ĐỔI MỚI ĐỜI SỐNG TRONG ĐỨC GIÊSU KITÔ.
Suy niệm 1:
Hôm nay Chúa nhật cuối cùng của
Mùa Chay. Đây là lúc chúng ta cần nhìn lại chặng đường mà phụng vụ lời Chúa đã
dẫn ta đi trong suốt những tuần qua.
- Chúa nhật I MC: Phụng vụ lời Chúa mời chúng
ta hiệp hành cùng với Đức Giêsu đi vào sa mạc dưới sự tác động của Chúa Thánh
Thần, để chay tịnh tâm hồn, rèn luyện ý chí, nâng cao đời sống tinh thần. Luôn
lấy Lời Chúa làm vũ khí để chiến đấu với ba thù là xác thịt, thế gian và ma
quỷ. Tin rằng chúng ta cũng sẽ chiến đấu và chiến thắng vẻ vang như Đức Giêsu.
- Chúa nhật II MC: Phụng vụ lời Chúa mời gọi
chúng ta cùng lên núi cao với Đức Giêsu. Trên núi cao ta sẽ dễ dàng tiếp xúc
thân mật với Thiên Chúa ngang qua đời sống cầu nguyện, và nhờ tích cực thực
hành Lời Con yêu dấu của Chúa Cha chỉ dạy, mà đời sống ta được biến đổi mỗi ngày
nên tốt đẹp hơn.
- Chúa nhật III MC: Phụng vụ lời Chúa mời gọi
chúng ta theo chân Đức Giêsu ra đi đến vùng ngoại vi để gặp gỡ những người bất
đồng tôn giáo, xa cách về quan niệm sống, mặc cảm về tội lỗi. Chính bên bờ
giếng tổ phụ Gia-cóp, Đức Giêsu đã khơi dậy tinh thần hòa hợp dân tộc khi vượt
qua mọi rào cản để gặp gỡ, lắng nghe và phân định cùng với người phụ nữ và dân
thành Samari dưới ánh sáng Lời Chúa.
Tại nơi đây Đức Giêsu đã xác
quyết “việc tôn thờ TC không phải nơi này hay nơi kia mà phải trong
Chân lý và Thần khí.” Và thật ngỡ ngàng, qua cuộc đối thoại ấy,
người phụ nữa và dân làng đã tin nhận Người chính là nguồn nước trường sinh,
uống vào sẽ không còn khát nữa, nguồn nước trường sinh ấy mang tên là “Giêsu”.
- Chúa nhật IV MC: Phụng vụ lời Chúa tiếp tục
mời gọi chúng ta theo chân Đức Giêsu rảo bước trên khắp nẻo đường đời, hòa nhập
vào cuộc sống của những người đang gặp đau khổ do bệnh tật và tội lỗi gây nên,
để đồng cảm và ra tay nâng đỡ, chăm sóc, cứu giúp họ bằng tất cả tấm lòng yêu
thương, với mong muốn đem lại ánh sáng niềm vui, hy vọng tươi sáng cho những ai
biết tin nhận vào Đức Giêsu là Ánh sáng đích thực đã đến trần gian.
- Chúa Nhật V MC hôm nay, phụng vụ Lời Chúa
lại thúc bách chúng ta hiệp hành cùng Đức Giêsu đến với những ai đang sống
trong tình cảnh đau buồn vì mất đi người thân. Bằng tình thương và quyền năng,
Đức Giêsu đã phục sinh Lazarô, mang lại niềm tin và hy vọng vào sự sống vĩnh
cửu cho những ai biết tin tưởng và cậy trông vào quyền năng của Ngài.
Như thế, Chúa Giêsu đã đi bước
trước trong lối sống hiệp hành, bằng cách chấp nhận bước xuống trần, đã ra đi
đến hết mọi nẻo đường, đã len lỏi vào mọi ngõ ngách của cuộc đời. Ngài đã sống
và cảm nếm hết mọi nỗi buồn-vui, sướng-khổ, vinh-nhục, giàu- nghèo,
sang-hèn…của kiếp người.
- Ngài đã từng chiến đấu cam go
với những cám dỗ do ma quỷ gây ra và đã chiến thắng nhờ vào sức mạnh Lời Chúa
và sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
- Ngài cũng vượt qua mọi khó nhọc
để lên núi cao, tiếp xúc thân mật với Chúa Cha bằng đời sống cầu nguyện không
ngừng, cho nên dung nhan Ngài được biến đổi nên sáng ngời.
- Ngài đã không ngần ngại ra đi
đến vùng ngoại vi nhằm phá bỏ những bức tường ngăn cách, xây dựng lại nhịp cầu
hiệp thông trong chân lý và niềm tin; nhất là ban cho họ nguồn nước trường
sinh, làm no thỏa mọi nỗi khát vọng vào chân lý của con người.
- Ngài cũng lân la vào những làng
mạc, sải bước trên những con đường quanh co, gặp gỡ những con người đau đớn về
thể xác và khổ sở về tinh thần, đã chữa lành, phục hồi nhân phẩm, đem đến ánh
sáng niềm vui và sự sống cho bao người.
- Ngài sẵn sàng hiện diện nơi
những gia đình đang gặp hoạn nạn đau khổ, để an ủi, động viên đem lại niềm vui,
hy vọng và khơi dậy lòng tin nơi họ. Với tấm lòng yêu thương, Ngài đã đến tận
ngôi mộ chôn xác Lazarô để ban lại sự sống cho anh, bởi chính Ngài là chủ của
sự sống: "Ta là sự sống lại và là sự sống, Ai
tin vào Ta thì dầu có chết cũng sẽ được
sống." (Ga 11,25).
Mùa chay, Chúa cũng mời gọi chúng
ta hãy đi đến mọi ngả đường của cuộc sống, bước qua mọi ranh giới của nghi kị
và đi vào tận bên trong tâm hồn của tha nhân, để nhận ra những lo toan, trăn
trở, vất vả thường ngày của anh chị em mình; để chứng kiến những nỗi buồn, đau
khổ và bất hạnh của những người già cả, bệnh tật, thiếu thốn, của những gia
đình bất hòa, ly tán, thiếu vắng tình thân… mà cảm thông, chia sẻ và nâng đỡ họ
vượt qua mặc cảm tội lỗi, nghèo khổ, thiếu thốn...
Chúa cũng thiết tha mời gọi chúng
ta đến với bất cứ ai, dù là lương hay giáo; người thân quen hay xa lạ; với
người dễ thương hay khó thương, người đồng thuận hay kẻ chống đối, người đau
khổ thể xác hay tinh thần; bạn hay thù… Ta hãy lên đường đi đến mọi nơi, gặp gỡ
mọi người bất chấp đường xa, lắm chông gai, thuận tiện hay khó khăn; bất luận
đêm hay ngày, mưa hay nắng để ta thăm viếng, giải hòa, xua tan mặc cảm, ban
tặng niềm vui và hy vọng bằng chính tình yêu chân thành của ta theo tinh thần
của Chúa Giêsu.
Làm được như vậy mùa chay thánh
mới thật sự mang lại nhiều ơn ích lợi liêng liêng cho đời sống đức tin của
chúng ta. Sống được như thế chúng ta mới làm cho ánh sáng Tin mừng tình
thương của Chúa được lan tỏa đến mọi người và mọi nơi. Khi thi hành những
điều trên là chúng ta đang canh tân lại đời sống theo tinh thần sám hối của mùa
chay, để rồi như thánh Phaolô, ta có thể hãnh diện nói rằng: “Tôi sống nhưng không phải là
tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2,20).
Amen.
Suy niệm 2:
Cùng với GH hôm nay chúng ta bước
vào Chúa Nhật cuối cùng của Mùa Chay, mùa của chay tịnh và cầu nguyện, của bác
ái và sám hối để chết đi cho tội lỗi với niềm hy vọng được sống lại với Chúa Kitô.
Phụng vụ Lời Chúa tuần này mời
gọi chúng ta mạnh dạn hiệp hành cùng với Chúa Giêsu trên mọi nẻo đường đời, bởi
Ngài là sự sống lại và là sự sống, tin và bước theo Ngài ta cũng sẽ được cùng
sống lại với Ngài.
Xin cho chúng ta luôn can đảm
vững bước theo Chúa, với niềm hy vọng được sống lại trong ngày sau hết để hưởng
phúc đời đời.
Truyện kể: Tần Thủy Hoàng sinh năm 259 TCN.
Ông là vị vua thứ 36 của nước Tần và là người đầu tiên chấm dứt thời kỳ Chiến
quốc, thống nhất Trung Quốc. Kế vị cha, ông lên ngôi vua từ năm 13 tuổi và trở
thành hoàng đế ở tuổi 38. Sau khi chinh phục 6 nước chư hầu, Tần Thủy Hoàng tự
đặt cho mình danh xưng Thủy hoàng đế với mục đích chứng minh rằng nhà Tần vĩ
đại hơn các triều đại khác. Theo sử sách ghi lại thì Tần Thủy Hoàng rất
sợ chết, ông muốn được trường sinh bất tử, nên tìm đủ mọi cách để được cải lão
hoàn đồng. Một hôm, các chiêm tinh gia kể cho ông nghe về một hòn đảo thần tiên
ở biển Đông, dân cư ở đây đã khám phá ra bí quyết trường sinh. Tần Thủy Hoàng
liền phái một số tầu thuyền chất đấy châu báu lên đường, hy vọng đổi được bí
quyết trường sinh. Nhưng dân chúng không đổi cho ông bí quyết trường sinh của
họ.
Thế rồi ông
lo xây nhà mồ như cung điện nguy nga rộng lớn, lấy châu ngọc làm tinh tú, lấy
thủy tinh làm sông ngân hà, lấy vàng bạc lát tường và chôn sống hàng trăm cung
nữ trong đó, để kiếp sau được sống như thần tiên. Nhưng kẻ tàn bạo ham sống ấy
chỉ làm vua được hơn chục năm và sống trên năm mươi tuổi thì chết đi.
Câu chuyện trên cho ta hiểu rằng,
sự sống vô cùng quý giá nên người đời thường hay bảo: “mạng sống hơn đống vàng”
là vậy! Ai cũng khao khát được sống, sống lâu, sống khỏe. Cho nên người ta tìm
mọi cách ăn uống, tập luyện, thuốc men để sống. Tuy nhiên cho dù nhân loại có
văn minh, tiến bộ đến đâu thì cũng không tài nào thoát khỏi được lưỡi hái của
Tử thần.
Thế nhưng thật bất ngờ, Chúa
Giêsu đã đến trần gian và đem theo bí quyết trường sinh bất tử khi Ngài công
bố: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy sẽ không
bao giờ phải chết.” Bởi lẽ Ngài là người nhưng cũng là Thiên Chúa nên
Ngài đã dùng chính thần lực của mình mà đánh bại thần Chết để giải thoát muôn
người thoát khỏi nanh vuốt của Tử thần.
Ngài đã đánh bại thần Chết khi
làm cho con gái ông Giai-rô mới chết được sống lại. Ngài đã đánh bại
thần Chết khi cho người con trai bà góa thành Na-in đang được người thân mang
đi chôn được trở về với cuộc sống; Ngài đã đánh bại thần Chết khi làm
cho La-da-rô, cho dù đã chết bốn ngày rồi được sống lại, từ giã ngôi mộ đá,
quay về đoàn tụ với bao người thân yêu. Đặc biệt nhất là Ngài đã tự mình
sống lại và đã lên trời vinh hiển.
Như vậy, Đức Giêsu chính là vị
Cứu tinh cao cả nhất của nhân loại, Ngài đã giúp loài người thoát khỏi gông cùm
của sự chết và ban cho con người sự sống đời đời. Cho nên từ đây ai biết tin
vào Ngài và sống hiệp thông với Ngài thì sẽ có được sự sống đời đời. Tựa
như bóng đèn có toả sáng thì cần phải được nối kết với nguồn
điện; cành nho có trổ sinh nhiều hoa thơm trái ngọt thì nó phải được tháp
nhập vào thân nho; cũng vậy bàn tay muốn có sự sống và hoạt động thì cần
phải nối liền với thân thể…Vậy muốn có được sống đời đời thì chúng ta cần phải
kết nối chặt chẽ với Chúa Giê-su là nguồn sống, để sự sống đời đời của Chúa
Giê-su được lưu truyền trong chúng ta.
Nhờ bí tích Rửa Tội,
Chúa đã nối kết chúng ta nên một với Chúa, để được trở thành chi
thể của Ngài. Qua bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu cho chúng ta được
trở nên đồng huyết nhục với Chúa và từ đó, sự sống thần linh của
Chúa được thông truyền cho chúng ta.
