăng”.
Như vậy, danh xưng Josef hay Giuse có nghĩa là “Thiên Chúa gia tăng phúc
lành”
Nguồn gốc của tên Joseph:
Joseph là một cái tên trong Kinh thánh, là con trai của ông Jacob, và là
chồng của Đức Trinh Nữ Maria. Theo tiếng Do Thái, Joseph, nghĩa là “chính
Người sẽ thêm vào”. Đó là một cái tên đẹp. Cái tên ấy trở nên đầy ý nghĩa khi
được gắn vào cuộc đời Thánh Giuse. Tất cả những gì ngài có thể làm chỉ là hoàn
tất sứ mạng được trao phó cho mình.
Khi được
trao sứ mạng, Thánh Giuse đã không đặt bất cứ câu hỏi gì về việc mình phải làm,
cũng không thắc mắc liệu việc ấy sẽ đi đến đâu? kết quả sẽ như thế nào? Ngài
cộng tác với kế hoạch của Thiên Chúa bằng cách làm hết sức mình, hết phần của
mình. Tất cả những gì còn lại, chính Thiên Chúa sẽ ra tay. “Chính Người sẽ thêm
vào”.
Sau khi hoàn
tất sứ mạng được trao, ngài âm thầm rút lui và ẩn mình vào thinh lặng. Biết đặt
mình đúng vị trí, biết khiêm tốn đảm nhận vị trí của mình. Ấy là cách Thánh
Giuse trở nên đặc biệt và bất khả thay thế trong kế hoạch của Thiên Chúa.
Làm con cái
Chúa, mỗi người được mời gọi sống một cuộc đời đặc biệt. Mỗi người đều có một
cái tên đặc biệt, một vị trí đặc biệt trong kế hoạch của Thiên Chúa. Sự
đặc biệt này được làm nên không phải vì phẩm chất hay khả năng riêng của từng
người, cũng không phải vì thành tích hay công trạng của người đó. Ai cũng có
khả năng trở nên đặc biệt khi biết cộng tác hết mình với Thiên Chúa, làm hết
những gì có thể trong khả năng, đồng thời xác tín chính Thiên Chúa sẽ hoàn tất
những gì Người đã khởi sự bởi lẽ “chính Người sẽ thêm vào”. Điều quan
trọng là tin rằng chính mình được đóng góp một phần nhỏ bé trong kế hoạch của
Thiên Chúa, và biết lấy đó làm đủ.
Khi mỗi
người học được cách trở nên một Thánh Giuse khác cho cuộc đời, ngang qua họ,
Thiên Chúa có thể làm nên những kỳ công vĩ đại cho con người và thế giới hôm
nay.
SUY NIỆM 1:
THÁNH GIUSE DẠY TA SỐNG TINH THẦN MÙA CHAY
Không biết
vô tình hay hữu ý, năm nào cũng vậy, GH lại mừng kính thánh Giuse vào đúng lịch
PV mùa chay.
Chắn hẳn GH
rất có lý. Bời lẽ nếu mùa chay là mùa sám hối, trở về, thì sự trở về sâu
xa nhất lại chính là trở về chính mình và trở về với Thiên Chúa. Nói như
vậy thì hơn ai hết Thánh Giuse chính là mẫu gương tuyệt vời cho chúng ta về sự
trở về ấy.
1. Trước
hết thánh Giuse dạy ta bài học trở về với chính mình trong thinh lặng.
Khi đọc
các sách Tin Mừng, ta không thấy thuật lại bất cứ lời nào của thánh
Giuse, dù chỉ một lời nói với Mẹ Maria hay với Chúa Giêsu. Ngay cả khi gặp trẻ
Giêsu ở trong Đền Thờ sau những ngày lo âu tìm kiếm cũng không thấy lời
nào của ngài hé lộ. Có lẽ hơn ai hết thánh Giuse thấu hiểu về sự quý giá của
thinh lặng.
Đúng
thế cha ông chúng ta đã từng nói: "lời nói là bạc, im lặng là
vàng": nên chi thinh lặng giá trị hơn nói, vì nói chỉ là bạc mà im lặng
mới là vàng; là vàng thì bao giờ cũng quí hơn bạc!
Hơn nữa
thinh lặng còn là biểu hiện cho sự hiểu biết của một con người. Ông bà ta
thường nói “Ngôn giả bất tri, tri giả bất ngôn” : Người không biết thì lại
nhiều lời vì tưởng người khác không biết như mình, ngườì biết thì lại không
nói, vì nghĩ rằng mọi người đều biết. Ông Heidegger khuyên chúng ta thực tập
thinh lặng, bớt nói, bớt phát biểu, bớt bàn tán….không phải là ta ngu muội, vô
tri, nhưng để cho tâm hồn của chúng ta hoà quỵện với sinh linh vạn vật, và chỉ
khi đó chúng ta mới có thể thấu đạt hết mọi ngóc ngách, thông tường mọi thế
thái, biến chuyển trong sự biểu đạt khôn cùng của nhân sinh, và của nhiên giới.
Nhưng thực
tế đời sống cho thấy chúng ta lại thích nói và nói nhiều hơn là yêu mến sự
thinh lặng. Chính vì thế mà chúng ta đã sai lỗi quá nhiều trong lời nói vì “đa
ngôn thì đa quá”. Nói nhiều thì trở nên nói dai và kéo theo nói dở, nói ẩu và
dại nữa. Do đó hãy thận trọng trong lời nói. Bởi lời nói sẽ trở nên mối nguy cơ
đánh mất tình thương, chia cắt tình thân và gây nên đau khổ cho nhau.
Ném một lông
vịt vào trong gió, thì làm sao nhặt lại được. Một lời nói ra bốn ngựa đuổi theo
cũng không kịp “tứ mã nan truy”. Nên trong những lúc gặp phải những căng
thẳng và sóng gió trong đời, ta hãy học cùng thánh Giuse bài học thinh
lặng để lắng nghe được tiếng Chúa khẻ nói với ta mà làm theo, nhờ đó chúng ta
sẽ ngăn chặng được những đổ vỡ đáng tiếc xảy ra trong cuộc sống.
2. Thứ hai
thánh Giuse dạy ta bài học sự tín thác và sự vâng phục Thiên Chúa.
Nếu ông
Giacaria nghi ngờ về ý định của Thiên Chúa qua biến cố truyền tin trong đền thờ
lúc dâng hương. Mẹ Maria thì ngỡ ngàng với biến cố truyền tin, thì Giuse lại
hoàn toàn vâng phục thánh ý Thiên Chúa mà không một lời chấp vấn hay bối
rối gì cả.
Thánh Kinh
thuật lại: khi biết được Đức Maria mang thai là do quyền năng Chúa Thánh Thần,
Thánh Giuse đã không ngần ngại nhận Đức Maria về nhà mình để chở che và nuôi
dưỡng. Nhận lãnh hay bảo lãnh Đức Maria về nhà cũng đồng nghĩa Thánh Giuse giải
cứu Đức Maria khỏi búa rìu dư luận và thoát khỏi án tử. Việc bảo trợ Đức
Maria cũng có nghĩa là đồng bảo trợ Hài Nhi đang được cưu mang trong cung lòng
Đức Maria. Việc nhận Đức Giêsu làm con cũng đồng nghĩa với việc bảo trợ cho Đức
Giêsu sinh ra cách hợp pháp và đưa Đức Giêsu vào trong dòng tộc vua Đavít.
