SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH
Lm. Nguyệt Giang
CHÚA NHẬT PHỤC SINH-NĂM
A
Cv 10, 34a-37-43; Cl 3, 1-4; Ga 20, 1-9
SUY NIỆM 1: PHƯƠNG CÁCH NHẬN RA CHÚA
KITÔ PHỤC SINH
Hiệp thông cùng Giáo Hội, hôm nay
chúng ta hân hoan mừng trọng thể lễ Chúa Phục sinh, kỉ niệm biến cố Đức Kitô đã
chết và sống lại. Đây là mầu nhiệm nền tảng và cao cả nhất của người Kitô hữu
chúng ta. Bởi như lời thánh Phao-lô tông đồ đã xác quyết: "Nếu Chúa Kitô không sống lại thì niềm tin của
chúng ta là hão huyền và lời rao giàng của chúng ta là vô ích. Chúng ta là
những người khờ dại nhất." (x.1Cr 15,12-19). Nhưng Đức Kitô đã
sống lại nên đem đến niềm vui, hy vọng cho chúng ta.
Vui vì Đức Giêsu là người nên Ngài
cũng đã chết thật nhưng Ngài là Thiên Chúa nên Ngài đã sống lại thật, vì thế từ
này sự chết không còn làm chủ được chúng ta nữa.
Hy vọng vì qua mầu nhiệm phục sinh
của Đức Kitô, chúng ta tin rằng nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô thì chúng
ta cũng sẽ được cùng sống lại với Người.
Vậy xin Chúa thương
củng cố đức tin nơi mỗi người chúng ta để chúng ta kiên cường sống và làm chứng
cho niềm tin của mình với niềm hy vọng vào sự sống vĩnh cửu mai sau.
Truyện kể:
Trong kho tàn truyện cổ
tích, có một câu truyện lý thú sau đây:
Mặt trăng và Mặt Trời tranh cãi với nhau về Trái Ðất. Mặt Trời
nói: “Lá và cây cối, tất cả đều màu xanh”. Nhưng Mặt Trăng thì lại cho rằng,
tất cả chúng mang một ánh bạc lấp lánh. Mặt Trăng nói
rằng, con người trên Trái Ðất thường ngủ. Còn Mặt Trời lại bảo con người luôn
hoạt động đấy chứ.
- Con người hoạt động,
vậy tại sao trên Trái Ðất lại yên ắng đến vậy? Mặt Trăng cãi.
- Ai bảo là trên Trái
Ðất yên lặng? – Mặt Trời ngạc nhiên - Trên Trái Ðất mọi thứ đều hoạt động, và còn rất ồn ào,
náo nhiệt nữa.
Và họ cãi nhau rất lâu,
cho đến khi Gió bay ngang qua.
- Tại sao các bạn lại
cãi nhau về chuyện này chứ? Tôi đã ở bên cạnh Mặt Trời khi Mặt Trời nhìn xuống
Trái Ðất, và tôi cũng đi cùng Mặt Trăng khi
Mặt Trăng xuất hiện. Khi Mặt Trời xuất hiện, mọi thứ là ban ngày, cây cối màu
xanh, con người hoạt đông. Còn khi Trăng lên, đêm về, mọi người chìm vào giấc
ngủ.
Nếu chỉ nhìn mọi việc
dưới con mắt của mình, thì mọi thứ chẳng có gì là hoàn hảo, trọn vẹn cả. Không
thể đánh giá Trái Ðất chỉ bằng con mắt của Mặt Trời hoặc Mặt trăng được.
Cũng vậy khi đánh giá một con người,
một sự việc nào đó, không thể nhìn từ một phía…
Tin mừng Phục Sinh thuật lại cho
thấy ba cái nhìn khác nhau khi chứng kiến cùng một sự kiện “Ngôi mộ
trống”:
- Ma-ri-a Ma-đa-lê-na cứ đinh ninh
rằng xác Chúa Giêsu đã bị đánh cắp (Ga 20, 13-15).
- Phêrô thì rất đỗi ngạc nhiên vì sự
việc đã xảy ra (Lc 24,12).
- Còn Gioan, người môn đệ Chúa
Giê-su thương mến, thì tin chắc rằng Chúa Giêsu đã sống lại như lời Ngài đã
tiên báo (Ga 20,9).
Sở dĩ có những cái nhìn khác nhau
như vậy là vì họ có những tâm trạng khác nhau:
- Maria Mac-đa-la, với tâm trạng
thương nhớ Chúa thiết tha. Có lẽ cả đêm dài bà không chợp mắt được. Bà ước ao
trời mau sáng để ra thăm mộ Chúa. Nhưng khi chứng kiến tảng đá đậy mộ bị lăn ra
và xác Chúa không còn trong mộ, bà đã hốt hoảng chạy về báo tin cho các môn đệ
Chúa. Tình thương của Maria Mác-đa-la dành cho Chúa Giêsu là một tình thương
đáng trân trọng. Nhưng nếu tình thương ấy chỉ dừng lại ở mức độ cảm tính thường
tình thì không có khả năng nhận ra sự phục sinh của Chúa.
- Tông đồ Si-mon-Phêrô thì đang mang nặng
tâm trạng buồn rầu vì tội lỗi đè nặng tâm hồn, bởi đã chối Thầy. Cho nên ông
cũng không nhận ra gì hơn ngoài việc rất đổi ngạc nhiên khi chứng kiến những
mảnh băng vải và khăn che đầu được cuốn lại xếp riêng ra rất ngăn nắp; cùng với
ngôi mộ trống. Phải chăng lúc đó tâm trí của ông vẫn còn bị ám ảnh giờ phút
chối Chúa. Phải chăng lòng ông vẫn còn mang nặng nỗi u buồn về tội lỗi mà mình
đã nhát đảm gây ra. Ông còn phải có thời gian như là liều thuốc đặc trị để chữa
lành vết thương tâm hồn bất tín ấy để tiến đến niềm tin trọn vẹn vào Chúa Giêsu
phục sinh.
- Cách riêng tông đồ Gioan, người
môn đệ Chúa yêu cũng là môn đệ rất yêu Chúa, nên khi chứng kiến
những băng vải đặt bên trên ngôi mộ trống, lập tức ông đã tin là Thầy mình sống
lại như lời sách thánh đã tiên báo.
Vì thế, để tin vào sự phục sinh của
Chúa Giêsu, Gioan phải vượt lên trên tình cảm tự nhiên như Maria Mac-đa-la,
cũng như phải thắng vượt nỗi đau buồn mặc cảm tội lỗi của Phêrô, để định hướng
cái nhìn của mình vào sự kiện ngôi mộ trống bằng tình yêu trong sáng dưới sự
hướng dẫn của ánh sáng Lời Chúa. Chính cái nhìn này đã giúp Gioan vững tin vào
sự sống lại của Chúa Giêsu. Như thế, cùng một sự kiện nhưng lại có những cái
nhìn khác nhau, khởi đi từ những tâm trạng khác nhau.
Trong cuộc sống hàng ngày, luôn có
những biến cố vui buồn, sướng khổ, thành công thất bại xảy ra…tựa như là dấu
chỉ “ngôi mộ trống”. Vậy trước những dấu chỉ đó ta có cái nhìn
như thế nào?
Có thể giống như Maria Mac-da-la, ta
chỉ dừng lại ở cái nhìn do cảm tính tự nhiên thúc đẩy nên khi đối diện với
những biến cố ấy ta không nhận ra gì cả ngoài những cảm xúc đau buồn khi gặp
khó khăn, nghèo khổ, mất mác, thất bại và vui mừng khi thành công, may mắn
trong cuộc sống.
Có thể chúng ta cũng giống như
Phêrô, chẳng nhìn thấy gì hơn trước những biến cố xảy ra trong đời sống vì quá
tự ti mặc cảm bởi những lầm lỗi trong quá khứ của mình.
Xin Chúa cho chúng ta có được cái
nhìn đức tin, được định hướng dưới ánh sáng lời Chúa như thánh Gioan. Nhờ đó ta
mới có thể nhận ra sự hiện của Chúa Giêsu phục sinh trong mọi biến cố xảy ra
trong cuộc đời chúng ta. Amen
SUY NIỆM 2:
“NGÔI MỘ TRỐNG – KHỞI ĐẦU MỘT NIỀM HY VỌNG MỚI”
Sáng sớm ngày
thứ nhất trong tuần, khi trời còn tối, bà Maria Mađalêna ra mộ… và bà thấy tảng
đá đã lăn khỏi mộ. Một chi tiết rất nhỏ, nhưng lại mở ra một biến cố lớn: ngôi
mộ trống.
Ngôi mộ trống
không phải là dấu chấm hết, nhưng là khởi đầu của một niềm hy vọng.
1. Ngôi mộ
trống: từ hoang mang đến niềm tin
Khi thấy mộ
trống, phản ứng đầu tiên không phải là tin, mà là hoang mang.
- Maria tưởng xác Chúa bị lấy mất;
- Phêrô và Gioan chạy ra mộ trong bối rối.
Điều này rất giống chúng ta: Trong cuộc sống,
khi gặp biến cố, mất mát, đau khổ… ta thường nghĩ rằng: mọi sự đã hết.
Nhưng Tin Mừng
cho thấy: Chính nơi tưởng là kết thúc, Thiên Chúa lại bắt đầu một điều mới.
Ngôi mộ trống là lời nhắc ta:
- Thiên Chúa có thể biến
điều tưởng như thất bại thành chiến thắng;
- Có thể biến bóng tối
thành ánh sáng.
2. Đức Kitô đã sống lại: một sự thật làm thay đổi
cuộc đời
Bài đọc 1, sách Công vụ Tông đồ khẳng định: “Chúng tôi là chứng nhân… Thiên Chúa đã cho
Người sống lại.”
Đức tin Kitô giáo không dựa trên một ý tưởng, mà dựa trên
một
biến cố có thật: Chúa đã sống lại.
Và biến cố này thay đổi tất cả:
- Từ sợ hãi, các Tông đồ
trở nên can đảm
- Từ thất vọng, các tông
đồ trở thành người loan báo Tin Mừng
- Từ đóng kín, các tông
đồ mở ra cho cả thế giới
Nếu Chúa đã sống lại,
thì: Không có đau khổ nào là vô nghĩa. Không có tội lỗi nào là không thể tha thứ.