Tiếc thay, khi phạm tội trọng,
chúng ta đã tự cắt lìa mình ra khỏi Chúa như cành nho lìa thân nho, như bàn tay
bị cắt lìa khỏi cơ thể và như thế chúng ta đánh mất sự sống đời đời.
Xin cho chúng ta sớm giao hoà với
Chúa qua bí tích Giải Tội, để được nối kết lại với Chúa, để cho sự
sống thần linh của Chúa tiếp tục thông truyền cho chúng ta. Amen
Suy niệm 3:
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nhấn
mạnh đến hai chữ “Chết” và “Sống”
Bài đọc I trích sách tiên tri
Êdêkien. Tiên tri
Edekien nhìn thấy một thị kiến về những bộ xương khô nằm la liệt trên thung
lũng. Đó là hình ảnh nói về dân tộc Ítraen đã bị tàn lụi do tội lỗi, bệnh tật
và những khó khăn khi họ sẽ phải sống trong cảnh lưu đày bên Ai-cập.
Ngài cũng ý thức dân chúng rằng:
nếu họ sống ở trong đất nước mình, nhưng họ vẫn còn ở xa Thiên Chúa, thì họ vẫn
còn ở trong sự lưu đày tinh thần hay ở trong sự chết. Và chỉ có Thần Khí Đức
Chúa mới có thể giải thoát họ khỏi cảnh lưu đày và sự chết như thế. Cho nên
Thiên Chúa hứa ban Thần Khí cho họ, nhờ đó, họ sẽ được tái sinh và phục hồi sự
sống cách mạnh mẽ. Thiên Chúa phán: “Đây Ta sắp cho Thần Khí nhập vào
các ngươi và các ngươi sẽ được sống… Hỡi dân Ta, này chính Ta mở huyệt cho các
ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt và đem các ngươi về đất Ítraen." (Ed
37,6.13).
Bài đọc II, trích thư thánh
Phaolô gửi tín hữu Roma, ngài nhắc nhở các tín hữu Roma rằng chỉ có Thánh Thần của Chúa Giêsu mới có thể
mang lại sự sống cho họ: “Nếu… Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su
sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, cũng
sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh
em được sự sống mới.” (Rm 8,11).
Nói khác đi, không có Thần Khí
của Đức Chúa, con người dù khỏe mạnh cũng như chết. Đó là lý do tại sao Chúa
Giêsu nói với chúng ta rằng: “Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt
chẳng có ích gì.” (Ga 6,63). Ví thế trong thư gửi cho tín hữu
Epheso, thánh Phaolô đã nhắc nhở chúng ta rằng: “Anh em chớ làm
phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa” (Ep 4,30).
Bài Tin Mừng hôm nay trình thuật về phép
lạ Chúa Giêsu đã làm cho Ladaro sống lại. Qua phép lạ này mình
chứng cho chúng ta biết về quyền năng của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu. Ladarô là
người bạn được Chúa Giêsu yêu quý, anh bị bệnh nặng. Chị Mácta và Maria chạy
đến xin Chúa cứu chữa, nhưng khi Chúa Giêsu đến, Ladarô đã chết và được mai
táng trong mồ đã 4 ngày rồi. Khi chứng kiến cảnh đau buồn này, Chúa Giêsu đã
khóc thương anh.
Máctha nói với Chúa: “Nếu
Thầy ở đây, em con đã không chết,” có lẽ đó là một lời trách móc.
Nhưng Chúa Giêsu nói với chị: “Em chị sẽ sống lại.” Mácta nghĩ
rằng Người đang nói về sự sống lại trong ngày sau hết. Nhưng Chúa Giêsu muốn
xác nhận trong hiện tại: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống, ai
tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Chị có tin thế
không?”.
Cô trả lời: “Con tin.” Và
quả thật khi đến bên mộ, Chúa Giêsu truyền cho lật viên đá cửa mồ ra, rồi
Người lớn tiếng gọi: “Ladarô, hãy đi ra đây!” Và thật bất ngờ người
chết trỗi dậy và đi ra khỏi mồ.
Như thế, qua phép lạ này, Chúa
Giêsu minh chứng rằng Người thực sự là sự sống lại và sự sống. Người làm phép
lạ này nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần.
Hơn nữa phép lạ cho Ladarô sống
lại là hình bóng báo trước về sự phục sinh của Chúa Giêsu sau này. Ở đây cũng
cần phân biệt sự phục sinh của Ladarô khác biệt với sự phục sinh của Chúa
Giêsu.
Ladarô chết và sống lại, nghĩa là
quay lại sự sống trước đó (bios), chỉ là sự sống tạm thời ở đời này. Còn Chúa
Giêsu phục sinh là người đầu tiên đi vào sự sống mới, sống sự sống vĩnh cửu
(zéon). Và một khi đã sống lại, Chúa Giêsu không còn chết nữa; còn Ladarô thì
cũng sẽ phải chết.
Vậy qua phép lạ Chúa Giêsu cho
Ladaro sống lại muốn nói với chúng ta điều gì?
Trước hết, phép lạ này là một sự diễn tả về
tình yêu. Chúa Giêsu yêu quý Ladarô, Người đến thăm anh và gia đình vì Người
yêu quý họ. Niềm vui của họ là niềm vui của Người, và nỗi buồn của họ là nỗi
buồn của Người.
Thứ đến, đức tin là yếu tố vô cùng quan
trọng để quyền năng của Chúa được thực hiện trên chúng ta. Vì vậy mà Chúa Giêsu
đã nói với Mácta: “Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy,
thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.” (Ga 11,25).
Bài học cuối cùng là Chúa Giêsu có quyền năng
trên sự sống và sự chết. Người luôn sẵn sàng cứu giúp chúng ta với bất kỳ giá
nào.
Chúa Giêsu yêu mến và gọi chúng
ta bằng tên riêng như Người gọi Ladarô: “Ladarô, hãy ra đây!” Nếu
chúng ta lắng nghe và vâng lời Người, Người sẽ mang lại sự sống, sự phục sinh
cho sự yếu hèn và thân xác hay chết nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần.
Amen! (St).
Suy niệm 4:
Có một ông chồng kia than thở với
bạn:
- “Không hiểu sao vợ tôi dạo này
lạnh lùng quá… nói chuyện thì cụt ngủn, ăn cơm thì im lặng… giống như ‘người
cõi âm’ vậy!”
Anh bạn hỏi lại:
- “Thế ông có làm gì không?”
Ông chồng trả lời tỉnh bơ:
- “Có chứ! Tôi cũng… im luôn cho
‘đúng không khí’!”
Kết quả là… cả nhà trở thành một
“nghĩa địa mini”, ai cũng sống, mà như không sống!
Câu chuyện vui nhưng lại rất
thật: có những gia đình không chết về thể xác, nhưng lại đang chết dần trong
tình nghĩa và đức tin.
1. Phụng vụ hôm nay không chỉ nói về
cái chết, mà là quyền năng của Thiên Chúa trên sự chết.
- Bài đọc I, Ngôn sứ Êdêkien
loan báo: “Ta sẽ mở
mồ cho các ngươi… Ta sẽ cho Thần Khí của Ta vào trong các ngươi, và các ngươi
sẽ được sống.” Đây không chỉ là lời hứa cho dân
Israel xưa, mà còn là lời hứa cho mỗi gia đình hôm nay: Thiên Chúa có thể mở những ngôi
mộ đóng kín trong lòng ta, và làm cho điều tưởng như đã chết… được sống lại.
- Bài đọc II, Thánh
Phaolô nói rất rõ: Ai sống theo xác thịt thì không
thể đẹp lòng Chúa. Còn ai có Thần Khí Chúa thì sẽ được sống. Và điều quan trọng: Chính Thần
Khí đã làm cho Đức Kitô sống lại, cũng sẽ làm cho chúng ta được sống. Nghĩa là: Không phải chỉ “cố
gắng” mà đủ, mà cần để Thánh Thần hoạt động trong gia đình mình.
- Đỉnh cao là bài Tin Mừng: Ladarô chết đã 4 ngày. Mọi
hy vọng dường như chấm dứt. Nhưng Chúa Giêsu đến… và gọi: “Ladarô, hãy
ra khỏi mồ!” Và người chết bước ra.
Chúa không chỉ làm phép lạ, mà
còn mặc khải: “Thầy là sự sống lại và là sự sống.”
3. Kính thưa quý cộng đoàn,
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta
nhìn lại chính gia đình mình:
1. Những “ngôi mộ” trong
gia đình
Có những “ngôi mộ” không thấy
bằng mắt, nhưng rất thật:
- Mộ của im lặng kéo dài.
- Mộ của tự ái và cố chấp
- Mộ của thiếu cầu nguyện
- Mộ của đức tin nguội lạnh
Nhiều gia đình: vẫn ăn chung một
bàn, nhưng không còn chia sẻ; vẫn sống chung một nhà, nhưng lòng thì xa cách…
Đó là tình trạng “đang sống mà như đã chết”.
2. Thiên Chúa muốn “mở
mồ” gia đình chúng ta
Lời Chúa trong Êdêkien hôm nay
như nói trực tiếp với chúng ta: “Ta sẽ mở mồ cho các ngươi”
Có thể đó là: mồ của một cuộc hôn
nhân đang nguội lạnh, mồ của một mối tương quan bị rạn nứt, mồ của đời sống đạo
đã bỏ bê lâu ngày. Nhưng Thiên Chúa không bỏ cuộc. Ngài vẫn đến,
vẫn gọi, vẫn chờ.
3. Sống theo Thần
Khí-chìa khóa hồi sinh gia đình
Thánh Phaolô nhắc: Không có Thần
Khí không có sự sống thật. Vậy gia đình sống theo Thần Khí là gì?
- Biết cầu nguyện chung
- Biết lắng nghe nhau
- Biết tha thứ
- Biết đặt Chúa làm trung tâm
Gia trưởng và hiền mẫu không chỉ
là người “quản lý gia đình”,
mà là người dẫn gia đình sống theo Thần Khí.
4. Nghe tiếng Chúa: “Hãy
ra khỏi mồ!”
Hôm nay, Chúa cũng gọi từng người
chúng ta: “Hãy ra khỏi mồ!”.
Ra khỏi giận hờn lâu năm
Ra khỏi thói quen lạnh nhạt
Ra khỏi lối sống không có Chúa
Và đặc biệt, Chúa còn nói: “Hãy
cởi khăn và để anh ấy đi”
Nghĩa là: không chỉ Chúa làm, mà
mỗi người trong gia đình cũng phải giúp nhau tháo gỡ những ràng buộc: định
kiến, tổn thương, quá khứ…
Kính thưa cộng đoàn,
Mùa Chay không phải là thời gian
buồn bã,
mà là thời gian Thiên Chúa mở mồ và ban sự sống.
Ước gì mỗi gia trưởng và hiền mẫu
hôm nay: để cho Chúa chạm vào những “vùng chết” trong gia đình mình, để cho
Thần Khí thổi sự sống mới vào mái ấm. Để rồi gia đình chúng ta không còn là
“ngôi mộ kín”, nhưng trở thành: nơi có sự sống, yêu thương và niềm hy vọng phục
sinh. Amen.
Suy niệm 5: CHÚA GIÊSU –
NGUỒN SỰ SỐNG
Có một câu hỏi rất thật mà ai
trong chúng ta cũng từng đối diện: Điều gì là đáng sợ nhất: cái chết thể
xác hay sự chết trong tâm hồn?
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đưa
chúng ta đến một ngôi làng nhỏ Bêtania, nơi có một cái chết rất đau
thương: Ladarô chết và đã chôn bốn ngày. Nhưng chính tại nơi tang tóc đó,
Chúa Giêsu mặc khải một chân lý vĩ đại: “Thầy là sự sống lại và là
sự sống.”
1. Bài đọc I, ngôn sứ
Êdêkien loan báo: “Ta sẽ mở huyệt cho các ngươi… và cho thần khí Ta vào trong các ngươi, và
các ngươi sẽ được sống.”
Hình ảnh “mồ” ở đây không chỉ là
mồ chôn thể xác, mà còn là mồ của tuyệt vọng, tội lỗi, thất vọng, và nguội
lạnh đức tin. Có khi chúng ta vẫn sống, nhưng: sống trong giận hờn,
sống trong ích kỷ, sống trong khô khan, không còn cầu nguyện. Đó là sự
chết của tâm hồn. Nhưng Thiên Chúa không chấp nhận điều đó. Ngài
luôn muốn mở mồ cho chúng ta, nghĩa là kéo ta ra khỏi tình trạng chết
chóc ấy.
2. Tin Mừng kể lại một chi
tiết rất cảm động: “Chúa Giêsu đã khóc.” Ngài khóc vì: thương người bạn Ladarô; vì cảm thông với nỗi đau của Mácta
và Maria. Và sâu xa hơn, Ngài đau vì cái chết đang thống trị con
người. Điều này cho thấy: Thiên Chúa không xa lạ với đau khổ của chúng ta. Ngài không
đứng ngoài, nhưng đi vào và chia sẻ.