Vâng phục ý
Chúa, không chỉ bảo trợ cho Hài nhi Giêsu sinh ra hợp pháp mà thánh Giuse còn
bảo toàn mạng sống của Đức Giêsu khỏi nanh vuốt của vua Hêrôđê qua việc vâng
theo lời báo mộng của Chúa trong đêm mà nhanh chóng đem mẹ Người và Hài Nhi
Giêsu vượt đường xa hiểm trở gần 500 cây số xuyên qua sa mạc dài hơn 200 km
không một bóng cây, không một ngọn cỏ, không một giọt nước, rất gian khổ để đến
Ai-cập tị nạn. Và khi tình hình yên ổn, một lần nữa Giuse lại nghe theo
lời báo mộng bỏ Ai-cập đem gia đình trở về Palestine, định cư tại Nagiarét để
chăm sóc nuôi dưỡng bằng chính công sức lao động chân chính của mình với nghề
thợ mộc.
Còn chúng ta
thì khác, chúng ta thường tìm ý mình hơn là ý Chúa. Mỗi khi gặp phải những
nghịch cảnh xảy ra trong đời sống, ta thường kêu trách Chúa và lắm khi còn xúc
phạm đến Chúa nữa. Vì chúng ta cho rằng vâng phục thánh ý Chúa là hành động hèn
nhát, mất tự do và đánh mất nhân phẩm của mình. Thánh Giuse giúp chúng ta hiểu
rằng: không phải lúc nào chúng ta cũng biết được kế hoạch của Thiên Chúa
dành cho chúng ta. Chúng ta chỉ biết rằng cách của Người thì khác với cách
của chúng ta, nhưng cách của Người thì luôn luôn tuyệt vời nhất. Vì thế,
hãy tín thác và vâng phục thánh ý Thiên Chúa, để chúng ta sẽ trở nên những tôi
tớ trung thành và khôn ngoan theo gương thánh cả Giuse.
Lạy Chúa,
giữa bao triết lý và lắm luồng tư tưởng trong xã hội này, con phải chọn lựa như
thế nào?. Giữa những nền văn hóa đa dạng và những nền văn minh phức tạp, con
biết đâu là đúng, đâu là sai? Xin cho con chúng con mùa chay thánh này biết đến
với thánh cả Giuse để học nơi thánh nhân bài học của sự trở về trong thinh lặng
mà nhận ra thánh ý Chúa và trở về với Chúa để vâng phục thánh ý Ngài theo
gương thánh cả Giuse kính yêu. Amen.
SUY NIỆM 2:
NGƯỜI GIA TRƯỞNG TRUNG THÀNH
Hòa nhịp
cùng Giáo hội, hôm nay chúng ta long trọng mừng kính Thánh Giuse, bạn trăm năm
Đức Trinh Nữ Maria. Ngài là bổn mạng Giáo Hội Việt Nam, là bổn mạng của quý anh
em giới Gia trưởng, cách riêng một số anh em có thánh bổn mạng là
Giuse. Nhân dịp này chúng ta cùng nhau hướng về thánh Giuse để chiêm
ngưỡng đời sống tuyệt đẹp của Ngài mà học đòi bắt chước.
Khi nhìn vào
đời sống của thánh nhân, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đều đồng ý với nhau
rằng: thánh Giuse là một con người trung thành. Đây là nhân đức tuyệt đẹp, đáng
để cho chúng ta noi theo trong sứ mạng xây dựng và bảo vệ hạnh phúc gia
đình.
1. Thánh
Giuse trung thành bảo vệ gia đình.
Sau khi nhận
được thánh ý Thiên Chúa, Thánh Giuse đã sẵn sàng đứng ra để bảo trợ Thánh gia.
Thánh Kinh
thuật lại: khi biết được Đức Maria mang thai là do quyền năng Chúa Thánh Thần,
Thánh Giuse đã không ngần ngại nhận Đức Maria về nhà mình để chở che và nuôi
dưỡng. Nhận lãnh hay bảo lãnh Đức Maria về nhà cũng đồng nghĩa Thánh Giuse giải
cứu Đức Maria khỏi búa rìu dư luận và thoát khỏi án tử.
Việc bảo trợ
Đức Maria cũng có nghĩa là đồng bảo trợ Hài Nhi đang được cưu mang trong cung
lòng Đức Maria. Việc nhận Đức Giêsu làm con cũng đồng nghĩa với việc bảo trợ
cho Đức Giêsu sinh ra cách hợp pháp và đưa Đức Giêsu vào trong dòng tộc vua
Đavít.
Không chỉ
bảo trợ cho Hài nhi Giêsu sinh ra hợp pháp mà thánh Giuse còn bảo toàn mạng
sống của Đức Giêsu khỏi nanh vuốt của vua Hêrôđê. Để bảo toàn mạng sống của Đức
Giêsu, thánh Giuse phải vượt đường xa hiểm trở gần 500 cây số xuyên qua sa mạc
dài hơn 200 km không một bóng cây, không một ngọn cỏ, không một giọt nước, rất
gian khổ để đến Ai-cập tị nạn.
Ngoài việc
bảo vệ sự sống, bảo vệ mạng sống, Thánh Giuse còn phải bảo vệ cho Đức Maria và
Hài Nhi Giêsu được sống nữa. Ngài đã phải lao động vất vả tại xưởng mộc bé nhỏ
tại làng Nazarét để mưu tìm miếng cơm, manh áo, tiền nong để nuôi sống gia
đình.
Cuộc đời
thánh Giuse quả không phải sung sướng, an nhàn, trái lại ngài phải trãi qua
trăm chiều thử thách và đau khổ. Ý Chúa quan phòng để ngài nêu gương cho ta khi
gặp gian lao, thử thách cũng biết vui lòng hy sinh như ngài để bảo vệ sự sống,
mạng sống và tạo điều kiện cho gia đình mình được sống an bình.
Là người cha
phải hết lòng bảo vệ con cái mình khỏi tay kẻ dữ, khỏi bầu khí hận thù và bất
công. Đó là nhiệm vụ vô cùng to lớn của người gia trưởng.
Hằng ngày có
biết bao hài nhi bị hủy diệt trong bào thai. Chúng ta cũng đã từng chứng kiến
không ít những hài nhi vừa cất tiếng khóc chào đời lại bị chính cha mẹ chúng bỏ
rơi, thật đau lòng!
Cách bảo vệ
hài nhi an toàn nhất là chúng ta phải biết tỉnh thức để nghe tiếng Chúa nói
trong lương tri như Thánh Giuse, dù khi ngủ, ngài vẫn thức tỉnh nhận ra tiếng
Chúa nói trong giấc mộng.
2. Thánh
Giuse trung thành giáo dục con cái.