Không có cái chết nào là điểm kết thúc
3. Sống Phục Sinh: tìm kiếm những gì thuộc về trời
Thánh Phaolô bài đọc 2, nhắn nhủ: “Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới.”
Tin Chúa sống lại không chỉ là một niềm tin, mà là một
cách sống mới:
- Sống hy vọng thay vì bi quan;
- Sống yêu thương thay vì ích kỷ;
- Sống tha thứ thay vì hận thù.
Người sống Phục Sinh là người:
- Không để mình bị chôn vùi trong “ngôi mộ”
của quá khứ;
- Không bị trói buộc bởi tội lỗi, thất bại;
- Nhưng biết đứng dậy và bước đi trong ánh
sáng.
4. Từ
ngôi mộ trống đến sứ mạng
Tin Mừng kết
thúc không phải bằng một lời giải thích, mà bằng một hành động:
các
môn đệ ra đi và làm chứng.
Hôm nay, mỗi
người chúng ta cũng được mời gọi: Trở thành chứng nhân của Chúa Phục Sinh bằng
chính đời sống:
- Trong gia đình biết yêu thương, đó là dấu
chỉ Chúa sống lại;
- Nơi họ đạo biết bao dung, tha thứ, đó là
dấu chỉ Chúa sống lại;
- Ngoài xã hội không mất niềm hy vọng giữa những
khó khăn, đó là dấu chỉ Chúa sống lại.
Ngôi mộ trống vẫn còn đó trong Tin Mừng, nhưng
điều quan trọng là: trái
tim chúng ta có còn “trống vắng niềm tin” hay đã đầy tràn hy vọng Phục Sinh?
Ước gì
mỗi người chúng ta: Bước ra khỏi “ngôi mộ” của sợ hãi, đón nhận tràn đầy ánh
sáng Phục Sinh, nhờ đó trở thành ánh sáng niềm vui Tin Mừng Phục Sinh cho người
khác: Vì Chúa đã sống lại
thật – Alleluia!
SUY NIỆM 3:
Trong một cơ hội tình cờ, có ba
người đại diện cho ba tôn giáo lớn là: Phật giáo, Hồi giáo và Thiên Chúa giáo
ngồi lại tranh luận với nhau, và ai cũng tự hào về đấng sáng lập đạo của mình.
- Người Phật tử nói: "Khi Đức
Phật Thích Ca của chúng tôi chết, chúng tôi đưa đi hỏa táng và hài cốt của Ngài
hiện đang để trong chùa Xá Lợi (Xương Phật), điều đó chứng tỏ đức Phật Thích Ca
của chúng tôi hiện hữu."
- Tiếp đến, Môn đồ Hồi giáo lên
tiếng: "Khi Giáo Chủ Mahomét của chúng tôi chết, ngài để lại cho chúng tôi
nắm tóc và bộ râu, và đã được lưu giữ trong đền thờ bên Árập. Điều đó chứng
minh Giáo chủ chúng tôi có mặt trên trần gian này."
Rồi hai người hỏi tín hữu Kitô giáo:
"Còn Chúa Giêsu của anh chết, Ngài có gì lại làm bằng
chứng không?".
- Người tín hữu trả lời: Khi Chúa
chúng tôi chết, Ngài để lại ngôi mộ trống, vì Ngài không chết luôn như Giáo Chủ
của các anh, Ngài đã sống lại ra khỏi mồ. Do đó, chúng tôi không có mảnh xương,
hài cốt như đức Phật Thích Ca; hay nắm tóc, bộ râu như đức Giáo Chủ Mahomét.
Nếu Chúa Giêsu của chúng tôi chết mà
không sống lại, thì chúng tôi chẳng tôn thờ Ngài. Các nhà truyền giáo cũng
chẳng dại gì mà phải dấn thân vào những nơi xa xôi để rao giảng Tin mừng. Các
thánh tử đạo cũng chẳng bao giờ liều mình đổ máu ra để làm chứng cho Đấng đã
chết mà không sống lại!
Thật vậy, Thánh Phaolô đã nói
rằng: "Nếu Đức Kitô chết mà không sống lại, thì đức tin của chúng
ta chỉ là hão huyền và lời rao giảng cũng trở nên vô ích…" (1,Cr.15,14-19).
Nếu Đức Kitô chết mà không sống lại,
thì Ngài không phải là con Thiên Chúa hằng sống; việc Ngài hiến mình chịu chết
là một điên rồ. Những phép lạ Ngài làm chỉ là phù phép giả tạo. Toàn bộ giáo lý
Ngài rao giảng đều sụp đổ.
Nếu Đức Kitô chết mà không sống lại,
chắc chắn các Bí tích phát sinh từ cạnh sườn Ngài đều vô hiệu hoá. Giáo hội
Ngài thiết lập sẽ không tồn tại. Và như vậy, sẽ không có đạo Công Giáo, không
có những ngôi thánh đường trên thế giới.
Nếu Đức Kitô chết mà không sống lại,
thì Ngài cũng chẳng hơn gì chúng ta, cùng lắm thì như các vị đạo sư, chết là
hết.
Nhưng, Đức Kitô đã chết và đã sống
lại, chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa hằng sống, như lời Ngài nói: "Ta
có quyền thí mạng sống và cũng có quyền lấy lại” (Ga 10,18); “Ta
là sự sống lại và là sự sống." (Ga 10, 25).
Thế thì, Chúa Kitô sống lại Ngài
mang lại cho chúng ta những gì?
- Trước nhất, Ngài mang lại cho
chúng ta niềm vui. Niềm vui này khởi đi từ các tông đồ, "các
ông vui mừng vì xem thấy Chúa" (Ga 20, 20), và cũng là niềm vui
cho toàn thể dân thánh. Vui vì Chúa đã chiến thắng tử thần "Ngài
không bao giờ chết nữa" (Rm 6, 9). Vui vì nhờ cuộc khổ nạn và
phục sinh của Chúa, chúng ta được thông phần vào đời sống mới, với tư cách là
con cái Thiên Chúa, được đồng thừa tự với Đức Kitô.
Chúa sống lại ban cho chúng ta niềm
hy vọng. Hy vọng ngày mai đây khi nhắm mắt lìa đời, chúng ta cũng được sống
lại với Chúa, lúc đó ta sẽ gặp lại những người thân đi trước chúng ta.
Chúa sống lại ban cho chúng ta nguồn
an ủi, vì Chúa đã vượt qua cái chết bởi những đau khổ, đã nếm mùi cay đắng
của một kiếp người rồi mới tiến đến vinh quang.
Như vậy, mọi việc lành chúng ta làm
ở đời này đều sinh công ích. Mọi đau khổ của chúng ta đều có giá trị vĩnh cửu
đời sau, nếu chúng ta biết chấp nhận vì lòng yêu mến Chúa.
Chúa sống lại, Ngài muốn minh chứng
cho chúng ta biết rằng: Ngài là Thiên Chúa giàu lòng thương xót, đã chết đi để
chúng ta được sống.
Chớ gì mỗi năm mừng kỷ niệm Chúa
Phục Sinh, là dịp nhắc nhở chúng ta sống lời mời gọi của Thánh Phaolô: "Nếu
anh em muốn sống lại với Đức Kitô, thì anh em hãy tìm kiếm những sự trên
trời..." (Cl. 3,1).
Tìm kiếm những sự trên trời, không
phải là bỏ hết công ăn việc làm để rồi tối ngày chỉ đi nhà thờ quỳ cầu nguyện
liên lỉ, nhưng tìm kiếm những sự trên trời, theo như lời thánh Phaolô khuyên
nhủ đó là: "Dù anh em ăn, dù anh em uống hay làm bất cứ việc gì,
anh em hãy làm vì vinh danh Chúa." (1Cr 10,31).
Mỗi sáng khi thức dậy, người mà
chúng ta nhớ đầu tiên phải là Chúa. Việc lo lắng tìm kiếm trước tiên phải là
Nước trời "Tiên vàn, các con hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa
trước..." (Mt 6, 33). Rồi cuối ngày trước khi ngả lưng xuống ngủ,
người nhớ cuối cùng cũng phải là Chúa, nếu có gì lầm lỗi trong ngày xin Chúa
thứ tha.
Nếu ngày nào chúng ta cũng sống với
tất cả ý thức như thế, là chúng ta đang tìm kiếm những sự trên trời, đang sống
Tin mừng Chúa Phục Sinh.
Anh
chị em thân mến,
Mỗi lần tham dự Thánh lễ, sau khi
linh mục truyền phép chúng ta đồng thanh tung hô: "Lạy Chúa, chúng
con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới
khi Chúa đến" (1Cr 11,26).
Thế nào là loan truyền và tuyên xưng
việc Chúa sống lại?
1. Loan truyền bằng cách
sống chứng nhân lòng thương xót đó là: đem yêu thương vào nơi oán thù; đem
thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn
lỗi lầm.
2. Tuyên xưng việc Chúa
sống lại không phải bằng "đầu môi chót lưỡi" nhưng bằng
cách thay đổi lối sống của mình. Như các tông đồ, họ không còn sống cho chính
bản thân mình nữa, mà sống cho "Đấng đã chết và sống lại vì chúng
ta". Vì thế, họ sẵn sàng chịu đau khổ, chịu chết vì danh Chúa Phục sinh.
Ngày xưa, trong cuộc thương khó
Chúa, các tông đồ hoảng sợ, đức tin lung lay tận gốc rễ, nhưng nhờ Đức Mẹ
củng cố niềm tin mà các ông được vững mạnh. Thì bây giờ, giữa một thế giới có
nhiều biến động và nhiều thách đố, nhiều khi làm cho đức tin chúng ta bị lung
lay chao đảo, thì hãy bắt chước các tông đồ mau chạy đến với Đức Mẹ, người Mẹ
của lòng thương xót, sẽ ra tay nâng đỡ phù trì, giúp chúng ta can đảm làm chứng
cho tin mừng phục sinh của Chúa.