3. Khi đến mồ, Chúa Giêsu đã
kêu lớn: “Ladarô, hãy ra khỏi
mồ!” Và người chết đã bước
ra. Đây không chỉ là phép lạ cho Ladarô, mà là lời gọi cho từng
người chúng ta hôm nay:
- Ai đang ở trong “mồ” của tội
lỗi, hãy bước ra;
- Ai đang ở trong “mồ” của thất
vọng, hãy bước ra;
- Ai đang ở trong “mồ” của thói
quen xấu, hãy bước ra;
Nhưng để bước ra, cần một điều
rất quan trọng: Phải tin vào Chúa. Chúa đã nói với Mácta: “Chị có
tin không?” Đó cũng là câu hỏi dành cho chúng ta.
4. Thánh Phaolô nhắc chúng
ta: Ai sống theo Thần Khí
thì thuộc về sự sống. Tin không chỉ là nói “con tin”, mà là: dám bỏ tội lỗi,
dám thay đổi, dám sống theo Tin Mừng. Tin là để cho Chúa dẫn mình ra khỏi
mồ.
Chúa nhật V Mùa Chay như một bước
cuối trước Tuần Thánh. Giáo Hội mời gọi chúng ta nhìn lại: Tôi đang sống hay
đang “chết dần” trong đời sống thiêng liêng? Có “ngôi mồ” nào trong tâm hồn tôi
chưa mở ra cho Chúa không? Hôm nay, Chúa vẫn đang gọi: “Hãy ra khỏi
mồ!”
Ước gì mỗi người chúng ta biết:
mở lòng, tin tưởng, và bước ra, để được sống thật, sống dồi dào, để chuẩn bị
đón nhận ánh sáng Phục Sinh.
Suy niệm 6:
Có một bài hát quen thuộc từng
chạm đến trái tim của biết bao người: “Cát bụi” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Lời
ca gợi lên một cảm thức rất thật: đời người mong manh, ngắn ngủi, rồi cũng trở
về với cát bụi. (Hát)
Quả thật, nhìn vào cuộc sống,
chúng ta dễ nhận ra thân phận con người thật nhỏ bé: Sinh ra từ bụi đất, trải
qua bao vui buồn, thành bại, và cuối cùng… cũng trở về bụi tro. Cảm thức ấy đôi
khi khiến nhiều người trong chúng ta rơi vào bi quan, chán nản, thậm chí tuyệt
vọng. Nhưng Lời Chúa hôm nay lại mở ra cho chúng ta một chân trời hoàn toàn
khác: Không phải chỉ là cát bụi, mà là cát bụi được Thiên Chúa thổi vào đó sự
sống.
1. Trong bài đọc I, ngôn sứ
Êdêkien loan báo về một thị kiến đầy hy vọng: Thiên Chúa sẽ mở các huyệt mộ và
cho dân Ngài sống lại. Đối với dân Israel đang lưu đày và sống trong tình trạng
tuyệt vọng, thì lời hứa đó đem lại niềm hy vọng lớn lao rằng: Thiên Chúa có thể
làm cho điều đã chết được sống lại.
Còn trong bài Tin Mừng minh chứng
cho điều ấy, khi Chúa Giêsu gọi ông Ladarô từ cõi chết sống lại và bước ra. Một
người đã chết bốn ngày, thân xác đã bắt đầu phân hủy… Vậy mà chỉ với một lời
của Chúa phán: “Ladarô, hãy ra ngoài!” Tức khắc sự sống đã chiến thắng sự chết.
Qua đó cho thấy: Đối với Thiên
Chúa, không có gì là hoàn toàn kết thúc trong tuyệt vọng. Ngay cả cái chết,
Ngài cũng có thể biến thành sự sống.
2. Chúng ta có thể chưa chết về
thể xác, nhưng nhiều khi lại đang chết dần trong tâm hồn:
Sống mà không còn niềm tin. Sống
mà không còn yêu thương. Sống trong tội lỗi mà không muốn hoán cải. Sống với
một tâm hồn chai đá, nguội lạnh...Đó là tình trạng “đã chết dẫu đang sống”.
Giống như Ladarô bị chôn trong
mồ, nhiều khi tâm hồn chúng ta cũng bị “chôn vùi”: trong ích kỷ, trong giận
hờn, trong những thói quen xấu… mà chính chúng ta lại không muốn bước ra.
3. Điều cảm động nhất trong Tin
Mừng hôm nay là: Chúa Giêsu không đứng xa, mà Ngài đã đến gần ngôi mộ, và Ngài
đã khóc. Cho thấy Thiên Chúa không dửng dưng trước nỗi đau tuyệt vọng của con
người.
Hôm nay, Ngài cũng đang gọi mỗi
người chúng ta: “Hãy ra khỏi mồ!” Ra khỏi lối sống cũ. Ra khỏi tội lỗi. Ra khỏi
sự nguội lạnh của tâm hồn. Và nếu để ý, Tin Mừng hôm nay có một chi tiết rất
đẹp: Sau khi Ladarô bước ra, Chúa còn nói: “Hãy cởi khăn và để anh ấy đi.” Điều
đó muốn nói rằng: Chúng ta không thể tự mình sống lại trọn vẹn, mà cần đến cộng
đoàn, cần đến nhau, để tháo gỡ những ràng buộc cuộc sống chúng ta, bằng cách
nâng đỡ nhau trên hành trình của đời sống mới.
4. Nếu chỉ dừng lại ở “cát bụi”,
thì đời người thật buồn. Nhưng với đức tin, chúng ta xác tín rằng: Cát bụi
không phải là kết thúc. Cái chết không phải là dấu chấm hết. Chân lý ấy đã được
Thánh Phaolô xác quyết qua bài đọc 2: “Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức
Kitô sống lại cũng sẽ làm cho anh em được sống.”
Vì thế, người Kitô hữu: Không
sống trong tuyệt vọng. Không sợ hãi trước cái chết. Nhưng luôn sống trong niềm
hy vọng phục sinh.
Kính thưa cộng đoàn,
Bài hát “Cát bụi” nhắc chúng ta
nhớ đến thân phận mong manh của phận người. Nhưng Lời Chúa hôm nay lại nâng
chúng ta lên một tầm cao mới: Từ cát bụi… Thiên Chúa làm nên sự sống. Từ cái
chết… Ngài dẫn lối ta vào hy vọng phục sinh.
Ước gì trong những ngày cuối cùng
của Mùa Chay, mỗi người chúng ta biết lắng nghe tiếng Chúa mời gọi: “Hãy ra
khỏi mồ!” Để chúng ta: được sống lại trong ân sủng, được đổi mới trong tình
yêu, mà sẵn sàng bước vào niềm vui Phục Sinh phía trước. Amen.
Thứ hai: Đn 13,
1-9.15-17.19-30.33-62; Ga 8, 1-11
Suy niệm 1:
Cổ nhân đã nói: “Nhân vô thập
toàn”, là người không ai hoàn hảo cả. Mang thân phận con người ai trong chúng
ta cũng bất toàn, đây những thiếu sót và tội lỗi. Vì thế cần phải khiêm tốn sám
hối.
Dám nhận mình thiếu sót, tội lỗi
và can đảm sửa đổi, mới được xem là bậc anh hùng, quân tử. Mạnh dạn đứng lên,
đổi mới đời sống theo thánh ý của Chúa sau khi vấp ngả mới xứng danh là người
Kitô hữu và xứng bậc là con Chúa. Đó chính là sứ điệp lời Chúa hôm nay muốn nói
với chúng ta.
Ta có thể xem đoạn tin mừng hôm
nay như là vở kịch gồm 3 phần, nói về vụ án nỗi tiếng lịch sử nhân loại được
mang tên là: "người đàn bà ngoại tình né đá"
Phần 1. Tố cáo tội
phạm: những người đứng ra tố cáo tội phạm là các kinh sư và biệt
phái. Họ tố một người phụ nữ bi bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình. Họ lôi
kéo và xô đẩy chị ta ra trước toà án công cộng. Đại diện quan toà bất đắc dĩ họ
buộc phải đứng ra xét xử vụ án này là Đức Giêsu. Bởi người mà những kinh sư và
biệt phái nhắm đến để tố cáo và lên án tử không phải là tội nhân mà là chính
quan toà Giêsu.
Phần 2. Cách thức xử án: Để xét xử
đúng người, đúng tội, Đức Giêsu không kết án vội vàng đưa ra phán quyết, mà
Ngài lại khôn khéo đưa dẫn mọi người trở về với lòng mình với một khoảng lặng
vừa đủ. Sau đó, Ngài mới đặt ra một câu hỏi mang tính tra vấn: "Ai
trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này truớc đi!". Khi trở về
đối diện với lương tâm, ai nấy đều nhận ra sự thật về mình mang đầy thiếu sót
và tội lỗi, cần phải sám hối hơn là lên án. Nhờ đó, họ bắt đầu nới lỏng tay và
từ từ buông bỏ những hòn đá nặng trĩu xuống đất; rồi lần lượt rút lui khỏi pháp
trường; bắt đầu từ những người lớn cho đến người nhỏ nhất. Tình thế giờ đây
được thay đổi, từ vị trí kẻ lên án, tố cáo người khác, giờ đây họ trở thành kẻ
bị tố. Từ người tưởng mình vô tội, cho phép mình cầm đá ném vào người khác, giờ
đây trở thành những có tội, xứng đáng đón nhận những trận mưa đá ném vào chính
mình.
Phần 3. Tuyên bố trắng án: Sau khi
Chúa Giêsu khéo léo đưa dẫn mọi người trở về lòng mình và nhận ra những tội lỗi
của bản thân mà bỏ đi hết, thì Ngài mới tuyên bố trắng án cho người phụ nữ
ngoại tình, khi nói với chị ta: "Ta không kết tội chị. Vậy chị hãy
đi và từ nay đừng phạm tội nữa!".
Vở kịch hạ màn, mọi người ra đi,
lòng mang theo nhiều bài học đáng giá cho đời mình:
- Bài học về lòng người thật hiểm
ác. Luôn tìm cách hãm hại, lên
án, tố cáo người khác bằng cách giăng ra những cái bẫy tinh vi nhằm hãm hại và
giết chết những ai họ không ưa thích. Đại diện cho thành phần ấy là các kinh sư
và biệt phái.
- Bài học về hiệu ứng đám
đông có khi phủ lấp chân lý. Sự mù quáng thiếu tỉnh táo của đám đông
dân chúng có mặt hôm đó trước sân đền thờ Giêrusalem đã tạo nên một làn sóng
phẩn nộ mạnh mẽ, có sức mạnh khủng khiếp che lấp tình thương và công lý, có
nguy cơ đưa đẩy người phụ nữ vào con đường cùng vô phương cứu chữa. Mù quáng
hùa theo dư luận đám đông sẽ dễ dàng sai lầm, đẩy người khác vào cái chết không
đáng.
- Bài học về phân định. Trong mọi vấn đề rất cần sự
biện phân định, bằng cách tạo được khoảng cách tâm lý, khi dành ra những giây
phút thinh lặng để bình tâm suy xét dưới sự tác động của CTT, nhờ sự soi sáng
của lời Chúa. Nhờ thế, ta mới có thể tránh được những sai lầm đáng tiếc, trước
khi đưa ra những quyết định.
- Bài học trước hết và trên hết
là tình thương, nhờ đó ta mới có
được cái nhìn đúng đắn, tấm lòng nhân ái với hết mọi người, nhất là những ai
lầm lỗi. Tha thứ mở ra cho người khác một tương lai hy vọng, bao dung tha thứ
cho người khác là cũng chính là bao dung tha thứ cho chính mình. Quy kết, lên
án và tiêu diệt người khác là ta đã nhẫn tâm đóng chặt cánh cửa tương lai đổi
mới cho người khác và cho chính mình. Hãy tha thứ để được Chúa thứ tha!
Suy niệm 2:
Bài tin mừng hôm nay làm nỗi bật
lên hai hình ảnh đối lập nhau:
1. Hình ảnh của một vị TC giàu
lòng thương xót nơi Đức Giêsu luôn bao dung, nhân từ tha thứ với mong muốn mở
ra con đường sống và một tương lai hy vọng cho những ai lầm lỗi thiếu sót. Bởi
thế, Người khẳng định: “Ta đến không phải để kêu mời người công chính, nhưng để
gọi kẻ tội lỗi ăn năn hối cải" (Lc 5,32).
Với cái nhìn bao dung và lời nói
tha thứ cho người phụ nữ phạm tội ngoại tình, Chúa Giêsu đã tháo cởi nút thắt
để giải thoát chị khỏi án tử.