Tin mừng
thánh Luca đề cao nền giáo dục tuyệt vời của Thánh gia qua câu: “Hài nhi lớn
lên càng mạnh khỏe, khôn ngoan và đầy ân sủng trước mặt Chúa và người ta” (Lc
2,40-52). Chỉ một lời ngắn ngủi của thánh sử Luca nhưng đã diễn tả hầu như trọn
vẹn cách thế giáo dục của thánh Giuse và Đức Maria đối với con mình. Các ngài
đã để ý và giáo dục con mình về mọi phương diện: Thể dục, trí dục, đức dục …
- Thể dục: Trẻ
Giêsu càng lớn lên càng mạnh mẻ, đầy sức lực nhờ vào lao động nơi xưởng mộc
Nazarét mà thánh Giuse đã dày công tạo dựng. Lên 12 tuổi trẻ Giêsu đã đi bộ
suốt bốn năm ngày đàng lên Giêrusalem dự lễ, vậy mà không thấy Thánh kinh nói
trẻ Giêsu mệt mỏi. Sau này giảng đạo, Đức Giêsu đã đi khắp cùng làng mạc, thành
phố và cả những vùng lân cận nữa.
- Trí
dục: Càng tuyệt vời hơn khi mới 12 tuổi, cậu bé Giêsu của làng Nazarét quê mùa,
vô danh, ở tít vùng sâu, vùng xa đã đàng hoàng vào đền thờ ở thủ đô Giêrusalem,
ngồi giữa các thầy tiến sĩ vừa nghe vừa hỏi. Ai cũng ngạc nhiên về trí thông
minh và những lời đối đáp khôn ngoan của cậu. Nếu gia đình Thánh Giuse không
quan tâm đến việc hướng dẫn con mình học hỏi và trao dồi Thánh kinh thì làm gì
có sự hiểu biết như thế?
Mỗi ngày
Sabát là dịp tốt để tìm hiểu Thánh kinh và nghiên cứu Luật Chúa. Như trở thành
thói quen mà cha mẹ để lại. Sau này khi rao giảng Chúa Giêsu thường xuyên vào
Hội Đường đọc Lời Chúa, giảng dạy và chữa bệnh. Có lẽ nhờ việc quan tâm đến
giáo dục tri thức cho con mình nên Đức Giêsu đã thuộc lòng các khoản Luật và
Lời Chúa.
- Đức dục: Ngoài
đức công chính gắn liền với tên tuổi Thánh Giuse, chúng ta còn nhận thấy một
nhân đức khác nổi bậc nơi ngài nữa đó là đức vâng lời. Vâng lời thánh ý Thiên
Chúa, ngài đã bỏ ý riêng mình để đón nhận Đức Maria về nhà mình. Vâng lời Thiên
Chúa, ngài đã mau mắn đem Đức Maria và Hài Nhi trốn sang Aicập.
Chính nhờ
ảnh hưởng của một nền đạo đức như vậy mà Đức Giêsu trở nên người con hằng “đẹp
lòng Chúa Cha”. Cuộc đời Chúa Giêsu cũng tiếp nối bằng hai chữ “xin vâng” theo
thánh ý Chúa Cha như thánh Giuse và Đức Maria:
Vâng lời Chúa
Cha từ trời cao Người xuống thế, từ Vị Thiên Chúa trở nên người phàm, từ Đấng
Thánh Thiện lại gánh lấy tội nhân. Người vốn là giàu sang lại trở nên nghèo
khó…; và Ngài đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Vì thế nên Người
hằng xác quyết: “lương thực của Ta là làm theo Đấng đã sai Ta” (Ga 4,34). Ngoài
việc vâng lời Chúa Cha, Đức Giêsu còn luôn vâng lời thánh Giuse và Đức Maria:
“Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nazarét và hằng vâng phục các ngài” (Lc
2,51).
Vậy những
bậc cha mẹ cũng hãy noi gương thánh Giuse, quan tâm giáo dục con mình phát
triển toàn diện. Trung thành giáo dục như thế mới hy vọng con chúng ta trở nên
tốt.
Cùng với
Giáo Hội, chúng ta cũng đang sống trong tâm tình của mùa chay thánh. Nếu mùa
chay Giáo Hội mời gọi chúng ta trở về, thì trước hết, chúng ta hãy bắt đầu trở
về với chính mình, với những bổn phận của người chồng-vợ, người cha-mẹ, người
gia trưởng-hiền mẫu trong gia đình mình, bằng việc noi gương thánh Giuse trung
thành trong vai trò bảo trợ gia đình, trung thành trong trách nhiệm làm cha-mẹ
và nhất là trung thành trong việc giáo dục con mình trở thành người và thành
người con Chúa.
Vì sự sống
và hạnh phúc gia đình, xin cho các gia trưởng-hiền mẫu quyết sống với hai chữ
Trung Thành theo gương thánh Giuse. Amen.
SUY NIỆM 3:
Thánh Giuse
được gọi là đấng công chính. Bởi nơi ngài có những nhân đức cao quý, đáng được
GH gọi tên là vị thánh cả.
Trong kinh
cầu thánh Giuse, GH đã nêu lên cụ thể những tước hiệu cao trọng nơi thánh cả
Giuse; và qua đó GH mời gọi mọi tín hữu tìm đến với ngài để chiêm ngắm, cầu
nguyện và nêu gương bắt chước.
Vừa qua vào
ngày 8/12/2020 nhân kỉ niệm 150 (8/12/1970-8/12/2020), thánh Giuse đã được chân
phước Đức Giáo Hoàng Pio IX chọn làm thánh quan thầy cho toàn thể GH công giáo,
đức thánh cha Phanxicô đương nhiệm đã mở ra “năm kính thánh Giuse đặc biệt” và
ban hành tông thư “Patris Corde” (Trái tim của người cha). Trong tông thư này,
đức thánh cha Phanxicô đã nêu lên 7 chiều kích linh đạo căn bản của thánh Giuse
đó là: người cha yêu thương, dịu dàng từ ái, vâng phục, chấp nhận, can
đảm sáng tạo, làm việc chăm chỉ và bóng tối thầm lặng. Qua đó Đức Thánh Cha
muốn mời gọi mọi tín hữu hãy can đảm đi vào con đường linh đạo của thánh Giuse.
Tuy thánh
Giuse thầm lặng không nói gì, nhưng khi chiêm ngắm đời sống và hành trình cuộc
đời của thánh nhân trong suốt những năm trần thế ta lại nhận ra thánh nhân nói
với ta rất nhiều về những nhân đức quý giá trong cuộc sống. Chiêm ngắm thánh
Giuse trong bài tin mừng hôm nay, ta nhận ra ít là hai nhân đức cao quý mà
thánh Giuse muốn dạy chúng ta:
1. Luôn vâng
nghe và khiêm tốn thực hành ý Chúa:
Nhờ cầu
nguyện trong chiêm niệm mà thánh Giuse đã nhậy bén nhận ra thánh ý Chúa trong
mọi phút giây của đời sống. Biến cố Đức Maria mang thai bất ngờ, thánh nhân là
người công chính nên đã định tâm lìa bỏ cách kín đáo, nhưng sau khi nghe biết
đó là thánh ý của TC qua lời truyền tin của thiên thần Gabriel, thánh Giuse đã
mau mắn bỏ ý riêng để thi hành thánh ý Chúa trong tin yêu và vâng phục là đón
nhận Đức Maria và Con TC tượng thai trong lòng trinh nữ Maria về nhà mình để
bao bọc, dưỡng nuôi.