Lạy Nữ Vương thiên đàng, hãy vui
mừng Alleluia. Vì Con Mẹ đã sống lại thật. Alleluia. Xin cầu cho chúng con.
Amen.
Lm. Gioan M. Nguyễn
Thiên Khải, CMC
Thứ hai: Cv 2,14.22-33; Mt 28, 8-15
Suy niệm 1:
Tin mừng hôm nay thuật lại sự kiện
Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với các phụ nữ. Người chấn an các bà và sai các bà
loan báo tin mừng phục sinh cho các tông đồ. Xin cho chúng ta có được niềm vui
phục sinh và can đảm minh chứng niềm vui phục sinh cho mọi người.
Để biết được thông tin chính xác, ta
cần lắng nghe chính người trong cuộc thông tin lại. Tin mừng hôm nay cho thấy
có hai nguồn thông tin trái ngược nhau về sự kiện Chúa Giêsu sống lại.
Nguồn thông tin của các bà phụ nữ.
Đây là những người trong cuộc vì đã
trực tiếp gặp gỡ Chúa Giêsu. Đã tận tai nghe lời Chúa nói cũng như đã đụng chạm
đến chân Chúa. Các bà còn được Chúa trao nhiệm vụ loan báo cho các môn đệ biết
về việc Chúa sống lại và muốn gặp các môn đệ tại Galilêa.
Nguồn tin của lính canh.
Những lính canh, cũng đã chứng kiến
sự kiện ấy. Nhưng vì bị các thượng tế và kỳ lão mua chuộc và hù dọa nên họ nghe
theo lời hướng dẫn của các thượng tế và kỳ lão phao tin không trung thực rằng:
“ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ,các môn đệ hắn đã đến lấy trộm hắn đi”.
Cùng là chứng những sự việc Chúa
Giêsu phục sinh hiện ra giống như các phụ nữ, nhưng những người lính canh đã bị
khống chế của quyền lực và sự mua chuộc bởi tiền bạc của giới thượng tế và kỳ
lão nên các ông đã thông tin sai sự thật.
Trong cuộc sống, chúng ta cũng
thường nghe được những luồng thông tin khác nhau về một sự kiện nào đó xảy ra
trong xã hội cũng như trong Giáo Hội. Có những thông tin chính thống cần tin
theo. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi, phe nhóm và thế lực của mình cũng có
không ít những thông tin sai lạc, ta cần phải kiểm chứng và dè chừng.
Hằng ngày trên các phương tiện
truyền thông ta bắt gặp rất nhiều thông tin lề trái, lề phải nhằm dẫn dắt dư
luận sang một hướng nào đó. Bên cạnh những thông tin thật cũng có nhiều thông
tin không thật. Sống trong một xã hội mà phải liên tục đề phòng hàng giả, người
giả, thông tin giả quả là một điều bất hạnh. Chắc chắc ai trong chúng ta cũng
không muốn điều ấy xảy ra. Nhưng rồi chính cuộc sống chúng ta cũng bị ảnh hưởng
ít nhiều. Nhiều lần vì sợ, vì tham vì bị mua chuộc… ta lại chấp nhận im lặng
hay từ chối làm chứng cho chân lý. Lắm khi vì ham mê tiền bạc, chức quyền ta
cũng sẵn sàng chối bỏ niền tin cách dễ dàng.
Chúa Phục sinh ban bình an cho các
bà phụ nữ và sai các bà ra đi làm chứng niềm tin phục sinh. Hôm nay, Chúa phục
sinh cũng ban bình an cho chúng ta và cũng mời gọi chúng ta can đảm làm chứng
cho tin mừng chân lý và tình thương nhằm đem đến niềm vui và bình an cho tha
nhân.
Xin cho chúng ta được trở nên chứng
nhân trung thành của Chúa phục sinh trong cuộc sống hôm nay.
Suy niệm 2:
Tin Mừng hôm nay cho biết: tuy chứng
kiến cùng một sự kiện Chúa phục sinh nhưng các bà phụ nữ và những người lính
canh mộ lại có những cái nhìn khác nhau:
- Các bà phụ nữ do không bị ảnh
hưởng bởi tiền bạc chi phối; cũng không khiếp sợ trước bất kỳ thế lực nào bên
ngoài, nên sau khi chứng kiến sự kiện Chúa phục sinh hiện ra với chính mình,
các bà đã tin nhận và đã hân hoan loan báo tin mừng ấy cho các môn đệ, như lời
Chúa phục sinh căn dặn.
- Còn với những người lính canh mồ, dẫu
rằng họ cũng chứng kiến cùng một sự kiện Chúa phục sinh như các bà phụ nữ.
Nhưng vì bị lôi cuốn bởi sức mạnh của đồng tiền do các Thượng Tế và Kỳ Lão mua
chuộc; cũng như vì sợ hãi trước thế lực to lớn của giới chức lãnh đạo tôn giáo
bấy giờ, nên họ đã sẵn sàng chối bỏ chân lý. Tệ hại hơn nữa là họ lại nghe lời
của các Thượng Tế và Kỳ Lão để dẫn dắt dư luật theo hướng nhìn dối trá sai lạc,
khi phao tin: “Ban đêm khi chúng tôi đang ngủ, thì môn đệ ông đến lấy
trộm xác ông”.
Gian dối, lộc lừa ngày hôm nay đã
lan tràn trong xã hội chúng ta trong mọi lãnh vực, chỉ vì người ta quá say mê
tiền bạc, danh vọng, quyền lực…Thật là hiểm họa! Nên cần lắm sự vào cuộc của
các cấp lãnh đạo, các đoàn thể, của hệ thống báo chí, truyền thanh, truyền
hình, Internet, của nhà trường và gia đình…nhằm lên án mạnh mẽ sự dối trá, lộc
lừa và đề cao lòng trung thực nơi con người và tôn trọng công lý trong xã hội.
Với người Kitô hữu chúng ta Chúa đã
dạy: “có thì phải nói có, không thì phải nói không. Thêm thắt điều gì là do ác
quỷ” (Mt 5, 37). Xin cho chúng ta biết tin nhận mạnh mẽ vào mầu nhiệm Chúa phục
sinh. Nhờ đó, ta mới có đủ can đảm vượt lên sức hút mãnh liệt của danh-lợi-thú
mà sống ngay chính trước Chúa, lương tâm, mọi người.
Suy niệm 3:
Tin Mừng hôm nay thuật lại cuộc gặp
gỡ đầy cảm động giữa Chúa Giêsu Phục Sinh và các phụ nữ, những người đã trung
thành theo Ngài đến tận chân thập giá và nay ra thăm mộ Người. Khi các bà vừa
rời khỏi mộ với tâm trạng lo lắng và vui mừng vì “ngôi mộ trống”, thì Chúa
Giêsu hiện ra với họ, cất lên một lời đơn sơ nhưng chan chứa yêu thương: “Chào
mừng chị em!”
1. Từ ngôi mộ đến cuộc gặp gỡ sống
động
Các phụ nữ ra thăm mộ Chúa mang theo
hương liệu để xức xác Thầy mình, nhưng điều họ mang về không phải là xác chết,
mà là Tin Mừng của sự sống, là cuộc gặp gỡ Đấng Phục Sinh. Điều này nhắc nhở
chúng ta rằng: niềm tin vào Chúa Giêsu không dừng lại ở thập giá và sự chết,
nhưng luôn hướng tới sự sống và hy vọng.
Chúa Giêsu đã sống lại! Đó là trung
tâm của đức tin Kitô giáo. Ngài không hiện ra như một bóng ma, mà bằng một thân
thể vinh hiển, gần gũi và thân tình. Ngài gặp gỡ các bà với sự trìu mến, yêu
thương, vì họ là những tâm hồn thành tín và dám bước đi trong bóng tối của đau
thương.
2. Niềm vui phục sinh dẫn đến sứ
mạng loan báo
Các phụ nữ sau khi gặp Chúa, đã “vội
vã ra đi loan báo cho các môn đệ”. Họ trở thành người loan báo đầu tiên của Tin
Mừng Phục Sinh. Đây cũng là lời mời gọi cho chúng ta hôm nay: Ai đã gặp Chúa
thì không thể giữ Ngài cho riêng mình. Chúng ta phải trở nên sứ giả của Tin
Mừng, là chứng nhân cho niềm hy vọng sống động mà Chúa Phục Sinh đem lại.
3. Hai lựa chọn: sự thật hay gian
dối?
Bên cạnh niềm vui Phục Sinh, bài Tin
Mừng hôm nay cũng đối lập hình ảnh các phụ nữ với thái độ của các lính canh và
thượng tế. Họ biết rõ Chúa đã sống lại, nhưng lại chọn sự dối trá, nhận tiền để
loan tin giả. Họ đã đánh đổi chân lý để bảo vệ quyền lợi trần gian.
Đây là một cảnh tỉnh cho chúng ta:
trước mầu nhiệm sự sống, mỗi người phải chọn lựa, tin vào Chúa Phục Sinh để
sống trong ánh sáng, hay chối bỏ sự thật và sống trong bóng tối lừa dối?
Xin cho chúng con
biết mở lòng ra gặp gỡ Chúa mỗi ngày, biết vượt qua sợ hãi và nghi ngờ để trở
nên những chứng nhân can đảm của niềm tin. Xin cho ánh sáng Phục Sinh soi chiếu
mọi bóng tối trong cuộc đời con, và giúp con sống trọn vẹn niềm hy vọng vào
Chúa hôm nay và mãi mãi. Amen.
Thứ ba: Cv 2,36-41; Ga 20, 11-18
Suy niệm 1:
Tin mừng hôm nay cho ta biết, Chúa
phục sinh hiện ra với bà Maria Macđala, ban lại cho bà niềm vui cũng như chỉ
cho bà cách thức phải sống niềm vui phục sinh thế nào.
Xin Chúa Giêsu phục sinh cho chúng
ta biết siêng năng đến với Chúa, nhất là những lúc đau buồn, chán nản, để nhờ
gặp gỡ Chúa chúng ta tìm lại được niềm an vui, hạnh phúc tâm hồn. Xin cho chúng
ta cũng biết tích cực chia sẻ niềm vui phục sinh cho mọi người chung quanh,
nhất là những người đang gặp đau khổ.