2. Hình ảnh của những kinh sự và
biệt phái: tự cho mình là người công chính và cho phép mình cái quyền lên án
người khác. Họ chỉ biết nhìn vào những lỗi lầm người khác để lên án, cáo buộc,
lọi trừ và giết chết. Họ muốn đóng kín lại tương lai của người khác hơn là khơi
mở con đường sống và hy vọng cho những ai lầm đường lạc lối. Có thể đó cũng
chính là thái độ của chúng ta.
Xin cho chúng ta biết khiêm tốn
nhận ra những làm lỗi thiếu sót của mình để biết cảm thông và bao dung với
những yếu đuối, tội lỗi của người khác. Và ta cũng hiểu rằng: Chúa yêu thương
người có tội chứ không yêu tội. Chúa bao dung tha thứ cho tội nhân, chứ không
phải dung túng cho phạm tội. Vì thế, sau khi tha thứ cho người phụ nữ ngoại
tình, Chúa đã nhắc nhở chị: “Ta không kết tội chị. Vậy chị hãy đi và từ nay
đừng phạm tội nữa!”. Khi lãnh nhận bí tích giao hoà, chúng ta cũng hãy cố gắng
dốc lòng chừa mà canh tân đổi mới đời sống!
Suy niệm 3:
Hai bài đọc hôm nay đặt chúng ta
trước một thực tại rất thật của đời sống con người: tội lỗi, bất công và sự
phán xét. Nhưng đồng thời, Lời Chúa cũng mở ra một ánh sáng lớn lao: Thiên Chúa
là Đấng bênh vực người vô tội và đầy lòng xót thương đối với tội nhân.
1. Câu chuyện bà Susanna
trong sách ngôn sứ Đanien là một bi kịch đau lòng. Hai kỳ mục là những người
đáng lẽ phải là mẫu gương đạo đức, nhưng lại dùng quyền lực để vu khống và kết
án một người phụ nữ vô tội.
Họ không chỉ phạm tội dục vọng,
mà còn phạm tội dối trá và lạm dụng quyền lực. Điều đáng sợ là họ khoác lên
mình chiếc áo “công lý” để che giấu tội ác.
Hình ảnh này không xa lạ với xã
hội hôm nay:
- Có những lúc người ta dễ dàng
kết án người khác chỉ dựa trên tin đồn.
- Có khi ta nhân danh đạo đức để
chỉ trích, nhưng lại thiếu sự thật và lòng công chính.
Nhưng Thiên Chúa không để sự gian
dối chiến thắng. Ngài đã dùng ngôn sứ Đanien để làm sáng tỏ sự thật. Sự thật có
thể bị che lấp một thời gian, nhưng không bao giờ bị tiêu diệt.
2. Trong Tin Mừng theo Tin
Mừng Gioan, các kinh sư và biệt phái dẫn đến trước mặt Chúa Giêsu một người phụ
nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình.
Họ hỏi: “Theo luật Môsê,
phải ném đá nó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?”
Thoạt nghe, đây là một câu hỏi về
luật. Nhưng thực ra, đó là một cái bẫy:
- Nếu Chúa tha, họ sẽ tố Ngài
chống lại luật.
- Nếu Chúa kết án, họ sẽ mất cớ
để buộc tội Ngài là người nhân từ.
Nhưng Chúa Giêsu không rơi vào
cái bẫy ấy. Ngài trả lời: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá
mà ném trước đi.”
Một câu nói làm đảo lộn tất cả:
- Người ta từ chỗ kết án người
khác, quay lại đối diện với chính mình.
- Từ chỗ cầm đá trong tay, họ
buông xuống trong thinh lặng.
Chỉ một mình Thiên Chúa mới có
quyền xét xử tuyệt đối, vì chỉ Ngài là Đấng hoàn toàn công chính.
3. Khi mọi người đã bỏ đi,
chỉ còn lại Chúa Giêsu và người phụ nữ.
Ngài hỏi: “Không ai kết
án chị sao?” Và rồi Ngài nói: “Tôi cũng không kết án chị. Hãy đi và đừng phạm
tội nữa.”
Ở đây, ta thấy rõ hai điều:
- Chúa không chấp nhận tội lỗi
(“đừng phạm tội nữa”)
- Nhưng Chúa yêu thương và cứu
người tội lỗi (“Tôi cũng không kết án chị”)
Lòng thương xót của Chúa không
phải là dung túng, nhưng là mở ra con đường hoán cải.
4. Lời Chúa hôm nay mời gọi
mỗi người tự hỏi:
- Tôi có đang dễ dàng xét
đoán và kết án người khác không?
- Tôi có dám nhìn lại tội
lỗi của chính mình trước khi phê phán người khác không?
- Tôi có tin rằng Chúa vẫn
đang kiên nhẫn chờ tôi trở về không?
Mùa Chay là thời gian:
- buông những viên đá của sự xét
đoán,
- trở về với sự thật trong tâm
hồn,
- và đón nhận lòng thương xót của
Chúa.
Câu chuyện bà Susanna và người
phụ nữ ngoại tình cho chúng ta hai khuôn mặt:
- một bên là con người giả
hình, kết án và bất công,
- một bên là Thiên Chúa công
minh và đầy lòng xót thương.
Ước gì mỗi người chúng ta:
- biết sống theo sự thật,
- biết khiêm tốn nhìn nhận tội
lỗi mình,
- và biết học nơi Chúa Giêsu một
trái tim đầy lòng thương xót.
Để rồi, thay vì kết án, chúng ta
trở thành khí cụ của sự tha thứ và chữa lành.
Thứ ba: Ds 21,4-9; Ga
8, 21-30
Suy niệm 1:
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho
chúng ta biết Ngài là ai, đến từ đâu và con đường nào Ngài phải đi. Xin cho
chúng ta luôn vững tin vào Chúa và vững bước theo Ngài.
Một lần nữa, Chúa Giêsu lại kiên
nhẫn cố gắng giúp cho những người Biệt Phái cứng lòng nhận biết: Ngài là ai,
đến từ đâu và còn đường Ngài đi là gì?
Ngày nay chúng ta đã hiểu con
đường Chúa đã đi qua là con đường thập giá. Chính Chúa Giêsu cũng đã nói về con
đường ấy trong bài Tin Mừng hôm nay: “Khi các ông giương cao Con Người
lên, bấy giờ các ông sẽ biết tôi là Tôi Hằng Hữu”.
Con đường thập giá là con đường
đẹp theo ý Chúa Cha. Nhưng lại ngược với cái nhìn và ước muốn tự nhiên của con
người. Bởi ai trong chúng ta cũng mong muốn có được cuộc sống tiện nghi, giàu
có, sung túc. Ai mà chẳng mong được danh vọng chức quyền. Chẳng ai muốn thập
giá của đau khổ, vất vả, cay đắng và chết chóc. Nhưng thực tế cho thấy, dù
không muốn, ta vẫn không tránh khỏi. Vì thế, Chúa bảo chúng ta nếu tin vào Ngài
và cầu xin với Ngài, Ngài sẽ ban ơn trợ giúp để chúng ta đủ sức mạnh vác lấy
thập giá đời mình. Chúa Giêsu không dạy ta tránh né thập giá nhưng Ngài lại kêu gọi: “Ai muốn theo
ta hãy từ bỏ mình vác thập giá mình mà theo”.
Đã rõ, Đức Giêsu là Đấng Hằng Hữu
đến từ Thiên Chúa và con đường cứu độ của Ngài là con đường Thập Giá. Vậy, để
được cứu độ thì không có con đường nào khác ngoài con đường thập giá Chúa đã đi
qua. Chấp nhận bước theo Chúa mới đạt đến vinh quang phục sinh.
Xin cho chúng ta biết:
- Từ bỏ ý riêng không hợp ý Chúa
để vâng nghe và thực thi ý Chúa.
- Vui vác thập giá mình hàng ngày bằng việc
đón nhận những hy sinh vất vả khó khăn thử thách trong cuộc sống, mà không kêu
than, oán trách nhưng với niềm tin tưởng và yêu mến Thiên Chúa.
- Sẵn sàng bước đi theo Chúa
Giêsu chứ không theo một ai khác, với mong muốn mỗi ngày ta thấy mình được gần
Chúa và gần anh chị em hơn, bởi biết rằng chính Người là Đấng đã chết và sống
lại vì yêu thương ta.
Sống được như thế chúng ta sẽ
không bị luận phạt và không mang tội nơi mình mà chết. Trái lại sẽ được sống
trong Chúa với niềm hạnh phúc viên mãn.
Suy niệm 2:
Bài đọc 1, Sách Dân Số, trình
thuật lại cuộc xuất hành của dân Do Thái ra khỏi cảnh nộ lệ, đau khổ bên Ai
Cập, trở về đất hứa. Trên cuộc hành trình ấy, họ đã chứng kiến bao phép lạ vĩ
đại mà TC đã làm cho họ. Tuy nhiên, mỗi khi gặp gian khó họ lại kêu trách Mô-sê
và bất tín với Chúa. Nên Chúa đã cho rắn lửa bò ra cắn chết nhiều người. Khi đó
họ hoảng sợ và đã van xin Chúa cứu giúp. Mô-sê lại van xin Chúa hco dân và Chúa bảo
Mô-sê hãy đút rắn đồng treo trên cây, để khi những ai bị rắn cắn, nếu biết tin
tưởng nhìn lên rắn đồng, thì sẽ được sống.
Hình ảnh con rắn đồng treo cao
trên cây trong sa mạc, tiên báo về cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Để từ
nay, bất cứ ai nhìn lên Chúa với lòng tin tưởng, cậy trông thì sẽ được cứu độ.
Nhưng tiếc thay, thời nào cũng
vậy, có nhiều người không tin vào Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ trần gian, nên họ
không sống theo giáo huấn của Người. Trong đó có những người Do Thái thời
Mô-sê, nhất là các kinh sư và biệt phái thời Chúa Giêsu. Vì vậy, họ không xứng
đáng đón nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa.
Tuy nhiên, vì tình thương, Chúa
Giêsu rất kiên nhẫn và dùng mọi cách để thuyết phục họ. Nhưng vì họ mong ước
một Đấng Cứu Độ theo ý muốn của họ và vì cứng lòng nên họ không tin vào Người.
Rất có thể những ước muốn của
chúng ta ngày nay cũng giống như họ, cho dẫu ta vẫn tin Đức Giêsu là Đấng Cứu
Độ. Có không ít người trong chúng ta vẫn thích và đòi hỏi phép lạ nên đã thách
thức Chúa thực hiện mới tin; Cũng có khi ta gặp khó khăn, bệnh tật, nghèo khổ,
ta mong muốn Chúa làm dấu lạ để đáp ứng nhu cầu theo ý mình, nhưng không được
Chúa đáp ứng, ta lại chối bỏ Chúa và chạy theo những thần minh khác…
Ta đâu có
biết rằng, TC luôn là Người Cha hằng yêu thương ta, luôn muốn mọi điều thiện
hảo nhất cho ta là con cái Người. Nên có lần Chúa Giêsu đã khẳng định: “Các
con, dù là kẻ xấu, còn biết lấy của tốt mà cho con cái, thì huống chi Cha các
con, Ðấng ở trên trời, sẽ ban những sự lành biết bao cho kẻ cầu khẩn Người!” (Lc
7,11). Tuy nhiên với cái nhìn thiển cận, chúng ta chỉ biết xin những điều ta
tưởng là tốt cho lợi ích cá nhân, nhưng điều ấy lại phương hại đến phần rỗi đời
đời của ta mà ta không biết. Thế là ta đâm ra bất mãn, không tin và bỏ cầu
nguyện.
Xin Chúa cho chúng ta hiểu
rằng: “Tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi, và đường lối các
ngươi không phải là đường lối của Ta. Như trời cao hơn đất thế nào, thì
đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư
tưởng các ngươi thế ấy.” (Is 55,7-9). Vậy nên trong mùa chay này, với
niềm xác tín vững vàng vào Chúa, ta hãy can đảm từ bỏ đường
lối và tư tưởng của mình mà hãy trở về với Chúa. Tin
rằng Chúa sẽ ban cho ta những điều tốt lành vượt trên những gì chúng ta
mong ước.
Suy niệm 3: NHÌN LÊN THẬP GIÁ ĐỂ SỐNG THẬT VỚI CHÚA
Chỉ còn ít ngày nữa chúng ta sẽ bước vào Tuần
Thánh. Lời Chúa hôm nay như một hồi chuông cảnh tỉnh, thúc giục mỗi chúng ta
nhìn lại thái độ sống đạo của mình, qua ba điểm sau đây:
1. Đừng "Tìm Chúa" bằng hình thức
Chúa Giêsu nói một câu rất đáng sợ: "Các
ông sẽ tìm Ta, và các ông sẽ chết trong tội của các ông." Tại sao tìm
Chúa mà vẫn chết trong tội?