2. Yêu quý
giá trị của thinh lặng:
Đọc lại 4
phúc âm chúng ta không thấy lời nào của thánh Giuse. Thánh Giuse quả thật có
đời sống thinh lặng sâu xa, không phải vì thánh nhân sợ nói ra thì mất lòng
người khác; cũng không phải vì thanh quản của thánh nhân có vấn đề, nhưng có lẽ
vì thánh kinh muốn đề cao giá trị của thinh lặng của thánh nhân. Bởi thinh lặng
là vàng. Chính trong thinh lặng mà tâm hồn của thánh Giuse mới được lắng đọng
và trong suốt, nhờ đó ngài dễ dàng nhận ra đâu lá ý mình và đâu là ý Chúa trong
những biến cố xảy ra hàng ngày.
Hơn nữa có
lẽ thánh Giuse cũng không thích đề cao bản thân và hô hào cho mọi người biết về
sứ mạng cao quý mà TC trao phó cho ngài trong việc bảo trợ và dưỡng nuôi Con TC
làm người; cũng như ngài được vinh dự cộng tác với TC trong chương trình vĩ đại
là cứu độ nhân loại.
Trong thinh
lặng và tích cực chu toàn bổn phận, thánh Giuse đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
mà Thiên Chúa trao phó.
Hôm nay mừng
kính trọng thể thánh Giuse là bổn mạng của GH hoàn vũ, của GH Việt Nam, bổn
mạng của nhiều họ đạo, của hội dòng Mến Thánh Gía, của khá đông quý cha, quý tu
sĩ và quý anh em gia trưởng, ta hãy nguyện xin cho mọi người trong GH luôn biết
noi gương thánh cả Giuse yêu quý đời sống thinh lặng, biết khiêm tốn lắng nghe
lời Chúa và luôn can đảm từ bỏ ý riêng để thi hành thánh ý Chúa như thánh
Giuse.
Nguyện
xin Chúa qua lời chuyển cầu của thánh Giuse thương ban nhiều ân sủng, niềm vui,
bình an cho GH và mọi người nhờ sự bảo trợ hộ giúp của thánh Giuse, bạn trăm
năm của Đức Maria.
SUY NIỆM 4:
THÁNH GIUSE DẠY TA SÁM HỐI MÙA CHAY
Nếu mùa chay là mùa sám hối, trở về, thì có lẽ việc trở về sâu xa nhất là
trở về cõi lòng mình trong thinh lặng để nhận ra Thiên Chúa là Cha đầy yêu
thương, nhận ra tha nhân là anh em mình, nhất là nhận ra con người thật của
mình. Nhờ đó mà ta có những điều chỉnh cho đúng đắn phù hợp với ý Chúa hơn. Nếu
Giáo Hội đặt tháng kính Thánh Giuse vào Mùa Chay, thì mục đích đã rõ, bởi vì
ngài là khuôn mẫu của con người nội tâm, thinh lặng.
Xin Chúa cho chúng ta biết trân trọng và yêu quý đời sống thinh lặng, nhất
là biết học nơi thánh Giuse bài học về “đức thinh lặng”.
Không biết
vô tình hay hữu ý, năm nào cũng vậy, GH lại mừng kính thánh Giuse vào đúng lịch
PV mùa chay. Chắn hẳn GH rất có lý. Bời lẽ nếu mùa chay là mùa sám
hối, trở về. Mà sự trở về sâu xa nhất lại chính là trở về chính mình và trở về
với Thiên Chúa. Nói như vậy thì hơn ai hết Thánh Giuse chính là mẫu gương
tuyệt vời cho chúng ta về sự trở về ấy.
1. Trước
hết thánh Giuse dạy ta bài học trở về với chính mình trong thinh lặng.
Khi đọc
các sách Tin Mừng, ta không thấy thuật lại bất cứ lời nào của thánh
Giuse, dù chỉ một lời nói với Mẹ Maria hay với Chúa Giêsu. Ngay cả khi gặp trẻ
Giêsu ở trong Đền Thờ sau những ngày lo âu tìm kiếm cũng không có lời nào của
ngài hé lộ. Có lẽ qua đó, Thánh Kinh nhằm đề cao giá trị của sự thinh lặng nơi
thánh Giuse.
Đúng vậy
thinh lặng là thái độ hết sức quý giá: Người đời thường nói: "Lời nói
là bạc, im lặng là vàng". Thinh lặng quý hơn lời nói, vì nói chỉ là bạc mà
im lặng mới là vàng; là vàng thì bao giờ cũng quí hơn bạc! Nhờ thinh lặng mà
thánh Giuse có thời giờ gắn bó với Chúa cách sâu xa để nhờ đó ngài dễ dàng nhận
ra ý Chúa và cũng dễ dàng chấp nhận thực thi thánh ý Chúa dẫu cho đó là điều
không dễ dàng vì đụng chạm đến giá trị và quyền lợi cá nhân của ngài (cha chay và
chồng chay).
Thinh lặng
là biểu hiện của sự hiểu biết. Ông bà ta vẫn nói: “Ngôn giả bất tri, tri giả
bất ngôn”; nghĩa là người không biết thì lại lắm mồm vì tưởng người khác không
biết như mình, ngườì biết thì lại không nói, vì nghĩ rằng mọi người đều biết.
Heidegger khuyên chúng ta thực tập thinh lặng, bớt nói, bớt phát biểu, bớt bàn
tán….không phải để ta nên ngu muội, vô tri, nhưng để cho tâm khảm suy nghĩ của
chúng ta hoà quỵện với sinh linh vạn vật, và chỉ khi đó chúng ta mới có thể
thấu đạt hết mọi ngóc ngách, thông tường mọi thế thái, biến chuyển trong sự
biểu đạt khôn cùng của nhân sinh, của nhiên giới. Đó cũng là ý nghĩa mà nhà thơ
tài danh của Ấn Độ Rabindranath Tagore muốn chuyển tải khi ông viết: “Nước
trong chậu thì sóng sánh; nước trong biển cả thì thẫm đen.....”
Chính nhờ sự
thinh lặng trong đêm vắng, Thánh Giuse đã nhận ra được ý muốn của Chúa, lắng
nghe được Lời Chúa nói. Phân biệt được điều gì đúng, điều gì sai và chọn lựa
cách thế thực hiện như thế nào đẹp ý Chúa nhất. Chính vì thế ngài đã hết
lòng bảo vệ, chăm sóc Đức Maria và Hài Nhi Giêsu vượt qua những sóng gió của
cuộc đời. Và trở nên “người công chính”.
Thinh lặng
chính là thầy dạy sự khôn ngoan.
Nhìn vào đời
sống, chúng ta thầy rằng mình đã sai lỗi quá nhiều trong lời nói. Bởi vì “đa
ngôn thì đa quá”. Nói nhiều thì trở nên nói dai và kéo theo nói dở, nói ẩu và
dại. Bởi đó hãy thận trọng trong lời nói. Ném một lông vịt vào trong gió, thì
làm sao nhặt lại được. Một lời nói ra bốn ngựa đuổi theo cũng không
kịp “tứ mã nan truy”. Vì vậy mà lời nói sẽ trở nên mối nguy cơ đánh
mất tình thương, chia cắt tình thân và gây nên đau khổ cho nhau.
Hãy học cùng
thánh Giuse bài học thinh lặng nhất là trong nhữn giây phút căng thẳng và sóng
gió. Bởi nếu biết thinh lặng đúng lúc ta sẽ chặng được 90% đổ vỡ đáng tiếc, vì
thinh lặng là thái độ khôn ngoan nhất của con người và là phương thuốc chữa
lành những tội lỗi xấu xa.