Truyện kể:
Có một phụ nữ vừa mất con trai, bà
tìm đến một nhà hiền triết và nói: "Có lời cầu nguyện nào mà ông biết có
thể đem con trai tôi sống lại?"
Nhà hiền triết bảo: "Hãy đem về
đây cho ta một hạt giống cây mù tạt được trồng từ gia đình nào chưa từng bao
giờ biết đến đau khổ".
Người phụ nữ ngay lập tức lên đường
đi tìm hạt giống thần kỳ. Đầu tiên bà đến gõ cửa một ngôi nhà lớn sang trọng và
hỏi: "Tôi đang tìm hạt giống cây mù tạt từ gia đình chưa bao giờ biết đến
đau khổ, có phải nơi này không?"
Họ trả lời bà đã đến nhầm chỗ và bắt
đầu kể những tai họa đã xảy đến với gia đình họ. Bà ngồi lại an ủi họ rối tiếp
tục lên đường đi tìm hạt giống thần kỳ.
Nhưng bất cứ nơi nào bà ghé vào, dù
ở những ngôi nhà tồi tàn hay sang trọng, bà đều được nghe những chuyện đau buồn
này đến chuyện bất hạnh khác. Bà trở nên quan tâm và rất muốn chia sẻ nỗi buồn
của người khác đến nỗi bà đã quên đi nỗi buồn của chính bà và quên câu hỏi về
hạt giống cây mù tạt thần kỳ mà bà tìm kiếm.
Tin Mừng hôm nay thuật lại câu
chuyện Maria Macđala bị mất. Nhưng không phải mất con, mà là mất Chúa, vì thế
mà bà đã thốt lên với tâm trạng đau buồn cùng với hai Thiên Thần rằng: “Người
ta đã lấy mất Chúa tôi rồi”.
Giống như người mẹ trên, Maria
Macđala cũng đã đau buồn vì lạc mất Chúa nên bà đã hỏi thăm hai Thiên Thần xem
có biết Chúa đâu không hãy chỉ cho bà biết.
Nỗi đau buồn khiến cho tâm trí Maria
Macđala bấn loạn nên không còn khả năng nhận ra Chúa nữa dẫu Người đang hiện
diện bên bà nhưng bà cứ ngỡ là người làm vườn nên bà đã lên tiếng hỏi thăm xem
cách nào tìm lại Chúa?
Mãi khi Chúa Giêsu phục sinh gọi
đúng tên bà với giọng nói thân quen “Maria!” thì bà mới nhận ra Chúa trong niềm
vui mừng khôn tả. Nhưng lúc đó, Chúa phục sinh bảo với bà rằng: “Thôi, đừng giữ
Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp gỡ anh em Thầy…” để
loan báo cho các môn đệ biết về sự phục sinh của Chúa. Đó chính là bí quyết
giúp bà Maria Macđala quên đi những nỗi đau buồn của mình khi biết lên ra đi
loan báo tin mừng phục sinh của Chúa.
Giống như Maria Mađala, ai trong
chúng ta cũng có những nổi buồn. Buồn vì cuộc sống nghèo khổ, thiếu thốn và bất
hạnh. Buồn vì những bệnh tật, tội lỗi mà mình đang mang nặng không thể vượt
qua. Buồn vì phải chứng kiến những nổi đau và cái chết của người thân…Để vượt
qua những nổi đau buồn đó, Chúa phục sinh cũng mời gọi chúng ta: “Thôi, đừng
giữ Thầy lại”, nghĩa là đừng sống theo ý mình mà sống theo ý Chúa; đừng giữ đạo
theo cách thế của mình mà theo cách thức Giáo Hội hướng dẫn; đừng ích kỉ giữ
Chúa cho riêng mình mà phải đem Chúa đến cho người khác.
Ngày nay, Chúa Giêsu Phục sinh cũng
mời gọi chúng ta ra đi “gặp gỡ anh em thầy” để chia sẻ cho họ biết về niềm tin
và niềm vui phục sinh mà ta có được khi gặp gỡ Chúa. Đó cũng là cách chúng ta
làm cho Chúa phục sinh hiện diện trong đời sống hằng ngày. Được như thế, ta mới
cảm thấy cuộc sống này thật có ý nghĩa trước những điều không vừa ý xảy đến, vì
bởi ta tin rằng Chúa phục sinh luôn hiện diện với chúng ta qua mọi biến cố
trong cuộc đời.
Suy niệm 2:
Khởi đầu đoạn tin mừng hôm nay trình
bày về tâm trạng đau buồn của bà Maria khi ở bên mộ Chúa: “…Maria đang còn đứng
gần bên mồ Chúa mà than khóc…” Lý do bà than khóc vì tưởng rằng: “người
ta đã lấy mất xác Chúa và không biết người ta đã để Người ở đâu?”. Như thế
đã rõ lý do bà Maria đau buồn khó lóc, đó là vì bà đã lạc mất Chúa.
Cuộc đời của chúng ta cũng có nhiều
lúc đau buồn và khóc than khi: Mất tiền của, mất sức khỏe, mất công ăn việc làm
và mất chức quyền… Nhưng nỗi đau buồn lớn nhất vẫn là mất đi mạng sống của mình
hay phải chứng kiến sự ra đi của người thân. Bởi lẽ mất đi những thứ khác ta có
thể bù đắp và tìm lại được, vì còn sống là còn hy vọng, nhưng chết đi được xem
là mất tất cả, theo cái nhìn tự nhiên. Vì thế mà người đời thường sánh ví:
“mạng sống hơn đống vàng”.
Tuy nhiên đối với người có đức tin
thì cái mất lớn nhất không phải là mất đi tiền bạc, của cải, danh vọng và mạng
sống thể lý mà là mất đi niềm tin. Niềm tin chính là sức mạnh tinh thần giúp ta
vượt thắng mọi gian nan thử thách, đem lại cho ta niềm vui và hy vọng tốt đẹp
trong cuộc sống, ngay cả những lúc đau buồn và tuyệt vọng.
Hiểu như thế ta mới cảm nhận được
niềm vui khôn tả của bà Maria, khi bà nhận ra Chúa vẫn còn chứ không phải mất,
vẫn sống chứ không phải chết. Hơn hết là vì bà đã tìm lại được lý tưởng của đời
sống nhờ tin tưởng vào sự phục sinh của Chúa.
Nước mắt và nụ cười, thành công và
thất bại, niềm vui và nỗi buồn… luôn đan xen với nhau, kết dệt thành tấm thảm
cuộc đời của mỗi con người. Nhưng để tấm thảm cuộc đời ta tươi sáng thì cần lắm
nụ cười nhiều hơn nước mắt; thành công lớn hơn thất bại, niềm vui mạnh hơn nỗi
buồn. Muốn được vậy ta phải tin nhận vào mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Chúa
Giêsu. Chỉ khi tin nhận vào Chúa phục sinh thì nước mắt của ta mới ngừng rơi;
có đặt hy vọng vào Chúa phục sinh thì nổi buồn của ta mới tan biến và có tích
cực dấn thân cho lý tưởng loan báo Tin Mừng phục sinh thì niềm vui trong lòng
ta mới lớn lên và lan tỏa mãi.
Xin cho ánh sáng Tin Mừng
phục sinh của Chúa Kitô tỏa chiếu vào tâm hồn u tối của chúng ta và khơi dậy
trong ta tinh thần nhiệt quyết hăng say ra đi loan báo tin mừng phục sinh của
Chúa cho mọi người, nhất là những ai đang sống trong cảnh đau buồn, thất vọng
vì mất đi niềm tin vào cuộc sống.
Suy niệm 3:
Sau biến cố đau thương của Thứ Sáu
Tuần Thánh, Maria Macđala vẫn nặng lòng yêu mến Chúa. Khi mọi người đã
quay về, bà vẫn ở lại bên mộ khóc. Nhưng nước mắt không che mờ được trái tim
yêu thương, vì chính tình yêu làm cho bà nhạy bén hơn với sự hiện diện của Đấng
Phục Sinh.
Maria không nhận ra Chúa qua hình
dáng bên ngoài. Chỉ đến khi Chúa gọi tên bà: “Maria!”, thì tâm hồn bà mới bừng
sáng, và bà thốt lên: “Rápbuni!”, Lạy Thầy!
Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu Phục
Sinh và Maria Macđala thật cảm động. Không phải là một cuộc hiện ra vinh quang
cho muôn dân, mà là một cuộc gặp rất riêng tư, rất nhân bản và đầy yêu thương.
Chúa không quở trách Maria vì bà không nhận ra Ngài, nhưng Ngài gọi tên bà, như
Người Mục Tử nhân lành quen thuộc với chiên của mình (x. Ga 10,3).
Gọi tên ai là trao ban sự sống cho
người đó, là thiết lập một mối tương quan gần gũi và thân tình. Chúa Giêsu đã
không quên Maria, và hôm nay Ngài cũng không quên bạn, không quên tôi. Trong
từng biến cố, từng giọt nước mắt hay niềm vui, Chúa vẫn âm thầm hiện diện và
gọi tên ta, để ta nhận ra Ngài và trở về với tình yêu cứu độ.
- Tôi có đang tìm kiếm Chúa Giêsu
như Maria Mađalêna không?
- Tôi có nhận ra tiếng gọi âm thầm
của Ngài trong đời sống mỗi ngày?
Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Chúa đã
gọi tên Maria với tất cả tình yêu và lòng xót thương. Xin cũng gọi tên con,
trong những lúc con buồn sầu, thất vọng hay khô khan nguội lạnh. Xin cho con
biết quay về với Chúa, nhận ra sự hiện diện của Ngài, và trở nên người loan báo
Tin Mừng hy vọng cho anh chị em con. Amen.
Thứ tư: Cv 3,1-10; Lc 24, 13-35
Suy niệm 1:
Tin mừng hôm nay tiếp tục trình
thuật về sự kiện Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với hai môn đệ trên đường Em-mau.
Chúa đã dùng Lời Chúa và cử chỉ bẻ bánh trong bữa ăn thân tình để giúp hai ông
nhận ra Người. Mọi ưu phiền và chán nản tan biến nhường chổ cho niềm vui và
hạnh phúc. Hai ông hân hoan trở về Giêrusalem báo tin phục sinh cho các môn đệ
khác.