Thưa đó là vì những người Pharisêu tìm Chúa nhưng
không chịu thay đổi cái tôi kiêu ngạo. Họ giữ luật tỉ mỉ nhưng lòng họ đầy định
kiến và xét đoán.
Chúng ta đi lễ, đọc kinh, ăn chay rất nhiều, nhưng
nếu về nhà vẫn còn giận hờn, vẫn còn nói xấu anh chị em, hay vẫn ích kỷ trong
gia đình, thì đó là "tìm Chúa hình thức". Chúng ta cần tìm Chúa bằng
một trái tim biết hối lỗi và bao dung hơn.
2. Hãy tìm Chúa nơi thập giá
Chúa Giêsu tiên báo: "Khi các ông giương
cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu."
Hình ảnh Chúa Giêsu bị treo trên Thập giá chính là
đỉnh cao của tình yêu. Khi nhìn vào Thập giá, chúng ta thấy một Thiên Chúa
không bỏ rơi con người, Ngài chấp nhận đau khổ để cứu chuộc chúng ta.
Khi gặp thử thách, bệnh tật hay những nỗi buồn
trong gia đình, thay vì than trách, quý ông bà và anh chị em hãy nhìn lên Thánh
Giá. Hãy thưa với Chúa: "Lạy Chúa, vì yêu con Chúa đã chịu đóng đinh,
xin cho con sức mạnh để vác thánh giá đời con với lòng yêu mến."
Nhìn vào Chúa, nỗi đau của chúng ta sẽ nhẹ bớt và tìm
thấy được ý nghĩa của thập giá.
3. Luôn sống đẹp lòng Chúa
Năm nay, Giáo hội mời gọi mỗi chúng ta thi hành sứ
mạng thừa sai: "Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai". Chúa
Giêsu đã làm gương cho chúng ta khi Ngài nói: "Tôi hằng làm những điều
đẹp lòng Chúa Cha."
Làm môn đệ không phải là làm điều gì cao siêu, mà
là làm những việc "đẹp lòng Chúa". Trong tuần này, mỗi ngày chúng ta
hãy chọn làm ít nhất một việc
đẹp lòng Chúa:
- Một lời nói nhẹ nhàng với người phối ngẫu khi
đang nóng giận.
- Một sự giúp đỡ tận tình cho người hàng xóm đang
gặp khó khăn.
- Một lời cầu nguyện chân thành cho những người
khô khan nguội lạnh trong họ đạo.
Thưa
cộng đoàn, Chúa Giêsu không bao giờ để chúng ta cô đơn. Ngài hứa: "Đấng đã sai tôi vẫn ở với tôi, Người
không để tôi cô độc."
Xin
cho mỗi chúng ta, cảm nhận được sự hiện diện của Chúa, để từ đó chúng ta can
đảm sống đức tin và loan báo tình yêu Chúa cho mọi người xung quanh. Amen.
Suy niệm 4:
Lời Chúa hôm nay nhắc chúng ta
một chân lý rất quan trọng: ơn cứu độ phát xuất từ Thập Giá Chúa Giêsu.
Trong sa mạc, dân Israel bị rắn
cắn. Thiên Chúa không cất đau khổ ngay, nhưng Ngài ban một phương thế để cứu
chữa bằng cách: ai nhìn lên rắn đồng thì được sống.
Cũng vậy, Tin Mừng hôm nay, Chúa
Giêsu nói: “Khi các ông giương cao Con
Người lên…”, nghĩa là khi Ngài
chịu treo trên Thập Giá.
Chính nơi đó, ơn cứu độ được
ban cho nhân loại.
Nhưng để đón nhận ơn ấy, cần một
điều rất đơn giản: nhìn lên Chúa với lòng tin tưởng và phó thác.
Nhìn lên không chỉ bằng ánh mắt,
mà bằng cả tâm hồn:
- Khi lo lắng → biết cậy trông
nơi Chúa
- Khi đau khổ → biết phó dâng cho
Chúa
- Khi yếu đuối → biết chạy đến
với Chúa
Trong cuộc sống, chúng ta cũng
mang nhiều “nọc độc”: tội lỗi, buồn phiền, thất vọng...Những khi ấy, ta đừng
chỉ than trách hay tự xoay xở, mà hãy nhìn lên Thập Giá Chúa.
Chỉ một ánh nhìn đơn sơ nhưng đầy
lòng tin, Chúa có thể chữa lành và ban lại bình an và sự sống cho chúng ta.
Mùa Chay là thời gian để chúng ta
tập sống điều này mỗi ngày: luôn hướng nhìn lên Thập Giá Chúa Giêsu, vì
chính nơi đó, chúng ta tìm được ơn cứu độ, sức mạnh thiêng liêng và niềm hy
vọng vào sự sống đời đời.
Xin Chúa cho chúng ta biết luôn nhìn lên Chúa, với lòng tin tưởng và phó
thác, để được chữa lành và sống trong ơn cứu độ của Người. Amen.
Thứ tư: Is 7, 10-14; 8,10; Dt
10, 4-10; Lc 1, 26-38
LỄ TRUYỀN TIN
Suy niệm 1:
Cùng với Giáo Hội, hôm nay chúng
ta long trọng mừng Lễ Truyền Tin. Kỷ niệm biến cố Thiên Thần Gabriel truyền tin
cho Đức Maria, khởi đầu cho chương trình cứu độ đầy yêu thương của Thiên Chúa
dành cho con người.
Để thực hiện chương trình cứu độ,
Thiên Chúa đã chọn gọi Đức Maria cộng tác trong việc cưu mang và sinh hạ Đấng
Cứu Thế và Đức Maria đã đáp lời bằng hai tiếng “xin vâng”. Xin cho chúng ta
cũng biết noi gương Đức Maria khiêm tốn và ngoan ngoãn vâng theo thánh ý Chúa
trong mọi hoàn cảnh, để chương trình cứu độ của Chúa nơi ta được hoàn thành tốt
đẹp.
Mỗi khi đọc kinh Kính mừng, chúng
ta nhắc lại lời truyền tin của sứ thần Gabriel cho Đức Maria xưa: “kính mừng
Maria đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng bà, bà có phước lạ hơn mọi người nữ…”;
cũng đồng nghĩa với lời Thiên Thần chào Đức Maria: “Mừng vui lên, Đấng
đầy ơn phúc. Thiên Chúa ở cùng bà…”.
Lời truyền tin này là một lời
chào chúc quý giá và mang giá trị hết sức cao cả. Bởi lẽ có ơn phúc nào cao lớn
cho bằng ơn phúc được Thiên Chúa ở cùng (chính Chúa là nguồn mọi ơn phúc và
Đấng ban ơn phúc. Được Thiên Chúa ở cùng thì có mọi ơn phúc nơi mình rồi). Và
có hạnh phúc nào lớn bằng hạnh phúc được Thiên Chúa ưu ái chọn làm Mẹ Thiên
Chúa. (được chọn làm mẹ vua đã là vinh dự và ơn phúc quá lớn rồi huống chi là
Mẹ Vua Trời).
Ý thức sứ mạng cao quý ấy trong
vui mừng khôn tả vượt trí hiểu, Đức Maria đã bối rối và tự hỏi lời chào ấy có ý
nghĩa như thế nào? Sau khi được nghe Thiên Thần giải thích, Đức Maria biết đó
là ý định Thiên Chúa, dù không hiểu hết nhưng Đức Maria vẫn khiêm tốn ngoan
ngoãn vâng phục.
Có nhiều điều xảy ra trong đời
sống vượt ngoài trí hiểu và khả năng chúng ta, chúng ta thấy không thể thực
hiện được, nhưng đối với Thiên Chúa thì mọi chuyện đều có thể. Từ không Chúa đã
tạo thành vũ trụ vạn vật chỉ bằng lời phán truyền. Chỉ cần bùn đất Chúa đã tác
tạo nên con người và bằng hơi thở Chúa đã làm cho con người trở nên giống hình
ảnh TC. Và với quyền năng bà chị họ Isave son sẻ đã mang thai và sinh con. Như
thế thì việc Đức Maria cưu mang Đấng Cứu Thế mà vẫn đồng trinh là chuyện rất
đổi bình thường với quyền năng của TC. Điều quan trọng là chúng ta sẵn sàng để
Chúa hành động nơi chúng ta như Đức Maria không?.
Tuy Thiên Chúa quyền năng làm
được mọi sự. Nhưng Thiên Chúa lại yêu thích con người cộng tác với Chúa. Để
chọn gọi dân riêng, Chúa đã mời gọi tổ phụ Abraham cộng tác, và Abraham đã vâng
lời bỏ xứ sở ra đi theo ý định Thiên Chúa. Thế là một dân riêng của Chúa đã
hình thành. Để cứu dân tộc Israel ra khỏi kiếp nô lệ bên Ai cập, Thiên Chúa đã
mời gọi Môsê cộng tác, dù sợ hãi về sự kém cỏi của mình, Môsê vẫn vâng phục ý
muốn của Chúa. Thế là cuộc giải phóng đã hoàn tất. Để cứu độ nhân loại, Thiên
Chúa chọn Đức Maria, một người thiếu nữ bình thường, nghèo khó làm mẹ Đấng Cứu
Thế và Mẹ đã ngoan ngoãn tin tưởng vâng nghe. Thế là chương trình cứu độ từ
ngàn đời của Thiên Chúa được thực hiện. Để cứu độ mỗi chúng ta, Chúa cũng mời
gọi chúng ta hợp tác với Chúa. Như thánh Augustinô đã nói: “Chúa dựng nên con
Chúa không cần con, nhưng để cứ độ con Chúa cần con cộng tác”.
Xin cho chúng ta tích cực cộng
tác vào ơn cứu độ của Chúa để cứu chính mình và tha nhân.
* Gợi ý thêm:
Kinh Kính mừng gồm có hai phần :
1. Phần đầu: là lời chúc tụng, được
ghép bởi hai đoạn văn trích từ Tin mừng của thánh Luca : “Kính mừng
Maria, đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng bà” (lời chào của thiên sứ
Gabriel) ; “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu con lòng bà gồm
phúc lạ” (lời chào của bà Ysave) ;
2. Phần thứ hai: mang tính cách khẩn
nài, “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng tôi là kẻ có tội,
khi này và trong giờ lâm tử. Amen”. Được Ðức Giáo Hoàng Piô V
công bố sách nguyện cải tổ theo quyết nghị của công đồng Trentô (năm 1568).
Quan niệm Thần học Tin Lành:
Năm Sola là tiếng La-tinh,
xuất hiện trong cuộc cải chánh, để tóm tắt những xác tín thần học của những nhà
cải cách về yếu tố cần thiết của Cơ Đốc giáo.
Ý Nghĩa Của Năm Tín Lý Duy Nhất:
1. Sola Scriptura (‘’Duy Kinh Thánh"):
Kinh Thánh là thẩm quyền cao nhất của chúng ta.
2. Sola Gratia (‘’Duy Ân Điển’’): Chúng ta được
cứu duy chỉ bởi ân điển của Đức Chúa Trời.
3. Sola Fide (‘’ Duy Đức Tin’’): Chúng
ta được cứu chỉ bởi đức tin nơi Chúa Jesus Christ.
4. Solus Christus (‘’Duy Đấng Christ’’): Duy
chỉ có Đức Chúa Jesus là Chúa, Đấng Cứu Rỗi, và là Vua của chúng ta.
5. Soli Deo Gloria (‘’Duy Vinh Hiển Đức Chúa
Trời’’): Chúng ta sống để dâng sự vinh hiển lên cho duy Đức Chúa Trời.
Trước ơn phúc lớn lao, Đức Maria
đã bối rối và muốn tìm hiểu xem sự việc sẽ xảy đến như thế nào? Một khi nhận
biết là ý định của Thiên Chúa, Đức Maria sẵn sàng vâng theo chứ không hề nghi
ngờ, hay kém tin.
Trước những thử thách, thất bại,
đau buồn trong cuộc sống, nhiều lúc đức tin chúng ta cũng bị lung lay nên sinh
ra nghi ngờ và than trách Chúa, ít khi chúng ta bắt chước Đức Maria tìm hiểu
xem Chúa muốn gì qua những biến cố vui buồn, thành công thất bại, hạnh phúc hay
bất hạnh ấy trong cuộc sống.
Ta hãy tin rằng mỗi biến cố đều
có sứ điệp rất quan trọng Chúa muốn gởi đến ta và mong ta đọc ra thánh ý của
Chúa mà chấn chỉnh lại đời sống mình. Chúa luôn đi ngang qua cuộc đời chúng ta,
nhưng chúng ta lại không gặp Ngài. Chúa luôn đồng hành với ta, nhưng ta lại
không nhận ra Ngài. Chúa hằng gõ cửa nhà chúng ta, nhưng ta lại không nhận ra
tiếng Ngài.