Truyện kể
rằng: Xưa một nhà vua Ấn Độ, muốn thử nhân tài của một nước Chư hầu
liền gửi tới nước này ba pho tượng vàng, giống hệt nhau. Nhà vua Ấn Độ yêu cầu
nhà vua Chư hầu cho biết trong ba pho tượng vàng này, đâu là pho
tượng quí giá nhất.
Nhà vua nước Chư hầu
cho triệu tập các nhà thông thái tới để đánh giá ba pho tượng vàng này, tìm ra
xem pho tượng nào quí giá nhất. Các nhà thông thái nghĩ ngay tới giá trị của
mỗi pho tượng sẽ căn cứ vào cân nặng nhẹ, hoặc vào tuổi vàng tốt xấu, hoặc căn
cứ vào nghệ thuật tìm thấy trên ba pho tượng vàng! Nhưng rồi các nhà thông thái
đành phải bó tay, vì ba pho tượng này giống hệt nhau về nghệ thuật, khối
lượng và tuổi vàng.
Nhà vua
nước Chư hầu rất buồn, vì không biết được giá trị hơn kém của ba pho
tượng. Vua liền cho loan báo khắp nước: Ai tìm được bí mật giá trị của mỗi pho
tượng sẽ được trọng thưởng.
Có một người
tù, biết chuyện xin được xem ba pho tượng và nếu anh ta tìm ra giá trị hơn kém
của ba pho tượng này thì anh chỉ xin một điều kiện là cho anh được tự do.
Lập tức nhà
vua cho anh xem ba pho tượng. Vừa ngó xong ba pho tượng, anh ta xin một cọng
rơm. Chỉ trong ít phút, anh đã khám phá ra giá trị hơn kém của ba pho tượng
vàng.
Anh lấy cọng
rơm chọc vào lỗ tai pho tượng thứ nhất, thì thấy cọng rơm xuyên từ lỗ tai này
sang lỗ tai kia, anh bảo: “ đây là pho tượng ít giá trị nhất, vì nó tượng trưng
cho hạng người nghe điều gì, vừa vào tai nọ, đã ra tai kia, không biết ghi nhớ,
không để tâm gì suy nghĩ điều đã nghe”.
Anh ta lại
lấy cọng rơm chọc vào lỗ tai pho tượng thứ hai, thì thấy cọng rơm đi từ lỗ tai
chạy xuống miệng pho tượng. Anh bảo: “pho tượng này hơn pho tượng trước là vì
nó tượng trưng cho hạng người biết nghe, biết nhớ nhưng mắc khuyết điểm là: vừa
nghe được gì đã vội nói ngay, không suy nghĩ xem điều mình nghe đúng hay sai,
nói ra có lợi hay có hại”.
Anh lại lấy
cọng rơm chọc vào lỗ tai pho tượng thứ ba, thì thấy cọng rơm đi từ lỗ tai chạy
xuống bụng. Anh nói: “pho tượng này quý giá nhất, vì nó tượng trưng cho hạng
người biết nghe, biết nhớ, biết để lòng suy nghĩ, biết ghi vào tâm dạ mình.
Vua nước lớn
nghe được lời giải đáp của thần dân nước nhỏ thì vô cùng kính nể. Ông về nói
với các quan trong triều: “Nước họ có người thông minh tài giỏi như vậy, hẳn
nước họ là nước mạnh mẽ, hưng thịnh, ta nên giao hoà với họ chứ không nên giao
chiến”.
2. Thứ hai
thánh Giuse dạy ta bài học về sự tín thác và sự vâng phục Chúa.
Nếu ông
Giacaria nghi ngờ về ý định của Thiên Chúa qua biến cố truyền tin của thiên
thần Chúa nơi đền thờ và Mẹ Maria ngỡ ngàng trước lời mời gọi của Thiên Chúa
nơi biến cố truyền tìn, thì Giuse lại hoàn toàn vâng phục không một lời chấp
vấn hay bối rối gì cả.
Thánh Kinh
thuật lại: Khi biết được Đức Maria mang thai là do quyền năng Chúa Thánh Thần,
Thánh Giuse đã không ngần ngại nhận Đức Maria về nhà mình để chở che và nuôi
dưỡng. Nhận lãnh hay bảo lãnh Đức Maria về nhà cũng đồng nghĩa Thánh Giuse giải
cứu Đức Maria khỏi búa rìu dư luận và thoát khỏi án tử. Việc bảo trợ Đức
Maria cũng có nghĩa là đồng bảo trợ Hài Nhi đang được cưu mang trong cung lòng
Đức Maria. Việc nhận Đức Giêsu làm con cũng đồng nghĩa với việc bảo trợ cho Đức
Giêsu sinh ra cách hợp pháp và đưa Đức Giêsu vào trong dòng tộc vua Đavít.
Vâng phục ý
Chúa, không chỉ bảo trợ cho Hài nhi Giêsu sinh ra hợp pháp mà thánh Giuse còn
bảo toàn mạng sống của Đức Giêsu khỏi nanh vuốt của vua Hêrôđê qua việc vâng
theo lời báo mộng của Chúa trong đêm mà nhanh chóng đem mẹ Người và Hài Nhi
Giêsu vượt đường xa hiểm trở gần 500 cây số xuyên qua sa mạc dài hơn 200 km
không một bóng cây, không một ngọn cỏ, không một giọt nước, rất gian khổ để đến
Ai-cập tị nạn. Và khi tình hình yên ổn, một lần nữa Giuse lại nghe theo
lời báo mộng bỏ Ai-cập đem gia đình trở về Palestine, định cư tại Nagiarét để
chăm sóc nuôi dưỡng bằng chính công sức lao động chân chính của mình với nghề
thợ mộc.
Còn chúng ta
thì khác, chúng ta thường tìm ý mình hơn là ý Chúa. Và mỗi khi gặp phải những
tai ương hoạn nạn, chúng ta thường kêu trách và xúc phạm đến Chúa, vì chúng ta
cho rằng Chúa bất công và vâng lời chỉ là một hành động hèn nhát, mất tự do và
chôn vùi nhân phẩm.
Chúng ta
không phải lúc nào cũng biết được kế hoạch của Thiên Chúa dành cho chúng
ta. Chúng ta chỉ biết rằng cách của Người thì khác với cách của chúng ta,
nhưng cách của Người thì luôn luôn tuyệt vời nhất. Vì thế, hãy tín thác và
vâng phục thánh ý Thiên Chúa, để chúng ta sẽ trở nên những tôi tớ trung thành
và khôn ngoan như thánh cả Giuse ngày xưa.
Truyện kể
rằng: Có
3 cái cây trên một ngọn đồi trong rừng, cùng tranh luận với nhau về những hi
vọng và giấc mơ của chúng...
Cái cây đầu
tiên nói: “Tôi hi vọng một ngày nào đó tôi sẽ trở thành tủ đựng vàng bạc châu
báu. Tôi sẽ được nhét đầy vàng, bạc và ngọc quý, được trang hoàng với nghệ
thuật chạm khắc cầu kỳ và mọi người sẽ thấy rằng tôi rất đẹp”.