Xin Chúa cho chúng ta ý thức được
tầm quan trọng của Lời Chúa và Thánh Thể mà yêu mến gắn kết với Thánh Thể Chúa
cũng như siêng năng tìm hiểu, suy niệm và sống theo Lời Chúa hướng dẫn.
Truyện kể: Cô con gái hay
than thở với cha sao bất hạnh này cứ vừa đi qua thì bất hạnh khác đã vội ập đến
với mình, và cô không biết phải sống thế nào. Có những lúc quá mệt mỏi vì vật
lộn với cuộc sống, cô đã muốn chối bỏ cuộc đời đầy trắc trở này.
Cha cô vốn là
một đầu bếp. Một lần, nghe con gái than thở, ông dẫn cô xuống bếp. Ông bắc ba
nồi nước lên lò và để lửa thật to. Khi ba nồi nước sôi, ông lần lượt cho cà
rốt, trứng và hạt cà phê vào từng nồi riêng ra và đun lại để chúng tiếp tục
sôi, không nói một lời.
Người con gái
sốt ruột không biết cha cô đang định làm gì. Lòng cô đầy phiền muộn mà ông lại
thản nhiên nấu. Nửa giờ sau người cha tắt bếp, lần lượt múc cà rốt, trứng và cà
phê vào từng tô khác nhau.
Ông bảo con gái
dùng thử cà rốt. "Mềm lắm cha ạ", cô gái đáp. Sau đó, ông lại bảo cô
bóc trứng và nhấp thử cà phê. Cô gái cau mày vì cà phê đậm và đắng.
- Điều này
nghĩa là gì vậy cha - cô gái hỏi.
- Ba loại thức
uống này đều gặp phải một nghịch cảnh như nhau, đó là nước sôi 100 độ. Tuy
nhiên mỗi thứ lại phản ứng thật khác.
Cà rốt khi chưa
chế biến thì cứng và trông rắn chắc, nhưng sau khi luộc sôi, chúng trở nên rất
mềm.
Còn trứng lúc
chưa luộc rất dễ vỡ, chỉ có một lớp vỏ mỏng bên ngoài bảo vệ chất lỏng bên
trong. Sau khi qua nước sôi, chất lỏng bên trong trở nên đặc và chắc hơn.
Hạt cà phê thì
thật kỳ lạ. Sau khi sôi, nước của chúng trở nên rất đậm đà.
Người cha quay
sang hỏi cô gái: Còn con? Con sẽ phản ứng như loại nào khi gặp phải nghịch
cảnh.
Con sẽ như cà
rốt, bề ngoài tưởng rất cứng cáp nhưng chỉ với một chút đau đớn, bất hạnh đã
trở nên yếu đuối chẳng còn chút nghị lực?
Con sẽ là quả
trứng, khởi đầu với trái tim mỏng manh và tinh thần dễ đổi thay. Nhưng sau một
lần tan vỡ, ly hôn hay mất việc sẽ chín chắn và cứng cáp hơn.
Hay con sẽ
giống hạt cà phê? Loại hạt này không thể có hương vị thơm ngon nhất nếu không
sôi ở 100 độ. Khi nước nóng nhất thì cà phê mới ngon.
Cuộc đời này
cũng vậy con ạ. Khi sự việc tưởng như tồi tệ nhất thì chính lúc ấy lại giúp con
mạnh mẽ hơn cả. Con sẽ đối mặt với những thử thách của cuộc đời như thế nào? Cà
rốt, trứng hay hạt cà phê?
Để thay đổi cái
nhìn bi quan, chán nản của cô con gái mình, người cha đã dùng hình ảnh rất đổi quen
thuộc mà dạy cho con mình bài học vượt qua.
Cũng thế, để
thay đổi tâm trạng buồn phiền, chán nản, thất vọng của hai môn đệ trên đường
Em-mau, Chúa Giêsu phục sinh cũng dùng những hình ảnh xem ra rất đổi bình
thuờng trong cuộc sống.
Bằng cách xuất
hiện như một người khách bộ hành để cùng chia sẻ những ưu tư, những quan tâm mà
các ông đang gặp phải. Cũng như gợi lại cho hai ông nhớ lại những Lời Chúa đã
tiên báo và giải thích như xưa Ngài đã từng làm. Nhờ thế lòng các ông cảm thấy
bừng sáng lên bởi nhờ sức nóng của Lời Chúa.
Bằng việc ở lại
và ngồi vào bàn dùng bữa với các ông như khi còn sống. Nhất là qua cử chỉ “cầm
lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ”. Đúng như cử chỉ Chúa làm
khi lập bí tích Thánh Thể. Lúc đó mắt họ mới mở ra và nhận ra Chúa phục sinh.
Nhờ sống Lời
Chúa và Bí Tích Thánh Thể, ta sẽ nhận ra Chúa phục sinh hiện diện nơi những
người anh em mà chúng ta gặp gỡ hàng ngày, như hai môn đệ Em-mau xưa.
Nhờ Lời Chúa và
Bí Tích Thánh Thể, chúng ta sẽ có cái nhìn lạc quan trước những biến cố dưới
con mắt người đời bị coi là xui xẻo, mất mác, đau thương, bất hạnh…, bởi chúng
ta nhận ra Chúa phục sinh hiện diện qua các biến cố ấy.
Xin cho chúng ta biết gắng bó với Lời Chúa và kết hiệp
mật thiết với Bí Tích Thánh Thể. Nhờ đó chúng ta đủ sức mạnh vượt qua mọi thử
thách trong cuộc đời.
Suy niệm 2:
Hai môn đệ
Emmmau ngót 3 năm bám chân theo Thầy Giêsu nhằm xây mộng đời cho ngày mai tươi
sáng, nhưng không ngờ mọi dự tính về một tương lai huy hoàng giờ lại tan biến
thành mây khói sau cái chết của thầy Giêsu. Thất vọng, chán nãn, ngã lòng, cảm
thấy thua cuộc, hai ông quyết định trở về quê cũ, làm lại nghề xưa nhằm kiếm
cơm sống qua ngày.
Nhưng không ngờ
chính lúc hai ông bước đi trong nỗi buồn tuyệt vọng, thì Chúa Phục sinh lại
hiện ra đồng hành cùng hai ông như người khách bộ hành. Ngài đã lắng nghe những
tâm tư, nguyện vọng, vui buồn mà hai ông gặp phải. Ngài đã cũng chia sẻ bằng
cách giải thích cho họ hiểu lời Thánh Kinh đã nói về Người phải chết, sống lại
mà cứu chuộc muôn dân, nhờ đó họ cảm thấy ấm lòng, nhưng vẫn chưa hiểu hết, mãi
cho đến khi hai ông chứng kiến lại nghi thức bẻ bánh trong bữa ăn tối với hai
ông sao giống như cử chỉ mà Chúa đã thực hiện trong bữa Tiệc Ly với các môn đệ
trước khi chết, thì lúc ấy hai ông mới nhận ra quả thực Thầy mình đã sống lại
và hiện ra với mình. Ngay lúc đó niềm vui vỡ oà trong tim, họ liền quay lại
Giêrusalem để báo tin cho các môn đệ khác.
Những khó khăn
trong cuộc sống, đôi khi làm cho chúng ta tưởng rằng Chúa đâu mất rồi, Ngài
không thấy, không nghe những nổi khổ của chúng ta. Thực ra, Chúa Phục sinh vẫn
đang hiện diện bên cạnh chúng ta, và cùng đồng hành với chúng ta trong mọi nẻo
đường đời, chỉ tại chúng ta không nhận ra sự hiện diện của Người thôi.
Thế giới ngày
nay không thiếu những tâm hồn cô đơn tuyệt vọng. Tuyệt vọng vì mất niềm tin,
tuyệt vọng vì không thấy ý nghĩa cuộc đời. Giữa những cảnh cô đơn tuyệt vọng
ấy, người kitô hữu chúng ta có bổn phận đốt lên những ngọn lửa tin yêu và hy
vọng để sưởi ấm tâm hồn họ. Bổn phận này không đòi hỏi những phương tiện lớn
lao, những khả năng xuất chúng, mà chỉ cần những nghĩa cử bé nhỏ đầy tình Chúa
và tình người. Một hành vi bác ái, một lời an ủi, một giây phút gặp gỡ trong
tình Chúa sẽ rất cần thiết cho cuộc đời này.
Xin Chúa cho
chúng ta lòng tin đủ mạnh để nhận ra sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời này,
nhờ đó mà chúng con mới dễ dàng vượt qua những nỗi buồn và thất vọng xảy ra
trong cuộc sống.
Suy niệm 3:
Tin Mừng hôm
nay như giúp chúng ta giải tỏa được 2 thắc mắc lớn trong đời sống đức tin, đó
là : Chúa Giêsu phục sinh đang ở đâu? và làm thế nào để nhận ra Người?
1. Qua câu chuyện
Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với hai môn đệ trên đường đi Em-mau, cho chúng ta
hiểu rằng: Chúa Giêsu phục sinh hiện
diện mọi nơi và mọi lúc. Ngài hiện diện trên các nẻo đường; Ngài đã hiện
diện tại vùng quê Em-mau, Người hiện diện tại nơi ở của 2 môn đệ; Người hiện
diện ngay trong bàn ăn…; đồng thời cùng lúc ấy, Người cũng hiện diện tại thành
đô Giêrusalem nơi 11 tông đồ đang họp nhau cầu nguyện.
2. Chúa Giêsu phục sinh đã tỏ hiện qua người khách bộ
hành với dáng vẻ rất đỗi bình thường.
Chúa tỏ hiện qua Lời Chúa được ghi trong thánh kinh, đặc biệt là nơi bàn tiệc
Thánh Thể…
Như thế, Chúa
Giêsu phục sinh không còn lệ thuộc vào không gian và thời gian nữa nên Người
hiện diện mọi nơi và mọi lúc, qua nhiều cách thức khác nhau. Chính vì thế mà
Chúa luôn đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường đời; nhất là trong những
lúc chúng ta gặp đau khổ và thất vọng như hai môn đệ Emmau. Do đó để nhận ra
Chúa Phục sinh, ta phải liên kết với anh em, phải biết thể hiện tình bác ái với
tha nhân; phải biết hiệp thông với cộng đoàn trong những giờ cầu nguyện. Nhất
là phải biết để tâm lắng nghe lời Chúa và tích cực tham dự thánh lễ và chầu
thánh thể. Bởi chính những cách thế đó ta sẽ dễ dàng gặp gỡ Chúa.