Xin cho chúng ta biết để tâm suy
niệm các biến cố trong đời mà nhạy bén nhận ra lòng thuơng xót của Chúa như Đức
Maria. Amen
(Viết theo Hạt Giống Nẩy Mầm, của cha Carôlô Hồ Bặc Xái)
Suy niệm 2: “CÙNG NHAU LOAN BÁO TIN MỪNG HY VỌNG CỦA CHÚA GIÊSU”
Kính thưa cộng đoàn,
Hôm nay, chúng ta cùng nhau cử
hành Lễ Truyền Tin, kỉ niệm về một biến cố trọng đại đã xảy ra trong lịch sử
cứu độ. Đó là biến cố sứ thần Gabriel đến với Đức Trinh Nữ Maria và loan báo về
một Đấng Cứu Thế sẽ xuống thế làm người qua cung lòng của Trinh Nữ. Biến cố này
không chỉ là khởi đầu của ơn cứu độ, mà còn là lời mời gọi mỗi người chúng ta
bước vào sứ mạng loan báo Tin Mừng hy vọng của Chúa Giêsu cho thế giới hôm nay.
1. Trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng
ta nghe câu chuyện tuyệt đẹp về sự khiêm hạ và vâng phục của Đức Maria. Khi sứ
thần nói: “Này bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là
Giêsu”, Đức Maria không từ chối hay nghi ngờ, nhưng thưa: “Này tôi
là tôi tớ Chúa, xin vâng như lời Ngài truyền”. Lời “xin vâng” ấy đã mở ra
cánh cửa hy vọng cho nhân loại. Qua Đức Maria, Thiên Chúa đã bước vào thế gian,
mang đến Tin Mừng cứu độ, Tin Mừng về một Đấng Cứu Thế đầy yêu thương và quyền
năng.
Hy vọng ấy không chỉ dành riêng
cho thời đại của Đức Maria, mà còn dành cho chúng ta hôm nay, trong năm 2025
này. Thế giới đang đối diện với biết bao thách đố: chiến tranh, bất công, khủng
hoảng môi trường, và sự mất niềm tin. Nhưng Tin Mừng của Chúa Giêsu vẫn là ngọn
hải đăng soi sáng, là nguồn hy vọng bất diệt giữa bóng tối.
2. Chủ đề của chúng ta hôm nay là
“Cùng nhau loan báo Tin Mừng hy vọng của Chúa Giêsu”. Điều này nhắc nhở rằng sứ
mạng loan báo Tin Mừn không phải là việc của riêng ai, mà là trách nhiệm của
toàn thể cộng đoàn đức tin.
Đức Maria không giữ Tin Mừng ấy
cho riêng mình. Sau khi nhận lời sứ thần, Mẹ đã vội vã lên đường đến thăm bà
Êlisabét để chia sẻ niềm vui và hy vọng. Hành động của Mẹ là một gương mẫu sống
động cho chúng ta: Tin Mừng không phải để cất giữ, mà để loan truyền.
“Cùng nhau” là từ khóa quan trọng.
Chúng ta không loan báo Tin Mừng một mình, nhưng trong sự hiệp thông với Giáo
hội, với gia đình, với cộng đoàn. Mỗi người có một vai trò: cha mẹ loan báo Tin
Mừng qua việc giáo dục con cái, linh mục qua lời giảng dạy, giáo dân qua đời
sống chứng tá. Khi chúng ta cùng nhau sống Tin Mừng ngang qua sự tha thứ, yêu
thương, và phục vụ...thì hy vọng của Chúa Giêsu sẽ lan tỏa đến mọi ngõ ngách
của cuộc đời.
3. Năm 2026 là năm đặc biệt khi Giáo
hội mời gọi chúng ta sống tinh thần truyền giáo. Vậy chúng ta có thể làm gì để
loan báo Tin Mừng hy vọng trong bối cảnh hôm nay?
- Sống chứng tá: Hãy để đời sống của chúng
ta phản chiếu niềm vui và bình an của Chúa Giêsu, ngay cả trong khó khăn. Một
nụ cười, một lời nói khích lệ, hay một hành động bác ái nhỏ bé cũng có thể là
cách loan báo Tin Mừng hiệu quả.
- Chia sẻ Lời Chúa: Đừng ngại nói về đức tin
của mình với người khác, bằng lời nói hay qua các phương tiện hiện đại như mạng
xã hội.
- Cầu nguyện và hành động: Như Đức Maria, chúng ta hãy
cầu nguyện để lắng nghe ý Chúa, và rồi can đảm bước ra để phục vụ anh chị em
xung quanh.
Kính thưa cộng đoàn, Lễ Truyền
Tin nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa luôn khởi sự mọi điều tốt đẹp từ những
con người bé nhỏ nhưng đầy tin tưởng như Đức Maria. Hôm nay, Ngài cũng mời gọi
mỗi người chúng ta trở thành những “sứ thần” của hy vọng, mang Tin Mừng của
Chúa Giêsu đến với thế giới. Hãy cùng nhau thưa “xin vâng” như Mẹ Maria, và
cùng nhau bước đi trong sứ mạng loan báo Tin Mừng hy vọng.
Xin Chúa, qua lời chuyển cầu của
Đức Trinh Nữ Maria, ban ơn để chúng ta trở thành những chứng nhân sống động của
Tin Mừng trong năm 2025 này. Amen.
Suy niệm 3: “LOAN BÁO
TIN MỪNG HY VỌNG THEO GƯƠNG ĐỨC MARIA”
Hôm nay, chúng ta cử hành Lễ
Truyền Tin, ngày Thiên Chúa sai sứ thần Gabriel đến với Đức Maria để loan báo
kế hoạch cứu độ: Con Một Thiên Chúa sẽ nhập thể làm người. Trong biến cố này,
chúng ta thấy rõ nét chủ đề “Cùng nhau loan báo Tin Mừng”, một lời mời
gọi sống động trong Năm Thánh Hy Vọng 2025.
1. Đức Maria, Người đầu tiên đón
nhận và loan báo Tin Mừng
Khi sứ thần Gabriel nói: “Này
bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu” (Lc 1,31),
Đức Maria đã lắng nghe trong đức tin. Dù bối rối và thắc mắc, Mẹ không khép
lòng mà thưa lên: “Này tôi là tôi tá Chúa, xin vâng như lời Ngài
truyền” (Lc 1, 38). Lời “xin vâng” ấy không chỉ là sự
chấp nhận cá nhân, mà là khởi đầu cho việc loan báo Tin Mừng đến toàn nhân
loại. Đức Maria trở thành người đầu tiên đón nhận Lời Chúa nhập thể và mang Tin
Mừng ấy đến cho người khác, trước hết là với bà Elizabeth, rồi đến cả thế giới.
Trong năm truyền giáo, chúng ta
được mời gọi noi gương Mẹ: lắng nghe Lời Chúa, đón nhận trong đức tin, và mang
niềm hy vọng ấy đến tha nhân. Loan báo Tin Mừng không phải là công việc của
riêng ai, mà là sứ mạng chung của toàn thể Dân Chúa.
2. Cùng nhau, Sức mạnh của cộng
đoàn trong sứ mạng
Biến cố Truyền Tin không chỉ là
câu chuyện giữa Đức Maria và Thiên Chúa, mà còn là khởi điểm của một hành trình
cộng đồng. Từ lời “xin vâng” của Mẹ, Chúa Giêsu đã đến giữa nhân loại, và Tin
Mừng được lan tỏa qua các tông đồ, các môn đệ, và đến chúng ta hôm nay. Mỗi
người chúng ta, như Đức Maria, được mời gọi góp phần mình vào việc loan báo Tin
Mừng, không đơn độc, nhưng cùng nhau.
“Cùng nhau” mang ý nghĩa của sự
hiệp nhất trong đức tin, tình yêu và hy vọng. Trong Năm Thánh 2025, Giáo hội
kêu gọi chúng ta xây dựng những cộng đoàn sống động, nơi mỗi người đều trở
thành chứng nhân của Tin Mừng qua lời nói, hành động và đời sống. Giống như Đức
Maria đã vội vã lên đường thăm bà Elizabeth để chia sẻ niềm vui (Lc 1,39),
chúng ta cũng được thúc đẩy để ra đi, mang Tin Mừng đến những nơi cần ánh sáng
hy vọng.
3. Loan báo Tin Mừng trong niềm
hy vọng
Năm 2026 này, GH nhắc nhở chúng
ta rằng: Tin Mừng không chỉ là một thông điệp, mà là nguồn mạch của sự sống và
hy vọng. Khi Đức Maria thưa “xin vâng”, Mẹ đã đặt trọn niềm tin vào kế hoạch
của Thiên Chúa, dù tương lai còn mờ mịt. Chính niềm hy vọng ấy đã nâng đỡ Mẹ
qua mọi thử thách, từ hang đá Bêlem đến chân Thập giá.
Hôm nay, chúng ta cũng được mời
gọi loan báo Tin Mừng trong niềm hy vọng giữa một thế giới đầy bất an, chia rẽ
và đau khổ. Tin Mừng chúng ta loan báo không phải là những lời sáo rỗng, nhưng
là lời chứng sống động: Thiên Chúa ở cùng chúng ta (Emmanuel), và Ngài đang làm
việc để đổi mới mọi sự.
4. Lời mời gọi hành động
Lễ Truyền Tin thách thức chúng
ta: Tôi đã làm gì để cùng cộng đoàn loan báo Tin Mừng? Tôi có sẵn sàng thưa
“xin vâng” như Đức Maria, để Chúa sử dụng tôi theo ý Ngài?
Trong gia đình, họ đạo hay nơi
làm việc, chúng ta có thể bắt đầu bằng những việc nhỏ: một lời khích lệ, một cử
chỉ yêu thương, hay một lời cầu nguyện chung. Cùng nhau, chúng ta biến thế giới
này thành nơi Tin Mừng được sống và được nghe.
Xin Chúa cho chúng ta biết noi
gương Đức Maria luôn lắng nghe và đáp lại tiếng Chúa. Xin ban ơn hiệp nhất để
chúng ta cùng nhau loan báo Tin Mừng bằng đời sống tràn đầy hy vọng và yêu
thương. Amen.
* Mùa chay: Ga 8, 31-42
Thấy niềm tin của những người Do Thái
còn mới, chưa trọn vẹn lắm nên Chúa Giêsu đề nghị họ cần phải cố gắng “sống lời
Chúa”; để lời Chúa giải thoát họ khỏi nô lệ tội lỗi mà xứng đáng trở thành môn
đệ của Chúa. Nhưng những người này chưa đủ khiêm tốn để chấp nhận lời đề nghị
của Chúa. Lý do vì họ tự cho mình là con cháu Abraham nên không cần tiếp nhận
thêm điều gì nữa.
Xin cho chúng ta biết khiêm tốn
lắng nghe và làm theo lời dạy của Chúa, nhờ đó ta mới có thể được giải thoát
khỏi xích xiềng của tội lỗi, xứng đáng là môn đệ Chúa Giêsu.
Kết thúc cuộc đối thoại với những
người Do thái, Chúa Giêsu cho biết “Ngài là Đấng Hằng Hữu”, và khi
ấy có nhiều kẻ tin vào Ngài.
Tin mừng hôm nay,
Chúa tiếp tục mời gọi những người mới tin theo Chúa hãy tiến
thêm một bước nữa là hãy: “Ở lại trong Lời Chúa”; vì Lời Chúa là
lời chân lý có sức mạnh giải thoát họ. Tuy nhiên khi nghe đến sự giải thoát
khỏi ràng buộc tội lỗi thì những người này cho rằng: “Chúng tôi là dòng
dõi ông Abraham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ”. Thế là họ
hiểu sai lời Chúa.
Thực ra không phải Abraham làm
cho họ được tự do, nhưng sự tự do đích thật trước Chúa là được sạch tội. Nên
những ai phạm tội là trở thành kẻ nô lệ.
Đức cố giáo hoàng Bênêđictô 16
trong buổi đọc Kinh Truyền Tin ngày Chúa nhật 13/03/2011 đã nói: “Nô
lệ nghiêm trọng và sâu xa nhất là nô lệ cho tội lỗi”. Đúng vậy, hễ ai phạm tội
tất nhiên là nô lệ cho tội. Vì khi phạm tội là ta xua đuổi Chúa ra khỏi lòng
mình và rước ác thần Sa-tan vào cư ngụ thay thế cho Thiên Chúa. Để khỏi nô lệ
cho tội hay ma quỷ, điều kiện là ta phải “ở lại trong Lời Chúa”. Bởi
lẽ khi ở lại với Lời Chúa là chúng ta đang tuân giữ Lời Chúa. Mà giữ lời Chúa
chính là dấu hiệu nói lên lòng ta yêu mến Chúa, đồng nghĩa là ta để cho Chúa
được ở lại trong ta. Mà “Chúa chính là đường là sự thật và là sự
sống" nên ai ở lại trong Chúa thì sự thật chiếm hữu và giải thoát
người ấy khỏi ràng buộc của tội lỗi, được đón nhận sự sống của Chúa.