Đến lượt
mình cây thứ hai nói: "Tôi ao ước sẽ được là một con thuyền mạnh mẽ. Tôi
sẽ chuyên chở các vị vua và hoàng hậu đến mọi nơi trên thế giới. Mọi người sẽ
cảm thấy an toàn khi ngồi trên thuyền tôi vì thân tàu mạnh mẽ và vững
chắc".
Cuối cùng
cây thứ ba mơ ước: "Tôi muốn được là một cây cao lớn và mạnh mẽ nhất trong
rừng. Mọi người sẽ nhìn thấy tôi trên ngọn đồi, nhìn lên các cành của tôi và
biết rằng tôi đang vươn cao và gần bầu trời đến mức nào. Tôi sẽ mãi là cái cây
vĩ đại nhất và mọi người sẽ luôn nhớ đến tôi".
Sau nhiều
năm cẩu nguyện, ngày mong đợi của chúng cũng đến - một nhóm người lấy gỗ đến
khu rừng đó.
Một người
trong bọn họ tiến đến bên cây thứ nhất và nói: "Cây này trông có vẻ chắc
lắm đấy. Tôi nghĩ là tôi sẽ bán nó cho anh thợ mộc" và anh bắt đầu đốn cây.
Cái cây cảm thấy rất hạnh phúc vì nó nghĩ rằng anh thợ mộc sẽ dùng nó để đóng
thành một hộp đựng đồ quý giá...
Nhìn thấy
cây thứ hai, người thợ rừng bảo: "Cây này cũng chắc lắm đấy, ta sẽ bán nó
cho một hãng đóng thuyền". Cây thứ hai vô cùng sung sướng vì nghĩ rằng
mình sắp được đóng thành một con thuyền lớn.
Khi người
thợ rừng tiến đến gần cây thứ ba, nó cảm thấy thật sợ hãi bởi vì nó biết rằng
nếu ông ấy hạ nó giấc mơ của nó sẽ không thể nào thành hiện thực được. Một
người thợ bảo "Tôi chưa có dự định gì đặc biệt cho số cây của tôi nhưng
tôi sẽ chặt cái cây này". Và ông ta cưa nó.
Khi cây thứ
nhất đến tay người thợ mộc, ông đóng nó thành máng ăn cho ngựa. Sau đó ông ấy
đặt nó trong chuồng ngựa và chất đầy cỏ khô lên. Đây không phải là điều cái cây
mơ ước.
Còn cây thứ
hai, nó được xẻ ra và đóng thành một cái thuyền câu cá nhỏ. Mơ ước được trở
thành một con thuyền mạnh mẽ và được chở các vị vua đã kết thúc.
Cây thứ ba
thì bị cưa thành những thanh gổ lớn và bị xếp vào một góc tối tăm, hôi
hám.
Rồi năm
tháng trôi qua, những cái cây đã quên hết ước mơ của mình. Thế rồi một ngày nọ
một người đàn ông và một phụ nữ đến bên chuồng ngựa. Cô ấy sinh nở tại đây và
họ đặt đứa bé nằm trong lớp cỏ khô trong máng ăn được đóng từ cây thứ nhất.
Người đàn ông ao ước có được một cái giường cũi cho đứa bé và ông ấy sẽ sử dụng
cái máng với mục đích này. Cái cây cảm nhận được tầm quan trọng của việc này và
nó biết rằng nó đang giữ trong tay một tài sản quý báu nhất.
Vài năm sau,
có một nhóm người bước lên chiếc thuyền câu được làm từ cây thứ hai. Một người
đàn ông mệt và ngủ thiếp đi. Trong khi họ đang lênh đênh trên biển, một cơn bão
lớn nổi lên và cái cây không nghĩ rằng mình đủ mạnh để đưa họ qua cơn sóng to
gió lớn này. Họ đánh thức người đàn ông đang nằm ngủ, ông ấy đứng dậy và nói:
"Biển lặng". Ngay tức thì cơn bão tan biến. Trong lúc này cây thứ
hai biết rằng nó đang được chở vị vua của tất cả các vị vua trên thuyền.
Cuối cùng
cũng có người đến và mang cái cây thứ ba đi. Nó được khiêng qua các con đường.
Suốt dọc đường người ta nhạo báng người đàn ông đang khiêng nó. Khi họ lên đến
đỉnh đồi, người đàn ông kia bị đóng đinh trên cây và bị treo ở đó cho đến chết.
Ngày Chúa nhật đến, cái cây cảm thấy mình đủ mạnh để đứng trên đỉnh đồi và thật
gần với Thượng Đế bởi vì Chúa đã bị đóng trên thân của nó.
Do vậy, khi
mọi việc diễn tiến không đúng với những gì ta mơ ước, hãy luôn tin tưởng và phó
thác vào Chúa bởi vì Người luôn luôn có sẵn kế hoạch cho chúng ta. Hãy vững tin
rồi chúng ta sẽ nhận được quà tặng từ Người. Giống như những cây kia, cuối cùng
cũng đạt được giấc mơ của mình tuy không hoàn toàn giống như những gì chúng
nguyện cầu.
Lạy Chúa,
giữa bao triết lý và lắm luồng tư tưởng trong xã hội này, con phải chọn lựa như
thế nào?. Giữa những nền văn hóa đa dạng và những nền văn minh phức tạp, con
biết đâu là đúng, đâu là sai? Xin cho con biết học nơi thánh Giuse bài học của
thinh lặng để trở về với chính mình và với Chúa. Xin cho con biết chọn tiếng
Chúa mời gọi hơn là tiếng đời thúc đẩy và nỗ lực thi hành tiếng Chúa với hy
vọng được trở nên công chính theo gương thánh cả Giuse kính yêu. Amen.
* Mùa
chay: Ga 5, 31-47
Suy niệm 1:
Tin hay
không tin là chấp nhận hay từ chối. Dù những người Do Thái, nhất là nhóm Biệt
Phái đã chứng kiến biết bao điều lạ Chúa Giêsu đã làm, nhưng họ vẫn không tin
nhận Chúa Giêsu đến từ Thiên Chúa. Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu kiên nhẫn đưa
ra những bằng chứng xác thực để minh chứng về Ngài. Nhưng vì thiếu lòng yêu mến
Chúa và cứng lòng, họ vẫn không tin.
Xin cho
chúng ta biết nhận ra lời dạy của Chúa qua các dấu chỉ của thời đại, nhất là
qua lời Chúa dạy nơi Thánh Kinh mà khiêm tốn thi hành với niềm tin tưởng vào ơn
cứu độ Chúa ban.
Để ứng cử và
thi hành nhiệm vụ HĐND hay Đại Biểu Quốc Hội, người ta cần được sự giới thiệu
của địa phương và được cử tri tín nhiệm cao.
Để làm Linh
Mục nhằm thi hành sứ vụ tông đồ, cần có người giới thiệu, được đấng bản quyền
chuẩn nhận, cho phép.
Còn Chúa
Giêsu trái lại, khi thi hành sứ mạng Chúa Cha giao phó là cứu độ nhân loại, thì
chẳng có sự chuẩn nhận nào của Giáo quyền cũng như Chính quyền. Nên không lạ gì
Ngài luôn bị khước từ và chống đối. Nếu ta ở vào trường hợp của họ lúc ấy,
chúng ta cũng khó lòng chấp nhận Đấng Cứu Thế là ông Giêsu đến từ Nazarét. Một
Đấng Cứu thế xem ra không phù hợp với quan niệm, suy nghĩ của con người.