Suy niệm 4:
Tuần Bát Nhật
Phục Sinh là thời gian mà Giáo Hội long trọng mừng kính mầu Phục Sinh của Chúa
Kitô, Đấng đã chiến thắng sự chết, mở ra con đường sống lại cho nhân loại.
Trang Tin Mừng
Luca hôm nay, mời gọi chúng ta cùng đi với hai môn đệ đến làng Emmau trong niềm
tin và hy vọng.
Trong cuộc hành
trình này, dường như hai môn đệ muốn bỏ cuộc. Nên họ rời xa Giêrusalem, thành
thánh và mang theo trái tim nặng trĩu vì thập giá và nấm mồ. Thế nhưng, chính
lúc ấy, Chúa Giêsu phục sinh đã đến gần, đồng hành, lắng nghe họ, và từ từ soi
sáng lòng trí họ bằng Thánh Kinh, để rồi trong bữa ăn, qua cử chỉ bẻ bánh, họ
đã vui mừng nhận ra Ngài.
Đó cũng chính
là hành trình đức tin của nhiều người trong chúng ta:
- Từ thất
vọng đến hy vọng,
- Từ mù
mịt đến sáng suốt,
- Từ đau
buồn đến hân hoan loan báo Tin Mừng phục sinh.
Hôm nay, cùng
với toàn thể Giáo hội Việt Nam, chúng ta hiệp dâng thánh lễ cầu nguyện cách đặc
biệt cho ĐGH Phanxicô, vị cha kính yêu của GH đã ra đi về với Chúa ở tuổi đời
88. Có thể nói, hành trình Emmau cũng là hành trình cuộc đời của Đức Thánh Cha
Phanxicô, người đã bước đi giữa thế giới hôm nay như người môn đệ chân thành
của Chúa.
Trong suốt cuộc
đời mục tử của ngài, từ những con đường nghèo khó ở Argentina đến ngai
tòa Phêrô, lúc nào ngài cũng tìm kiếm Chúa giữa những người bé mọn, nghèo khổ,
bị loại trừ. Ngài là người đã cùng nhân loại “đồng hành” như Chúa Giêsu, mang
lại niềm hy vọng sống động giữa thời đại đầy thử thách.
Giờ đây, khi
hay tin ngài đã về nhà Cha, lòng chúng ta trĩu nặng nỗi buồn, như hai môn đệ
xưa. Nhưng cùng lúc ấy, đức tin cũng nhắc nhở ta: Đấng mà ngài đã rao giảng là
Đấng phục sinh. Và niềm hy vọng mà ngài truyền lại sẽ không bao giờ tắt lịm.
Lạy Chúa Giêsu
phục sinh,
Chúng con cảm
tạ Chúa đã ban cho Giáo Hội một vị Mục Tử đầy lòng thương xót là Đức Thánh Cha
Phanxicô. Ngài đã sống trọn vẹn cuộc đời như hành trình Emmau, từ lắng
nghe con người đến mở lòng ra với Thánh Kinh và nhận ra Chúa nơi “những anh em
bé mọn nhất”.
Xin Chúa đón
nhận linh hồn Đức Thánh Cha Phanxicô vào hưởng ánh sáng vinh quang Phục Sinh,
nơi Ngài đã hy vọng, đã tin tưởng và đã cống hiến cả cuộc đời.
Xin cho những
hạt giống Tin-Cậy-Mến mà ngài đã gieo trong lòng nhân loại tiếp tục sinh hoa
trái trong Giáo Hội.
Xin cho chúng
con, như hai môn đệ năm xưa, cũng được Chúa đồng hành, được Chúa mở lòng, để
không bao giờ tuyệt vọng trước bóng tối trần gian, nhưng luôn vững bước trong
ánh sáng Chúa Phục Sinh.
Lạy Chúa, xin
cho linh hồn Đức Thánh Cha Phanxicô được nghỉ yên muôn đời. Và ánh sáng ngàn
thu chiếu soi trên ngài. Amen.
Thứ năm: Cv 3,
11-26 ; Lc 24, 35-48
Suy niệm 1:
Để tin nhận một
điều gì đó, thông thường người ta cần phải kiểm chứng rõ ràng. Dẫu tin tức Chúa
phục sinh đã được loan báo đến các môn đệ, nhưng các ông vẫn còn sống trong
tình trạng bán tin bán nghi. Có lẽ vì thế trong lần hiện ra này, Chúa Giêsu
muốn các ông xác quyết mạnh mẽ niềm tin của mình vào Chúa phục sinh. Nên Ngài
đã nói “phúc cho những ai không thấy mà tin”. Biết thế, nhưng đức tin chúng ta
còn yếu kém. Xin Chúa gia tăng lòng tin nơi chúng ta.
Để thuyết phục
các môn đệ tin chắc là Người đã sống lại, Chúa Giêsu cũng đã phải kiên nhẫn đưa
ra rất nhiều bằng chứng:
- Trước hết,
Chúa bảo các ông hãy nhìn tay chân của Người.
- Tiếp đến,
Chúa bảo họ cứ sờ vào thân thể của Người.
- Dù đưa tay
chân và thân thể cho các ông xem, nhưng các ông cũng vẫn còn ngỡ ngàng. Nên
Chúa tiếp tục đưa thêm bằng chứng là hỏi xem các ông có gì ăn không? Và
Chúa đã cầm lấy khúc cá nướng các ông trao mà ăn trước mặt các ông.
Qua đó Chúa cho họ thấy rằng chính Người đã phục sinh chứ không phải là ma hiện
hình.
- Cuối cùng
Chúa còn phải dùng đến bằng chứng của Thánh Kinh tiên báo về
Người và Lời Người đã nói khi còn sống, để mở trí cho các ông hiểu, tất cả đều
được ứng nghiệm nơi Người.
Với những bằng
chứng thuyết phục ấy, Chúa Giêsu đã minh chứng Người đã sống lại và kêu gọi các
ông hãy làm chứng về sự phục sinh của Người. Nhân danh Người mà rao giảng cho
muôn dân, kêu gọi họ ăn năn sám hối để đuợc ơn tha tội.
Chúa đã kiên
nhẫn tìm mọi cách để cũng cố lòng tin nơi các môn đệ. Xin Chúa cũng cố và gia
tăng lòng tin nơi chúng ta, nhất là những khi bị thử thách về đức tin.
Chúa đã trao
cho các môn đệ sứ mạng làm chứng Tin Mừng Phục Sinh sau khi gặp gỡ và tin nhận
Chúa. Chúa cũng tiếp tục trao phó sứ mạng làm chứng nhân cho tất cả chúng ta.
Xin cho chúng ta biết siêng năng họp nhau cầu nguyện, siêng nhận lãnh các bí
tích nhờ thế đức tin chúng ta đủ mạnh để sống và làm chứng cho Tin Mừng Phục
Sinh.
Suy niệm 2:
Sách CVTĐ,
thánh Luca ghi lại những hoạt động chính yếu của các môn đệ thời GH sơ khai.
Tất cả những hoạt động ấy đều nhắm đến đích điểm là: “làm chứng
nhân” cho Chúa theo lệnh truyền của Người trước khi về trời; khởi
đi từ thành Giêrusalem cho đến tận cùng thế giới. Nhưng làm thế nào để lời
chứng ấy đáng tin cậy và thuyết phục được người nghe?
Tin Mừng hôm
nay cho biết, trước khi sai các tông đồ đi thi hành sứ mạng làm chứng, Chúa
Giêsu phục sinh đã dùng mọi cách để minh chứng về sự sống lại của Người. Dẫu
trước đó Người đã hiện ra với các bà phụ nữ đạo đức; với bà Maria Macđala, với
hai đệ trên đường Emmau và với Phêrô... Nhưng hình như niềm tin của đa số các
môn đệ còn chưa vững chắc. Nên lần này trong khi các môn đệ họp nhau đông đủ,
Người lại hiện đến với các ông lần nữa ngỏ hầu xóa tan đi những mối ghi ngờ nơi
các ông.
Để chứng thật
Người đã phục sinh, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ xem tay và cạnh sườn Người,
các ông vẫn chưa tin. Người tiếp tục kêu mời các ông đụng chạm đến thân thể
Người nhưng các ông vẫn ngỡ là ma. Để xác định không phải là ma, Người tiếp tục
cầm lấy mẩu cá nướng và một tảng mật ong mà ăn trước mặt các ông và đưa phần
còn lại cho các ông. Hơn thế nữa, Người còn gợi lại cho các ông nhớ đến những
lời được nói “trong luật Môsê, trong sách tiên tri và thánh vịnh". Sau
cùng, Chúa nói đến những lời mà Người đã tuyên báo về cái chết và sự phục sinh
của Người khi còn sống. Sau cùng Ngài mời gọi các môn đệ thi hành sứ mạng quan
trọng là “phải nhân danh Người rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để
lãnh ơn tha tội cho muôn dân, bắt đầu từ thành Giêrusalem. Còn các con, các con
sẽ làm chứng nhân về những điều ấy".
Như thế để thi
hành sứ mạng làm chứng cho Tin Mừng Phục Sinh, đòi hỏi các môn đệ phải xác tín
niềm tin cách mạnh mẽ vào sự phục sinh của Chúa. Vì có xác tín mạnh mẽ thì lời
chứng của các môn đệ mới có giá trị và mới có sức thuyết phục người nghe.
Xin Chúa củng
cố niềm tin vào Chúa phục sinh nơi mỗi chúng ta. Nhờ đó ta mới tích cực dấn
thân cho sứ mạng LBTM bằng lời nói và chứng tá đời sống đức tin mạnh mẽ của
chúng ta.