Sở dĩ những người Do Thái không
chịu ở lại trong lời của Chúa, là vì họ tự mãn cho mình là con cháu Abraham là
dân riêng của Chúa.
Tự mãn kiêu căng là tội đầu trong
các mối tội. Chính vì kiêu căng tự mãn muốn bằng Chúa nên nguyên tổ đã đánh mất
thiêng đàng và trở nên nô lệ cho ma quỷ; chính kiêu căng tự mãn mà thiên thần
Lu-xi-phe đã chống đối lại Chúa và đã bị trừng phạt trở thành Sa-tan.
Có thể nhiều lần ta cũng tự mãn
vỗ ngực xưng tên là người Công giáo, nhưng nhiều lúc chúng ta không sống đúng
với danh xưng ấy. Thay vì sống theo lời Chúa dạy, làm theo ý Chúa muốn, thì
chúng ta lại làm theo ý riêng mình, sống theo những đam mê dục vọng mình. Thay
vì làm tôi Chúa, chúng ta lại làm tôi ma quỷ, xác thịt, thế gian.
Xin Chúa tha thứ những lầm lỗi
chúng ta. Cho chúng ta biết vâng nghe và làm theo Lời Chúa để được tự do làm
con cái Chúa thật sự.
Thứ năm: St 17,3-9; Ga 8, 51-59
Suy niệm 1:
Trong những lần đối thoại với
người Do Thái, Chúa Giêsu đã kiên nhẫn mạc khải cho họ biết về thân thế và sứ
mạng của Ngài; qua đó Ngài cũng nêu lên nếp sống cần phải có cho những ai tin
nhận Ngài. Tuy nhiên với cái nhìn định kiến và sự hiểu biết hạn hẹp; cũng như
quá tự mãn về kinh nghiệm sống của mình, họ đã không nhận ra thân thế và sứ
mạng đích thực của Chúa Giêsu. Vì thế họ đã không chấp nhận sống theo Lời Chúa
chỉ dạy.
Xin cho chúng ta đừng bao giờ ỷ
vào kiến thức và nếp sống đạo lâu nay của mình mà chối từ Lời chỉ dạy của Chúa
và sự hướng dẫn của Giáo Hội. Nhưng biết khiêm tốn lắng nghe mà tích cực thi
hành để ân sủng Chúa tuôn đổ dồi dào dồi dào trong tâm hồn chúng ta.
Tin Mừng hôm nay có hai điểm cần
lưu ý:
- Thứ nhất: Chúa Giêsu nhấn mạnh đến mối
tương quan giữa Ngài với Chúa Cha.
- Thứ hai: Chúa Giêsu nói đến giá trị cao
quý của việc tuân giữ Lời Chúa.
1. Thánh Gioan luôn nói đến mối
tương quan mật thiết giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha. Đoạn tin mừng hôm nay cũng
vậy, thánh Gioan cho biết Chúa Giêsu quả quyết Ngài biết Thiên Chúa Cha, nhưng
những người khác thì không biết. Chính Chúa Cha sai Ngài đến trần gian. Những
lời Ngài dạy bảo là Lời của Chúa Cha. Chúa Giêsu không hề tìm vinh danh cho
chính mình mà chỉ tìm vinh danh cho Đấng đã sai mình. Vì thế mà Ngài được Chúa
Cha tôn vinh.
2. Ngài đến từ Chúa Cha, biết rõ
về Chúa cha, nói những lời của Chúa Cha. Mà Lời của Chúa Cha chính là “Lời ban sự sống đời đời”,
vì thế Chúa Giêsu cho biết: “Nếu ai tuân giữ Lời Ngài, thì sẽ không bao
giờ phải chết”.
Người Do Thái tự hào họ là con
cháu Abraham nên họ xứng đáng thừa hưởng lời chúc phúc của Chúa đã hứa với tổ
phụ Abraham trước đây. Nhưng Chúa Giêsu cho họ biết làm con cháu Abraham theo
huyết thống thôi chưa đủ điều kiện, mà còn phải là con cháu của đức tin giống
như Abraham mới xứng đáng thừa hưởng gia nghiệp nước trời.
Tin Chúa nên Abraham đã nghe Lời
chỉ dạy của Chúa mà sẵn sàng ra đi, dù không biết đi đâu. Như thế tin Chúa thì
phải nghe lời Chúa. Mà Lời Chúa thì mang lại sự sống đời đời, nên ai tuân giữ
Lời Chúa thì không chết bao giờ. Giống như cành nho gắn liền với thân nho, cành
nho được sống vì tiếp nhận nhựa sống từ thân nho nuôi dưỡng. Gắn kết với Lời
Chúa ta sẽ được Chúa thông truyền sự sống. Mà Chúa là sự sống vĩnh cửu,
nên ta sẽ được tham dự vào sự sống đời đời của Chúa.
Xin cho chúng ta xác tín được giá
trị cao quý Lời của Chúa và cố gắng thi hành Lời Chúa dạy, để đón nhận sự sống
đời đời Chúa thương ban.
Suy niệm 2:
1. Trong
bài đọc I, Thiên Chúa thiết lập giao ước với ông Ápraham. Một giao ước không
phải dựa trên công trạng, nhưng trên tình yêu và lời hứa của Thiên Chúa. Ngài
đổi tên Abram thành Ápraham, nghĩa là “cha của muôn dân” như một dấu chỉ của
một tương lai vượt quá những gì con người có thể nghĩ tới.
Điều đáng chú ý là: trước khi ban lời hứa, Thiên
Chúa mời gọi:
“Hãy bước đi trước mặt Ta và hãy nên hoàn thiện.”
Đức tin không chỉ là tin vào lời hứa, mà còn là
một hành trình sống trước mặt Chúa mỗi ngày, trong trung tín và tín thác, ngay
cả khi chưa thấy điều gì rõ ràng.
2. Trong
Tin Mừng, Chúa Giêsu đưa ra một lời khẳng định mạnh mẽ: “Ai tuân giữ
lời Ta, thì sẽ không bao giờ phải chết.”
Người Do Thái không hiểu. Họ nghĩ đến cái chết thể
lý, nên phản đối: Ápraham và các ngôn sứ đều đã chết, vậy sao Chúa Giêsu lại
nói như thế?
Nhưng Chúa Giêsu nói về cái chết sâu xa hơn:
cái chết của linh hồn, cái chết của sự tách lìa khỏi Thiên Chúa.
Giữ lời Chúa không làm ta tránh khỏi cái chết thân
xác, nhưng giúp ta vượt qua cái chết, để bước vào sự sống đời đời.
3. Cao
điểm của đoạn Tin Mừng là khi Chúa Giêsu nói: “Trước khi có Ápraham, Ta
Hằng Hữu.”
Đây không chỉ là một lời nói, mà là một mặc khải:
Chúa Giêsu chính là Thiên Chúa, Đấng Hằng Hữu, Đấng đã gọi Ápraham, Đấng đang
hiện diện và hành động giữa con người.
Người Do Thái hiểu điều đó, nên họ lấy đá ném
Ngài, vì họ cho rằng Ngài phạm thượng.
4. Lời Chúa hôm nay đặt ra cho chúng
ta hai câu hỏi rất thực tế:
- Tôi có sống như một người “đi trước mặt Chúa”
không? Hay tôi chỉ nhớ đến Chúa khi cần, còn đời sống thường ngày thì sống
theo ý riêng?
- Tôi có thực sự “giữ lời Chúa” không? Giữ
lời Chúa không chỉ là nghe, mà là sống: sống yêu thương, tha thứ, trung thực,
và tín thác.
Giữa một thế giới đầy lo âu và bất định, con người
sợ nhất là cái chết. Nhưng Chúa Giêsu khẳng định: Ai gắn bó với Ngài, người
ấy không bị cái chết thống trị.
Chúa là Đấng Hằng Hữu, là nguồn sự sống đời đời.
Xin cho con biết bước đi trước mặt Chúa mỗi ngày, biết lắng nghe và giữ lời
Chúa trong từng chọn lựa nhỏ bé.
Giữa những mong manh của cuộc đời, xin cho con
luôn vững tin rằng: ai ở lại trong Chúa, thì không bao giờ phải chết, nhưng
được sống muôn đời. Amen.
Thứ sáu: Gr 20, 10-13; Ga 10,
31-42
Suy niệm 1:
Trong suốt những ngày qua, chúng
ta đọc Tin mừng của thánh Gioan, Tác giả ghi lại các cuộc tranh luận giữa Chúa
Giêsu và những người Do Thái còn hoài nghi về Ngài. Tương tự như các cuộc tranh
luận trước, cuộc tranh luận trong tin mừng hôm nay, một lần nữa Chúa Giêsu mạc
khải sự thật quan trọng về Ngài. Ngài xác định rõ ràng: "Ngài là Con Thiên
Chúa và là chính Thiên Chúa."
Xin Chúa củng cố đức tin của mọi
người trong chúng ta để cho dẫu phải gặp những khó khăn hay đau khổ trên hành
trình sống đạo, ta vẫn luôn tin tưởng vào Đức Giêsu chính là Thiên Chúa làm
người, cứu độ duy nhất của chúng ta.
Đoạn tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu
mạc khải cho ta biết về hai chân lý đức tin rất quan trọng đó là: “Tôi
là Con Thiên Chúa” và “Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong
chúa Cha”. Đây là bài giáo lý rất quan trọng. Bởi vì nếu Chúa Giêsu chỉ là
một người như bao người, thì lời giảng dạy của Ngài cũng chỉ là để nghe cho vui
tai và chỉ dừng lại bởi những tiếng vỗ tay tán dương như bao lời giảng dạy của
những nhà hùng biện, hay như các bậc hiền triết và các đấng sáng lập các tôn
giáo khác. Nhưng Ngài không chỉ là con người tài giỏi, đức cao, quyền trọng mà
Ngài còn là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa, nên lời giảng dạy của Ngài mang
giá trị tuyệt đối cần được quý trọng. Nhưng vì tự mãn và cứng lòng nên những
người Do Thái đã không tin vào Ngài, cho dẫu họ đã được chứng kiến không ít
những lạ Ngài làm và nghe biết bao lời giảng dạy khôn ngoan của Chúa
Giêsu.
Ngày nay không chỉ có những người
cứng lòng tin như người Do Thái xưa mà còn đó những con người vô thần. Lối sống
của họ chỉ nghĩ đến hưởng thụ vật chất, chỉ thích yêu cuồng sống vội. Họ xem
giáo huấn của Chúa thật rắc rối, là chướng ngại vật, là bức tường cản ngăn lối
sống phóng túng, trụy lạc, tội lỗi của họ. Để rồi họ sẵn sàng ném đá tiêu diệt
Chúa, tìm mọi cách lọai trừ Thiên Chúa ra khỏi tâm hồn và cuộc sống họ giống
như những người Do Thái xưa.
Chúng ta hãy cầu xin cho những
người vô thần. Vô thần trong tư tưởng, trong lập trường cũng như vô thần trong
lối sống, biết nhìn vào thiên nhiên, nhìn vào vạn vật, nhìn vào các biến cố xảy
ra, nhất là nhìn vào bản thân mình mà khám phá ra sự hiện hữu của Chúa mà tin
nhận Người. Với chúng ta cũng rất cần nhìn lại cách thế sống và thể hiện niềm
tin của mình vào Chúa, nhất là trong mùa chay để chấn chỉnh cho phù hợp.
Suy niệm
2:
Cuộc
tranh luận giữa Chúa Giêsu và người Do Thái ngày càng gay gắt đến độ họ không
ngần ngại ném đá Chúa Giêsu!
Khi thấy
họ không tin vào lời của Ngài nói: Ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng Thiên
Sai...thì Ngài thuyết phục họ tin vào những việc Ngài làm: “Cho dù các
ông không tin tôi, thì hãy tin vì các việc tôi làm.”
Những
việc làm của Chúa Giêsu là: đi khắp nơi loan báo Tin Mừng Nước Trời, là làm các phép lạ kỳ diệu, là
chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền, là trừ quỷ khỏi, khống chế thiên nhiên...