Thân thế và
sứ mạng của Chúa Giêsu xem ra không hợp pháp theo quan niệm con người, nhưng đó
lại phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Vì Đức Giêsu là Thiên Chúa nên Ngài vượt
lên trên và không phụ thuộc vào những ràn buộc của thế quyền. Nhưng để cho thế
quyền chấp nhận, Chúa Giêsu sẵn sàng đưa ra những bằng chứng xác thực để minh
chứng về thân thế và sứ mạng của Ngài qua bài tin mừng hôm nay.
Thứ
nhất: Bằng chứng của Gioan Tẩy Giả: “Đấng đến sau tôi, nhưng quyền thế
hơn tôi. Tôi rửa anh em bằng nước, nhưng Đấng ấy sẽ rửa anh em trong Thánh
Thần”.
Thứ hai: Chính lời
Tôi nói và những việc Tôi làm: Có ai làm cho người mù mới sinh được khỏi như
Chúa Giêsu. Có ai làm cho một người phong cùi được sạch. Có ai làm cho một đứa
bé đã chết được sống lại. Có ai làm cho đứa con trai của bà goá thành Naim bị
cột chặt trong vải liệm và đang khiêng đem chôn được hồi sinh. Có ai làm cho
ông Lazarô chết 4 ngày được chỗi dậy. Chỉ có Thiên Chúa mới có quyền làm những
điều ấy.
Thứ ba: Chúa
Cha làm chứng về Ngài: “Này là Con Chí Ái của Ta, các ngươi hãy nghe
lời Người”.
Thứ
tư: Bằng chứng của Thánh Kinh và Môsê đã loan báo về Ngài chính là Đấng Messia.
Tuy Chúa đã
đưa ra những bằng chứng xác thực như vậy, nhưng người Do Thái không nhìn nhận
Ngài.
Lý do: Vì họ
không có lòng yêu mến Thiên Chúa và vì tính ích kỉ, hám danh. Vì thế họ đã
không còn khả năng mở lòng đón nhận Ngài.
Dù họ có tin
hay không tin, thì sự thật Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa làm người. với tất cả
nhân tính và Thiên tính nơi Ngài. Suốt hơn hai ngàn năm qua, không ai có thể để
lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử như Chúa Giêsu.
Không nhà
cách mạng tài ba nào có thể biến đổi thế giới được như Ngài. Không có vị tôn sư
nào có` một dòng dõi môn đệ đông đảo như Ngài. Không có tên ai được nhắc một
cách cực trong như tên Ngài. Không có một ân nhân nào được yêu mến say mê như
Ngài. Thế mới rõ Đấng vĩ đại ấy chính là một người, nhưng là người Chúa, vì
Ngài là Con Thiên Chúa.
Xin cho
chúng con và hết mọi người biết khiêm tốn tin nhận Đức Kitô là Chúa lòng mình
và nổ lực hết lòng hết sức sống theo lời Người chỉ dạy với tình yêu mến. Amen.
Suy niệm 2:
1. Lời chứng
về Đức Giêsu – có đủ, nhưng lòng người vẫn cứng cỏi
Trong bài
Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu khẳng định: Người không tự mình làm chứng về mình,
nhưng có nhiều lời chứng khác: lời của Gioan Tẩy Giả, những việc Người làm,
chính Chúa Cha, và cả Kinh Thánh. Nhưng những người Do Thái lại không tin,
không chấp nhận. Họ có Kinh Thánh, nhưng không nhận ra Đức Kitô mà Kinh Thánh
loan báo. Họ chờ đợi một Đấng Cứu Thế theo kiểu của họ, nên khi Đức Giêsu đến,
họ đã khước từ.
2. Tâm hồn
đóng kín-mắt không thấy, tai không nghe, lòng không hiểu
Bi kịch của
dân Do Thái xưa vẫn là cơn cám dỗ của chúng ta hôm nay: Khi trái tim ta không
thực sự mở ra cho Thiên Chúa, ta sẽ dễ dàng đóng khung Thiên Chúa theo cách
hiểu riêng mình. Ta đòi hỏi Chúa phải hành động theo ý ta, và nếu không đúng
như vậy, ta sẵn sàng loại trừ Người. Cũng như dân Do Thái xưa, chúng ta có thể
biết Kinh Thánh, biết giáo lý, biết những lời dạy của Chúa, nhưng nếu không
sống điều ấy với trái tim khiêm tốn và yêu mến, thì tất cả chỉ là chữ nghĩa vô
hồn.
3. Đâu là
chứng từ của Chúa hôm nay?
Ngày nay,
Đức Giêsu vẫn tiếp tục tỏ mình ra qua nhiều chứng từ: nơi Lời Chúa, nơi Bí tích
Thánh Thể, nơi Giáo Hội, và nơi những người bé mọn, khổ đau. Người đang hiện
diện rất sống động, nhưng chỉ ai có đôi mắt đức tin và trái tim khiêm tốn mới
nhận ra. Chúng ta có đang tìm kiếm vinh quang của Chúa hay chỉ tìm danh giá của
chính mình?
Lạy Chúa
Giêsu,
Chúa đã đến
giữa trần gian, nhưng thế gian không nhận biết.
Chúa đã yêu
thương con, nhưng nhiều lần con thờ ơ.
Xin mở mắt
con để con nhận ra Chúa trong đời sống hằng ngày.
Xin mở lòng
con để con lắng nghe và thực thi lời Chúa cách trọn vẹn.
Xin đừng để
con vì kiêu ngạo mà khước từ sự thật và tình yêu của Ngài. Amen.
Thứ
sáu: Kn 2,1a.12-22; Ga 7,1-2.10.25-30
Suy niệm 1:
Tự mãn về sự
hiểu biết của mình, dân Do Thái nói chung, cách riêng những người Biệt Phái đã
trở nên mù quáng, không còn khả năng nhận ra Đức Giêsu chính là Đấng từ Thiên
Chúa mà đến. Do đó họ đã không tin nhận Ngài và ra sức chống đối quyết liệt. Dù
ngày nay chúng ta dễ dàng tin Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người, nhưng nhiều
lúc đức tin chúng ta cũng bị chao đảo. Xin Chúa ban thêm lòng tin nơi chúng ta.
Và cho nhiều người chưa tin Chúa cũng đón nhận ơn đức tin như chúng ta.
Càng ngày
cuộc tranh luận về nguồn gốc của Chúa Giêsu với người Do Thái, cách riêng với
nhóm Biệt Phái càng trở nên gây gắt. Khiến họ đưa đến quyết định bắt và giết
Ngài.
- Bằng lời
giảng dạy khôn ngoan đầy thuyết phục, đã khiến cho dân chúng rất ngạc nhiên về
Đức Giêsu. Những ai thành tâm đều tin rằng lời lẽ khôn ngoan của Đức Giêsu phải
đến từ Thiên Chúa.