Suy niệm 3:
Sau khi hai từ
Emmau trở về Giêrusalem và thuật lại cho các môn đệ khác về sự kiện Chúa Giêsu
phục sinh hiện ra với hai ông như thế nào, thì thật bất ngờ Chúa Giêsu lại hiện
ra với toàn thể các ông một lần nữa. Nhìn thấy Người, các ông đều kinh hãi,
tưởng mình thấy ma. Nhưng Chúa đã trấn an các ông bằng cách cho xem tay chân
Người và ăn uống trước mặt các ông để chứng tỏ Người thật sự đã sống lại và mời
gọi các ông ra đi làm chứng nhân cho Người. Như vậy Tin Mừng hôm nay nhắm đến
những điều quan trọng sau đây:
- Sự
hoài nghi và nỗi sợ hãi: Các môn đệ, dù đã nghe lời kể của hai người
trên đường Emmau, vẫn không khỏi bàng hoàng và nghi ngờ khi chính Chúa Giêsu
hiện ra. Điều này cho thấy sự khó khăn của con người trong việc tin vào điều
vượt quá sự hiểu biết thông thường, ngay cả khi đã có những chứng cứ. Chúng ta
cũng thường trải qua những hoài nghi và sợ hãi trước những điều mới mẻ, những
thử thách trong cuộc sống.
- Sự
kiên nhẫn và tình yêu của Chúa: Chúa Giêsu đã không trách mắng sự yếu
tin của các môn đệ. Thay vào đó, Người đã kiên nhẫn dùng những hành động cụ thể
để củng cố đức tin cho họ. Việc cho xem tay chân và cùng ăn uống là những dấu
chỉ rõ ràng về sự phục sinh thật sự của Người. Tình yêu và sự kiên nhẫn của
Chúa là nguồn an ủi và động viên lớn lao cho chúng ta trên hành trình đức tin.
- Lời
hứa được ứng nghiệm: Chúa Giêsu nhắc lại cho các môn đệ những lời đã
nói trước về việc Người phải chịu khổ nạn và sống lại. Điều này khẳng định rằng
tất cả những gì đã được tiên báo trong Kinh Thánh đều ứng nghiệm nơi Người. Lời
Chúa là chân lý và là nền tảng vững chắc cho niềm tin của chúng ta.
- Lời
mời gọi làm chứng: Sau khi đã củng cố đức tin cho các môn đệ, Chúa
Giêsu trao cho họ sứ mạng làm chứng về Người cho muôn dân. Họ đã được chứng
kiến sự phục sinh, và giờ đây họ có trách nhiệm loan báo Tin Mừng này cho thế
giới. Mỗi người chúng ta, những người tin vào Chúa Kitô, cũng được mời gọi trở
thành chứng nhân cho tình yêu và sự phục sinh của Người trong cuộc sống hằng
ngày.
Xin Chúa Giêsu
Phục Sinh củng cố đức tin yếu kém của chúng ta. Xin ban cho chúng ta lòng can
đảm để vượt qua những nghi ngờ và sợ hãi, và trở thành những chứng nhân nhiệt
thành cho tình yêu và sự sống mới mà Chúa đã mang đến cho chúng ta. Amen.
Suy niệm 4:
Bài đọc
1, trích sách Công Vụ Tông
Đồ trình thuật cho ta biết, sau khi Thánh Phê-rô nhân danh Chúa Giêsu Kitô chữa
lành cho một người què tại cửa đẹp đền thờ, ngài liền công bố cho dân chúng
biết về quyền năng của Chúa Giê-su Phục Sinh. Ngài mời gọi họ sám hối để được
tha thứ và đón nhận ơn cứu độ.
Bài Tin Mừng
hôm nay, Thánh Luca tiếp tục trình
thuật về sự kiện Chúa Giê-su phục sinh hiện ra với các môn đệ đang quy tụ
ở Giêsusalem. Chúa phục sinh mang lại bình an và củng cố đức tin cho các ông.
Dù các môn đệ
ban đầu sợ hãi và nghi ngờ, nhưng Chúa Giêsu phục sinh đã kiên nhẫn mở trí cho
họ hiểu rằng Ngài chính là Đấng Cứu Độ đã chịu khổ nạn và phục sinh như lời
Kinh Thánh và lời Ngài đã báo trước. Sau đó, Ngài trao cho họ sứ mạng làm chứng
nhân cho Ngài trước mặt muôn dân.
Cũng như các
môn đệ, đôi khi chúng ta cũng sợ hãi hoặc nghi ngờ trước những thử thách trong
đời sống đức tin. Nhưng Chúa Phục Sinh luôn hiện diện, ban bình an và mời gọi
chúng ta mở lòng đón nhận Lời Ngài. Qua Bí tích Thánh Thể và Lời Chúa, Ngài
tiếp tục đồng hành, soi sáng và thúc đẩy chúng ta trở thành những chứng nhân
sống động của tình yêu và sự sống mới.
Xin Chúa Giê-su
Phục Sinh, thương ban bình an và củng cố đức tin cho chúng ta. Xin giúp
chúng ta nhận ra sự hiện diện của Chúa trong đời sống và can đảm làm chứng cho
Tin Mừng bằng lời nói và hành động. Amen.
Thứ sáu: Cv 4,
1-12 ; Ga 21,1-14
Suy niệm 1:
Tin mừng hôm
nay tường thuật Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với các tông đồ ở biển hồ Tibêria,
giúp các ông đánh bắt được một mẻ cá đầy. Xin Chúa ban ơn trợ giúp chúng ta, để
những việc hàng ngày của chúng ta đạt được nhiều kết quả tốt đẹp theo ý Chúa.
Khi hiện ra với
các bà phụ nữ, Chúa Giêsu bảo các bà về báo tin cho các môn đệ đến Galilê để
gặp Người. Nghe theo lời loan báo những người phụ nữ các môn đệ trở về Galilê.
Trong tâm trạng buồn bã, các ông rủ nhau đi đánh cá. Tuy Các ông là những những
đánh cá chuyên nghiệp, vậy mà đánh bắt cả đêm chẳng được con cá nào. Thất vọng,
mệt mỏi cuốn lưới định nghỉ ngơi, thì lúc đó, Chúa Giêsu hiện đến, bảo các ông
thả lưới bên phải thuyền, nơi gần bờ. Các ông tin vào Lời ấy mà thả lưới. Kết
quả, đánh được một mẻ cá đầy, không sao kéo lên nỗi. Bấy giờ, Gioan nhận ra nói
đó là Chúa, Phêrô mặc ngay áo vào, nhảy xuống biển, bơi vào bờ.
Trên bờ, Chúa
Giêsu đã chuẩn bị sẵn bữa ăn sáng cho các ông với cá nướng và bánh. Trong bữa
ăn Người cầm bánh và cá trao cho các ông, một cử chỉ quen thuộc giúp các ông
càng xác tín Chúa đã phục sinh.
Lời Chúa hôm
nay xác quyết cho chúng ta hiểu rằng: “không có Ta, các ngươi không làm gì
được”. Bằng chứng, Các môn đệ đã vất vã, cực nhọc suốt đêm mà chẳng có gì.
Nhưng khi có sự hiện diện của Chúa, các ông bắt được rất nhiều cá.
Xin cho chúng
ta đừng bao giờ kiêu căng, tự mãn về những hiểu biết và khả năng của mình,
nhưng luôn khiêm tốn tin tưởng vào sự hướng dẫn của Chúa.
Suy niệm 2:
Tin Mừng hôm
nay trình thuật lại kiện Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với 7 môn đệ bên biển hồ
Tibêria-miền Galilêa.
Như chúng ta
biết, khi Chúa phục sinh hiện ra với các bà phụ nữ đạo đức, sau khi chấn an và
ban niềm vui phục sinh cho các bà, Chúa Giêsu nhắn các bà về loan báo cho các
môn đệ Người đến Galilêa để gặp Người ở đó.
Nghe theo lời
của các bà loan báo, các tông đồ cùng nhau đi về vùng Galilê để chờ đợi gặp gỡ
Chúa. Nhưng trong lúc chờ đợi, với tâm trạng buồn chán, ông Simon Phêrô đề nghị
các ông khác xuống thuyền để đánh cá. Tuy nhiên suốt đêm ấy các ông không đánh
bắt được con nào, cho dẫu các ông là những ngư phủ chuyên nghiệp. Một buổi sáng
thất vọng và mệt mỏi cần sự nghỉ ngơi lấy sức sau một đêm dài mệt mỏi. Bổng
nhiên tia hy vọng bình minh lé lên, vì một ai đó từ trên bờ thăm hỏi chân tình
và rồi đề nghị các ông tiếp tục thả lưới bên phải thuyền. Lời đề nghị ấy như có
ma lực thúc đẩy các ông nghe theo. Thật bất ngờ mẻ lưới ấy, các ông đã bắt được
rất nhiều cá “hầu không kéo nổi lưới lên”.
Với cái nhìn
nhạy bén của con tim, ngay lúc đó Gioan đã nhận ra thầy mình và đã nói với
Phêrô: "Chính Chúa đó". Rất đổi vui mừng “Phêrô liền khoác áo vào, vì
đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào và kéo lưới
đầy cá theo”.
Trên bờ, Chúa
Giêsu đã nướng cá chuẩn bị sẵn sàng buổi ăn sáng cho các ông. Khi ngồi ăn,
không ai dám hỏi: "Ông là ai? Vì mọi người đã biết là Chúa”. “Chúa Giêsu
lại gần, lấy bánh trao cho các môn đệ; Người cũng cho cá như thế. Đây là lần
thứ ba, Chúa Giêsu đã hiện ra với môn đệ khi Người từ cõi chết sống lại”.
Chúa phục sinh
luôn hiện diện bên đời chúng ta, ngài hiện diện nơi làm việc thường ngày của
ta. Ngài thấy và thấu hiểu tất cả những gì chúng ta gặp phải và ước muốn. Do
đó, chúng ta hãy luôn ý thức sự hiện diện đầy yêu thương của Chúa trong đời,
nhất là những lúc gặp khó khăn thất bại chúng ta tin rằng Chúa không bao giờ bỏ
rơi chúng ta nên chúng ta hãy chạy đến với Chúa với niềm tin tưởng phó thác vào
tình thương và uy quyền của Chúa. Bởi lẽ: “Ví
như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công” (Tv 127,1).