Ngài đã làm các việc tốt đẹp ấy không phải theo ý mình, nhưng là theo thánh ý
Chúa Cha. Ngài luôn hiệp nhất với Chúa Cha, “Chúa Cha ở trong Ngài và
Ngài ở trong Chúa Cha.” Tuy nhiên những người Do Thái vì quá kiêu
căng, tự mãn và nặng óc thành kiến nên họ không tin vào Ngài.
Đức tin
là một ơn Chúa ban, nhưng cũng đòi buộc sự cộng tác của mỗi người. Dù không
thấy Chúa vẫn luôn hoạt động qua những việc lạ lùng trong vũ trụ, qua các biến
cố xảy ra trong cuộc sống, qua những người chúng ta gặp gỡ hàng ngày, qua những
lời chỉ của Chúa trong Thánh Kinh, qua những lời giáo huấn của Giáo hội...
Một thực
tế cho thấy, những người nghèo hèn, bé nhỏ thì dễ tin Chúa hơn các người thông
thái, quyền thế (x. Lc 10,21). Bởi lẽ những người tự cho mình là thông thái và
quyền thế thì tự mãn về sự hiểu biết của mình giống như những người Do Thái
trong bài tin mừng hôm nay đã cố tình phủ nhận Chúa Giêsu bằng mọi giá.
Mùa chay
là dịp chúng ta cần củng cố lại đức tin của mình, cũng như đưa đức tin vào
cuộc sống bằng những hành động cụ thể, bởi lẽ thánh Giacôbê tông đồ đã xác
quyết: “Đức tin không có
việc làm là đức tin chết.” (Gc 2,17)
Vậy ta
hãy tận dụng mọi cơ hội để minh chứng niềm tin của mình qua những việc làm cụ
thể như: quảng đại yêu thương, hy sinh bác ái, bao dung tha thứ và khiêm tốn
phục vụ...đó chính là những phương cách hiệu quả nhất để giúp cho mọi người
nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa thật trong thời đại hôm nay, bởi như lời ĐGH
Phaolô VI đã nói: “Người thời
nay tin vào các chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có
tin vào thầy dạy là vì các thầy dạy ấy đã là
những chứng nhân”.
Suy niệm 3:
1.
Ngôn sứ Giêrêmia sống trong một hoàn cảnh rất đau đớn: bị hiểu lầm, bị chống
đối, bị chính những người thân cận tìm cách hại mình. Ông thốt lên: “Tất
cả bạn bè tôi đều rình rập chờ tôi vấp ngã…”
Đó là nỗi cô đơn của người sống theo ý Chúa: càng
trung thành, càng dễ bị chống đối. Tuy nhiên giữa bóng tối ấy, Giêrêmia vẫn
tuyên xưng một niềm tin mạnh mẽ: “Nhưng Đức Chúa ở với tôi như trang
dũng sĩ oai hùng.”
Đây là điểm tựa của ông: không phải là sức riêng,
mà là sự hiện diện của Thiên Chúa.
2. Trong
Tin Mừng, Chúa Giêsu cũng rơi vào tình cảnh tương tự. Người Do Thái cầm đá ném
Ngài. Lý do không phải vì Ngài làm điều xấu, nhưng vì Ngài nói sự thật: “Ta
và Chúa Cha là một.”
Đối với họ, đó là phạm thượng. Nhưng đối với chúng
ta, đó là mặc khải căn bản về căn tính của Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu không lùi bước, không thỏa hiệp, cũng
không tìm cách làm vừa lòng đám đông. Ngài vẫn trung thành với sứ mạng, dù phải
đối diện với bách hại.
3. Lời
Chúa hôm nay không phải để làm chúng ta sợ, nhưng để giúp chúng ta chuẩn
bị tâm hồn:
- Sống ngay thẳng có thể bị hiểu lầm
- Sống chân thật có thể bị chống đối
- Sống theo Tin Mừng có thể bị cô lập
Nhưng điều quan trọng là: Thiên Chúa không bỏ
rơi chúng ta.
Như Giêrêmia, như Chúa Giêsu, người môn đệ được
mời gọi tin rằng: dù có bị vây quanh bởi khó khăn, vẫn có một Đấng đứng về phía
mình.
4. Chúa
Giêsu đưa ra một tiêu chuẩn rất cụ thể: Không chỉ lời nói, nhưng là việc
làm. Đức tin không phải là lý thuyết, mà là những hành động cụ thể: yêu thương,
phục vụ, tha thứ, hy sinh.
Chính những việc làm đó là chứng từ thuyết phục
nhất về Thiên Chúa.
Có những lúc chúng ta cảm thấy: Bị hiểu lầm trong
gia đình. Bị chống đối trong công việc. Bị cô đơn trong hành trình đức tin.
Những lúc đó, Lời Chúa hôm nay nhắc ta: Đừng vội nản lòng. Đừng sống theo đám
đông. Đừng bỏ cuộc vì sợ hãi. Nhưng hãy nhớ: “Chúa ở với tôi như trang
dũng sĩ oai hùng.”
Xin Chúa cho chúng ta đừng sợ hãi trước những chống
đối,
nhưng biết vững tin rằng Chúa luôn ở bên con. Xin cho đời sống ta trở thành
chứng tá sống động, không chỉ bằng lời nói, mà bằng những việc làm cụ thể của
yêu thương. Và trong mọi thử thách, xin cho ta luôn xác tín rằng: Chúa là sức
mạnh và là Đấng bảo vệ con. Amen.
Thứ bảy: Ed 37, 21-28;
Ga 11, 45-56
Suy niệm 1:
Sự đố kị và lòng hận thù khiến
người ta mù quáng không còn nhận ra lẽ phải và bất chấp mọi thủ đoạn, ngay cả
giết người. Đó là cách thế hành xử của các Thượng Tế và Biệt Phái đối với Chúa
Giêsu trong bài tin mừng hôm nay.
Jean de La Fontaine từng viết bài
thơ ngụ ngôn “Le Loup et l’Agneau” kể về con chó sói và con cừu non cùng ra
suối uống nước. Con sói muốn ăn thịt con cừu bèn tìm đủ cách buộc tội con cừu.
Đầu tiên con sói bảo con cừu làm
bẩn nước suối của con sói.
Bị con cừu bẻ: “Thưa ông, ông
uống ở thượng lưu, tôi uống ở hạ lưu, thì chỉ có ông làm bẩn nước của tôi chứ
làm sao tôi có thể làm bẩn nước của ông được?”
Con sói nói: “Năm ngoái mày đã
phỉ báng tao!”
Con cừu trả lời: “Thưa ông, năm
ngoái tôi chưa ra đời.”
Con sói nói: “Thế thì thằng anh
mày đã phỉ báng tao!”
Con cừu đáp: “Thưa ông tôi là con
một.”
Con sói rống lên: “Thế thì một
đứa trong lũ chúng mày đã nói xấu tao, thằng chăn chúng mày đã nói xấu tao, con
chó chăn chúng mày đã nói xấu, tao phải trả thù!” Thế rồi con sói vồ con cừu
nhai ngấu nghiến.
La Fontaine kết luận: “Lý lẽ kẻ
mạnh bao giờ cũng thắng”
Đọc Tin mừng hôm nay, ta có cảm
tưởng các Thượng Tế và Biệt Phái giống như con sói vậy. Họ tìm mọi cách, viện
đủ mọi lý do để tiêu diệt Chúa Giêsu. Họ đã triệu tập một công nghị để bàn tính
với nhau cách đối phó với Chúa Giêsu ra sao. Vì thấy Chúa làm được nhiều việc
lành, có nhiều người tin theo Chúa, sợ mất ảnh hưởng nên họ ghen ghét muốn khử
trừ Ngài cho xong. Sau khi viện đủ mọi lý do tôn giáo để kết tội Chúa Giêsu
như: Chúa đã lộng ngôn phạm thượng xưng mình là Con Thiên Chúa. Rồi lại công
khai tuyên bố phá hủy đền thờ Giêrusalem, nhất là đã liên tục vi phạm ngày
sabát…nhưng những cáo buộc ấy không thành. Vì thế, họ chuyển sang ghép Ngài vào
tội chính trị. Họ vu cáo Ngài vi phạm tới luật lệ của nhà nước và quyền của
hoàng đế Rôma. Rồi họ ra chỉ thị truy nả Ngài trong toàn dân. Với lời khích
động: “Thà một người chết thay cho toàn dân còn hơn là toàn dân bị tiêu
diệt”
Quyết định giết Chúa Giêsu để
thay cho toàn dân quả là một quyết định do lòng ghen tỵ, hận thù… thật là bất
công. Nhưng trong chương trình của Thiên Chúa, thì cái chết của Chúa Giêsu là
để cho mọi người được sống đời đời. Thay cho hành động hận thù và bất công của
các Thượng Tế và Biệt Phái là hành động bao dung và yêu thương của Thiên Chúa,
nhằm quy tụ con cái tản mác khắp nơi về một mối, trong tình hiệp nhất yêu
thương.
Xin cho chúng ta đừng vì ghen
ghét, hận thù mà tìm đủ mọi cách để hãm hại người khác. Nhưng xin Chúa ban cho
chúng ta có được lòng quảng đại, yêu thương tha thứ và sẵn sàng hy sinh, chịu
gian lao khốn khó như Chúa Giêsu.
Suy niệm 2:
1. Ngôn
sứ Êdêkien loan báo một lời hứa đầy hy vọng: Thiên Chúa sẽ quy tụ dân Israel
đang tản mác, chia rẽ, để họ trở thành một dân duy nhất, dưới một vị mục
tử duy nhất.
Không chỉ là sự thống nhất về địa lý hay chính
trị, nhưng là sự hiệp nhất trong giao ước, trong tương quan với Thiên
Chúa.
Ngài còn hứa: “Ta sẽ đặt thánh điện của Ta
ở giữa chúng đến muôn đời.” Nghĩa là: Thiên Chúa muốn ở với dân Ngài,
không phải tạm thời, mà mãi mãi.
2. Trong
Tin Mừng, sau khi Chúa Giêsu làm cho ông Ladarô sống lại, nhiều người tin vào
Ngài. Nhưng cũng chính phép lạ ấy lại làm dấy lên sự lo sợ nơi các thượng tế và
biệt phái. Họ không tìm kiếm sự thật, mà lo bảo vệ quyền lợi: Sợ mất ảnh hưởng.
Sợ mất vị thế. Sợ người Rôma can thiệp. Thượng tế Caipha đã nói một câu tưởng
chừng thực dụng: “Thà một người chết thay cho dân, còn hơn là toàn dân
bị tiêu diệt.” Nhưng Tin Mừng cho thấy: chính câu nói ấy lại trở
thành lời tiên báo. Chúa Giêsu sẽ chết, không chỉ cho một dân, mà
để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi.
3. Hai
bài đọc gặp nhau ở một điểm rất sâu:
- Êdêkien: Thiên Chúa quy tụ dân về một mối
- Tin Mừng: Chúa Giêsu chết để quy tụ nhân loại
Điều đó cho thấy: ơn cứu độ không phải là
chia rẽ, nhưng là hiệp nhất. Nhưng con đường để đạt tới hiệp nhất lại đi
qua hy sinh.
Chúa Giêsu không hiệp nhất bằng quyền lực, mà
bằng tình yêu tự hiến.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại:
- Trong gia đình, cộng đoàn: Tôi đang góp phần xây
dựng hiệp nhất hay gây chia rẽ? Tôi có biết hy sinh cái tôi để giữ hòa khí
không?
- Trong đời sống đức tin: Tôi có dám chọn sự thật,
dù phải thiệt thòi? Hay tôi giống như các thượng tế: đặt lợi ích riêng trên ý
Chúa?
- Trong tương quan với Chúa: Tôi có để Chúa quy tụ
đời mình, những mảnh rời rạc, những chia cắt nội tâm thành một không?
4. Những
người lãnh đạo tôn giáo tưởng rằng: giết Chúa Giêsu là để bảo vệ dân tộc. Nhưng
thực ra, họ đang từ chối chính Đấng cứu độ.
Đôi khi trong đời sống, chúng ta cũng có thể rơi
vào nghịch lý ấy:
- Nhân danh “bảo vệ mình” mà làm tổn thương người
khác
- Nhân danh “ổn định” mà từ chối sự thật
- Nhân danh “tốt” mà lại đi ngược ý Chúa
Chúa đã chấp nhận chết để quy tụ chúng con nên
một.
Xin chữa lành những chia rẽ trong tâm hồn chúng
con, trong gia đình và trong cộng đoàn.
Xin cho chúng con biết từ bỏ cái tôi ích kỷ, biết
hy sinh và tha thứ,
để xây dựng sự hiệp nhất theo ý Chúa. Và nhất là, xin cho chúng con đừng bao
giờ vì sợ hãi hay lợi ích riêng mà từ chối sự thật và tình yêu của Chúa. Amen.