- Với những
bằng chứng cụ thể do ông Môsê đã truyền phải làm phép cắt bì mà họ luôn tuân
giữ và có người đã chịu phép cắt bì ngay trong ngày sabát để khỏi phạm luật
Môsê, thì tại sao Chúa Giêsu cứu chữa người bệnh trong ngày sabát lại phạm
luật. Phải chăng chữa cho một phần cơ thể bị khiếm khuyết trong việc cắt bì thì
đáng làm trong ngày sabát, còn việc cứu chữa toàn thân thể người bị bệnh tật
trong ngày sabát thì không được làm?
Từ đó, Chúa
Giêsu khẳng định: sở dĩ họ không tin nhận Ngài là do họ chỉ xét đoán theo bề
ngoài. Họ cho rằng họ biết quá rõ về lý lịch Đức Giêsu. Biết nơi sinh, chổ ở và
còn biết cả cha mẹ, bà con họ hàng của Người nữa. Một người xuất thân từ một
nơi chốn, một hoàn cảnh và một gia đình nghèo khó, tầm thường, nhỏ bé thì làm
sao là Đấng Cứu Thế được! Cách riêng với giới lãnh đạo thì ghen ăn tức ở vì
thấy Đức Giêsu được dân chúng ngưỡng mộ. Nhất là họ không thể chịu nổi những
lời tuyên bố về nguồn gốc xuất thân từ Thiên Chúa của Ngài. Nên họ đã quyết tâm
trừ khử Ngài.
Thế đã rõ:
Vì kiêu căng-tự mãn, không muốn đón nhận lời chân lý do Chúa Giêssu giáng dạy
nên đã có cái nhìn sai lạc về Chúa. Và vì tự ái, ghen ghét, không muốn người
khác hơn mình mà họ tìm cách giết hại Chúa.
Xin Chúa
giúp chúng con hết lòng tin yêu Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ trần gian. Xin cho
chúng con biết vâng theo lời Người hướng dẫn mà ăn năn sám hối quay về đón nhận
tình thương và ơn chữa lành những vết thương lòng trong những ngày mưa chay
này.
Suy
niệm 2:
Trong bài
Tin Mừng hôm nay, ta thấy Đức Giêsu đang đối diện với một hoàn cảnh đầy nguy
hiểm: "Người Do Thái tìm giết Người", thế nhưng
Người vẫn lên Giêrusalem dự lễ, âm thầm nhưng đầy chủ ý.
Người Do
Thái bối rối và chia rẽ: Họ ngỡ rằng Đấng Kitô khi đến thì phải "ẩn
danh", còn Đức Giêsu thì họ biết rõ gốc gác. Họ cho rằng: “Chúng
ta biết ông này xuất thân từ đâu.” Nhưng họ lại không thực sự biết
nguồn gốc đích thực của Người, đó là từ Thiên Chúa.
Đức Giêsu
khẳng định: “Tôi không tự đến. Đấng đã sai Tôi là Đấng chân thật… Phần
Tôi, Tôi biết Người, vì Tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai Tôi.” Đây
là một lời mạc khải rõ ràng về căn tính thần linh của Người. Và cũng chính vì
điều đó, Người càng bị thù ghét và tìm cách bắt giữ.
Ngày hôm
nay, Đức Giêsu vẫn còn bị từ chối, vẫn còn bị hiểu lầm nơi thế giới này, ngay
cả trong lòng của chính chúng ta. Chúng ta có thực sự nhận ra Đức Giêsu là ai
trong cuộc đời mình không? Có khi nào chúng ta cũng như những người Do Thái
xưa, chỉ “biết về Chúa” mà không thật sự “biết Chúa”?
Chọn sống
theo Chúa trong một thế giới đầy khước từ và vô cảm không phải là điều dễ.
Nhưng như Đức Giêsu, ta được mời gọi can đảm bước đi trong chân lý, dù có thể
phải âm thầm và chịu thiệt thòi.
Xin Chúa mở mắt lòng con để con nhận biết Chúa đang hiện diện trong cuộc
đời con. Xin cho con biết dấn thân theo Chúa, dù trong những nghịch cảnh hay bị
hiểu lầm. Xin cho con can đảm sống chứng nhân cho sự thật như Chúa đã sống.
Amen. (St).
Thứ
bảy: Gr 11, 18-20; Ga 7, 40-53
Sống theo
cảm tính và nhận định chủ quan, khiến cho con người có cái nhìn sai lạc, dễ
dàng đưa đến cách hành xử tàn bạo, độc ác. Đó là điều mà Tin mừng hôn nay muốn
đề cập đến.
Trước những
phép lạ và lời giảng dạy của Chúa Giêsu, người Do Thái có những phản ứng khác
nhau: Người bình dân, đơn sơ thì tin Ngài là một ngôn sứ cao cả được Môsê báo
trước. Một số người hiểu biết thì cho rằng: Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai, là
Đấng Cứu Thế như lời ngôn sứ Isaia đã loan báo. Còn những người thuộc giới lãnh
đạo tôn giáo thì phủ nhận hoàn toàn, cho rằng: Ngài không phải là ngôn sứ, cũng
không phải là Đấng Cứu Thế.
Có nhiều lý
do:
1. Không hội
đủ những điều kiện về địa dư và dòng tộc.
2. Sứ điệp
lời Chúa có nguy cơ làm cho dân chúng sao lãng lý tưởng đấu tranh giải phóng
dân tộc.
3. Lời giảng
dạy và phép lạ Chúa Giêsu làm lu mờ hình ảnh và uy thế của họ. Vì thế họ quyết
định nhổ “cái gai Giêsu” ra khỏi mắt họ.
Nhưng đối
với những người am tường luật lệ và yêu mến sự thật thì có cái nhìn trong sáng
và cách hành xử công minh. Ông Nicôđêmô là một điển hình. Ông là thành viên của
hội đồng lập pháp, là tiến sĩ luật có thế giá và là người can đảm đứng ra biện
hộ cho Chúa Giêsu, ông nói: “muốn bắt người ta, tức là Chúa Giêsu, thì
trước hết phải đối diện thẩm vấn, phải có nhân chứng và xét xử theo luật lệ”. Nhưng
lời đề nghị của ông chẳng ăn nhằm gì với số đông chỉ biết xử dụng luật rừng.
Thời nay
cũng vậy. Chân lý thuộc về số đông và vận mạng con người nằm trong tay những kẻ
có quyền. Công lý thường bị bẻ cong và hậu quả là những người sống theo sự
thật, chân lý và tình thương bị xem là người khờ dại. Có nguy cơ đẩy toàn bộ
thế hệ đi vào hướng nhìn lệch lạc, nhầm lẫn. Không còn phân biệt đâu là thật,
đâu là giả; đâu là chính, đâu là phụ; đâu là điều ưu tiên phải thực hiện và đâu
là điều cần bỏ qua nếu cần.
Xin cho
chúng ta biết tôn thờ Chúa trên hết mọi sự. Biết làm theo ý Chúa hơn ý mình. Biết
ưu tiên làm việc của Chúa, cho Chúa và vì Chúa. Nhất là biết chọn Chúa làm lẽ
sống và là con đường để ta dấn bước. Xin đừng để ta sống theo cảm tính nhẹ dạ,
cả tin vào những luồng tư tưởng, thông tin bên ngoài áp đặt, nhưng biết khôn
ngoan lấy Lời Chúa và Giáo Huấn Giáo làm lẽ sống. Hy vọng chúng ta không phải
đi vào vết xe đổ của người Do Thái khi xưa.