Suy niệm 3:
Sau biến cố
Phục Sinh, các môn đệ trở về với công việc quen thuộc trước đây của mình là
đánh cá. Dường như họ muốn tìm lại nhịp sống cũ sau những ngày đầy biến động.
Nhưng thật lạ lùng, trong chính nơi quen thuộc ấy, giữa hồ nước, lưới chài, con
thuyền, họ lại được gặp Chúa Phục Sinh.
Chúa hiện ra
không phải giữa vầng hào quang, nhưng trong sự bình dị: một người đứng bên bờ
hồ, nhóm lửa, nướng cá, nướng bánh, quá đỗi đời thường. Qua đó, Chúa mạc khải
cho chúng ta rằng: Ngài không chỉ là Thiên Chúa của những phép lạ, mà còn là
Đấng đồng hành trong những giây phút đời thường nhất.
Cho dẫu các
tông đồ là những ngư phủ lành nghề, nhưng suốt đêm lao động hôm ấy lại không
đánh bắt được con cá nào, các ông mệt mỏi, thất vọng. Nhưng chỉ một lời của
Chúa: “Hãy thả lưới bên phải thuyền”, lưới lại đầy cá đến nỗi
không kéo nổi. Họ nhận ra đó là nhờ sự hiện diện và hướng dẫn của Chúa mới làm
nên kết quả lạ lùng như thế.
Cuộc sống hôm
nay cũng vậy, giữa những tất bật mưu sinh, đôi khi ta mỏi mệt và thất bại.
Nhưng nếu biết lắng nghe tiếng Chúa, biết thả lưới theo lời Ngài, chắc chắn sẽ
có một phép lạ xảy ra, mang đến bình an và ý nghĩa trong tâm hồn.
Hình ảnh Chúa
Giêsu phục sinh nhóm bếp than hồng, chuẩn bị bữa sáng cho các tông đồ là một cử
chỉ đầy yêu thương. Ngài không trách móc sự yếu đuối hay bỏ trốn của họ, nhưng
lặng lẽ phục vụ, tiếp sức cho những người mỏi mệt. Chính hành động ấy đã đánh
động con tim của Gioan và ông đã nhận ra: “Chúa đó!”
Khi trái tim ta
còn đủ nhạy cảm để nhận ra tình yêu qua những điều nhỏ bé, ta sẽ dễ dàng nhận
ra Chúa đang hiện diện trong từng người, từng biến cố đời thường.
Chúa Phục Sinh
không chỉ hiện ra trong nhà thờ, nơi bàn thánh, nhưng còn đang hiện diện nơi
những bữa cơm gia đình, chỗ làm việc, những buổi họp mặt, và cả trong những đêm
dài tưởng chừng vô ích. Mỗi Kitô hữu được mời gọi sống đức tin không chỉ trong
thánh lễ, mà cả trong từng bổn phận và tương quan thường nhật.
Xin Chúa Giêsu
Phục Sinh mở mắt chúng ta để ta nhận ra Chúa đang hiện diện trong cuộc sống
thường ngày.
Xin cho chúng
ta đừng bao giờ thất vọng khi vấp ngã, nhưng luôn biết lắng nghe tiếng Chúa và
vâng theo lời Ngài mà can đảm đứng lên làm lại cuộc đời.
Xin cho chúng
ta biết thắp lửa yêu thương và trở nên dấu chỉ của Chúa Phục Sinh giữa đời
thường. Amen.
Suy niệm 4:
Trong khung cảnh bên bờ biển Tibêriat, các môn đệ đã trải qua một đêm dài
vất vả mà không bắt được gì. Nhưng khi Chúa Giêsu Phục Sinh hiện đến, Ngài đã
biến thất bại thành thành công rực rỡ. Lời Ngài: “Hãy thả lưới bên
phải” không chỉ là một chỉ dẫn cụ thể, mà còn là lời mời gọi tin tưởng
và vâng phục. Chính sự vâng lời ấy đã dẫn các môn đệ đến một mẻ cá lạ lùng,
biểu tượng của ơn phúc dồi dào mà Chúa ban.
Câu chuyện này nhắc nhở chúng ta rằng, trong cuộc sống, đôi khi chúng ta
cũng đối diện với những “đêm dài” của thất bại, mệt mỏi hay mất phương hướng.
Nhưng Chúa Phục Sinh vẫn hiện diện, dù ta chưa nhận ra Ngài. Ngài mời gọi chúng
ta lắng nghe, tin tưởng và hành động theo lời Ngài. Khi vâng phục, chúng ta sẽ
thấy phép lạ xảy ra, không chỉ là những thành công vật chất, mà còn là sự bình
an và niềm vui sâu xa trong tâm hồn.
Hôm nay, chúng ta hãy nhìn lại: Có “mẻ lưới” nào trong đời sống mà ta đang
cố gắng một mình, không có Chúa? Hãy để Ngài hướng dẫn và đồng hành. Ngài sẽ
làm cho những nỗ lực của ta sinh hoa trái.
Xin Chúa Giêsu Phục Sinh giúp chúng ta nhận ra sự hiện diện của Ngài trong
mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Xin Chúa dạy chúng ta biết lắng nghe và
vâng theo thánh ý Ngài, để ta được sống trong niềm vui và ơn phúc của Ngài.
Amen.
Thứ bảy: Cv
4,13-21 ; Mc 16, 9-15
Suy niệm 1:
Tin mừng hôm
nay tóm kết về những lần hiện ra của Chúa phục sinh. Điều đáng ghi nhận là khi
hiện ra với ai, Chúa cũng cố lòng tin họ, sai họ đi làm chứng cho Chúa. Xin
Chúa cũng cố lòng tin nơi chúng ta, để chúng ta can đảm làm chứng nhân cho Chúa
giữa dòng đời đời hôm nay còn lắm gian nan.
Sau khi sống
lại, mỗi lần hiện ra, Chúa đều kêu gọi làm chứng cho tin mừng phục sinh.
- Khi hiện ra
với bà Maria Macđala, Chúa sai bà đi loan tin cho các môn đệ. Nhưng các ông
không tin.
- Chúa phục
sinh lại hiện ra với hai môn đệ trên đường Em-mau, hai ông về báo tin, nhưng
các môn đệ khác cũng không tin.
- Sau cùng Chúa
hiện ra với các tông đồ đang ngồi ăn trong nhà tiệc ly, Nguời trách các ông
không tin những kẻ đã thấy và làm chứng Nguời sống lại, rồi kêu gọi các ông đi
loan báo tin mừng cứu độ.
Như thế, để đón
nhận tin mừng phục sinh không phải là dễ, cần phải kiên nhẫn và thời gian.
Trãi qua hơn
hai ngàn năm, Giáo Hội không ngừng rao giảng tin mừng cứu độ. Tuy nhiên vẫn còn
rất nhiều người chưa tin nhận Chúa.
Xin cho chúng
ta đừng nản lòng, nhưng luôn nổ lực thi hành lệnh truyền của Chúa Phục sinh mà
kiên trì rao giảng không ngừng.
Ngày hôm nay,
người ta không tin lời thầy dạy cho bằng tin vào những chứng nhân. Xin cho
chúng ta ý thức không chỉ rao giảng bằng lời nhưng còn bằng đời sống chứng tá
yêu thương. Nhờ thế tin mừng phục sinh có sức thuyết phục mạnh mẽ và đáng tin
cậy với mọi người hơn.
Suy niệm 2:
Hôm nay là ngày
cuối của tuần bát nhật phục sinh, GH như muốn chúng ta cùng với thánh Mác-cô
tổng kết lại về những lần hiện ra của Chúa phục sinh. Thánh sử Mác-cô tóm gọn
lại những lần hiện ra của Chúa phục sinh như sau:
- Trước hết
Người hiện ra với bà Maria Mađalêna, bà đi báo tin vui cho các môn đệ đang buồn
thảm khóc lóc, nhưng họ không tin.
- Tiếp đến
Người hiện ra với hai môn đệ (Clêophas và Luca), hai ông trở về báo tin mừng
cho anh em mình, nhưng họ cũng không tin.
- Sau hết, Chúa
hiện ra với 11 tông đồ đang ngồi ăn, Chúa khiển trách các ông cứng lòng. Sau đó
sai các ông ra đi khắp thế gian rao giảng Tin mừng cho muôn loài.
Qua đó cho thấy
rằng để tin vào Chúa phục sinh không phải là chuyện một sớm một chiều nhưng cần
phải có thời gian. Chính Chúa cũng phải kiên nhẫn thuyết phục các môn đệ rất
nhiều lần, bằng nhiều cách và ở nhiều nơi khác nhau.
Hiểu được như
thế, chúng ta mới không thất vọng trước những thất bại trong việc loan báo tin
mừng, bởi vì việc thuyết phục người khác tin vào Tin mừng phục sinh không phải
là chuyện dễ dàng chút nào nên đòi buộc chúng ta phải cố gắng thật nhiều.
Trước hết bản
thân người rao giảng tin mừng phải có một đức tin kiên vững vào Chúa. Bởi vì có
xác tín niềm tin vào Chúa, ta mới dám sống chết cho sứ mạng loan báo tin mừng,
như thánh Phêrô và Gioan đã xác quyết trong bài đọc 1: "Trước mặt Chúa,
các ngài hãy xét coi: nghe các ngài hơn nghe Chúa, có phải lẽ không? Vì chúng
tôi không thể nào không nói lên những điều mắt thấy tai nghe".
Sau nữa là phải
kiên nhẫn trong việc loan báo Tin mừng, không nên nóng vội vì “mưa dầm thấm
đất”. Đó cũng là kinh nghiệm bản thân của các tông đồ xưa và của GH trãi qua
hơn 2000 năm qua.
Chúa đã trao
ban cho chúng ta sứ mạng làm chứng cho Chúa trong ngày lãnh nhận bí tích rửa
tội. Xin cho chúng ta biết noi gương các thánh tông đồ, vâng nghe lời Chúa biết
hy sinh dấn cho công cuộc rao giảng tin mừng, cho dẫu phải đối mặt với những
khó khăn, ngay cả nguy hại đến mạng sống.