SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN III PHỤC SINH
Lm. Nguyệt Giang
CHÚA NHẬT III PHỤC SINH-NĂM A
Cv 2,14.22-33; 1Pr 1,17-21; Lc 24, 13-35
“Gặp gỡ Đức Kitô biến đổi cuộc đời
mình; gặp gỡ Đức Kitô đón nhận ơn tái sinh…”, đó là niềm xác tín chúng ta có
được qua sự biến đổi lạ lùng của 2 môn đệ trên đường Em-mau khi gặp gỡ Đức Kitô
Phục sinh mà bài Tin mừng hôm nay nói đến. Mỗi khi tham dự Thánh Lễ là
chúng ta được gặp gỡ Đức Kitô Phục sinh cách đặc biệt nơi Thánh Kinh
và Thánh Thể.
Xin cho Lời Chúa và Thánh Thể củng
cố niềm tin và ban lại cho chúng ta niềm tin và hy vọng, để chúng ta hăng say
ra đi loan báo Tin mừng Phục sinh của Chúa cho mọi người như hai môn đệ năm xưa
trên đường đi Em-mau.
SUY NIỆM 1:
Tin Mừng hôm nay cho ta biết hai môn
đệ trên đường Em-mau đã được biến đổi lạ lùng khi nhận ra Chúa Giêsu Phục Sinh
như thế nào:
Trước khi gặp Chúa Giêsu phục sinh,
lòng hai ông chất chứa một nổi buồn chán vô tận vì mộng ước làm quan không
thành và hy vọng đổi đời đã tan vỡ. Đời hai ông hoàn toàn lạc mất hướng sống.
Tin mừng cho biết hai môn đệ trên đường Em-mau năm ấy, một người có tên là
Cleopas, ông còn lại thì không nêu rõ tên, nhưng các nhà nghiên cứu thì cho
rằng có lẽ đó là môn đệ Luca, nhưng cũng có thể người môn đệ ấy ám chỉ mỗi
người trong chúng ta. Hai ông đã từ bỏ Giêrusalem phồn hoa đô thị với bao kỉ
niệm vui buồn cùng với thầy Giêsu và anh em mình trước đây, để giờ đây lê từng
bước nặng nề, mệt mỏi trên chặng đường dài 11 cây số để trở về quê nhà. Một
ngày họ đi bên nhau cùng với một vị khách lạ mang tên Giêsu, vậy mà hai ông lại
không nhận ra người khách ấy chính là Thầy mình chỉ vì mắt hai ông còn bị nỗi
buồn đè nặng.
Chính trong lúc đau buồn, thất vọng
ấy, Chúa Giêsu Phục sinh đã hiện ra và đồng hành bên cạnh các ông, Ngài đã dùng
Kinh thánh để trò chuyện cùng các ông, Ngài đã tế nhị gợi lại cho các ông những
điều Thánh kinh đã nói về Ngài, cũng như những lời Ngài đã tuyên bố trước đây
khi còn ở với các ông, Ngài minh chứng cho các ông thấy rằng tất cả những điều
ấy giờ đây đã được ứng nghiệm. Nhờ thế mà lòng các ông như cảm ấm lên tia sáng
của niềm hy vọng. Cuối cùng trong bầu khí thân tình của bữa ăn chiều tàn, Chúa
Giêsu Phục Sinh đã hoàn toàn mở mắt cho 2 ông khi Người cử hành nghi thức bẻ
bánh và dâng lời chúc tụng quen thuộc như xưa. Bấy giờ niềm vui mới vỡ òa và
lòng các ông tràn đầy hân hoan vì đã nhận ra Chúa Phục sinh. Lập tức các ông
đứng dậy lên đường quay trở lại Giêrusalem để gặp gỡ các tông đồ và anh em bạn
bè mình mà chia sẻ niềm vui cho dẫu trời đã tối. Con đường trở về Giêrusalem 11
km ấy giờ đây như ngắn lại, bước chân của hai ông cũng trở nên nhẹ nhàng và
thanh thoát không ngờ!
Trong cuộc sống lữ hành trên trần
gian, nhiều khi chúng ta cũng rơi vào tình thế đau buồn thất vọng như hai môn
đệ trên đường Em-mau, khi ấy chúng ta cũng không nhận ra Chúa hiện diện trong
đời mình. Mặc dù Chúa vẫn có đó, Người hiện diện trong mọi nơi mọi lúc mọi biến
cố. Chúa có đó nơi những người chúng ta gặp gỡ hàng ngày, Chúa vẫn hiện diện
nơi những người nghèo hèn, khốn khổ…Nhất là Chúa Giêsu Phục Sinh luôn hiện diện
qua Lời Chúa và nơi bí tích Thánh Thể.
Xin cho chúng ta biết mở rộng lòng
đón nhận mọi người, cũng như biết tha thiết khẩn xin “Lời và Thánh Thể Chúa ở
lại với chúng ta” mỗi khi trời về chiều, đó là lúc những nổi lo buồn, xao
xuyến, thất vọng ập đến chúng ta. Có Chúa trong đời ban ơn thêm sức ta sẽ vượt
thắng tất cả. Có Chúa đồng hành ta sẽ có được niềm vui, bình an và hy vọng. Có
Chúa ở cùng niềm vui Tin mừng Phục Sinh mà ta loan báo mới có kết quả tốt đẹp.
Amen.
SUY NIỆM 2:
Tin Mừng Chúa nhật 3
Phục sinh năm A, giúp chúng ta giải tỏa được một vài thắc mắc quan trọng trong
đời sống đức tin như là : Chúa Giêsu Phục Sinh đang ở đâu? Tỏ ra bằng cách nào?
Và làm sao ta có thể nhận ra Người?
1. Chúa Giêsu Phục Sinh
đang ở đâu?
Qua câu chuyện Chúa
Giêsu phục sinh hiện ra với hai môn đệ trên đường đi Emmau, cho chúng ta
hiểu rằng: Chúa Giêsu phục sinh hiện diện mọi nơi và mọi lúc. Ngài hiện diện
trên các nẻo đường; Ngài đã hiện diện tại vùng quê Emmau, Người hiện diện tại
nơi ở của 2 môn đệ; Người hiện diện ngay trong bàn ăn…; đồng thời cùng lúc ấy,
Người cũng hiện diện tại thành đô Giêrusalem nơi 11 tông đồ đang họp nhau cầu
nguyện.
2. Chúa Giêsu Phục Sinh
tỏ mình ra bằng cách nào?
Chúa Giêsu Phục sinh đã
tỏ hiện qua nhiều cách thức khác nhau. Người tỏ hiện qua người khách bộ hành
với dáng vẻ rất đỗi bình thường. Người tỏ hiện qua những lời được ghi trong
Thánh Kinh, đặc biệt là nơi bàn tiệc Thánh Thể trong Thánh Lễ hàng ngày…
Vì lẽ Chúa Giêsu phục
sinh không còn lệ thuộc vào không gian và thời gian nữa, nên Người hiện diện
khắp mọi nơi và mọi lúc và qua nhiều cách thức khác nhau. Chính vì thế mà Chúa
Giêsu phục sinh luôn hiện diện bên đời chúng ta và hiệp hành cùng chúng ta trên
mọi nẻo đường đời, nhất là trong những lúc chúng ta gặp thử thách, đau khổ và
thất bại trong cuộc sống như hai môn đệ trên đường đi Emmau.
3. Làm sao để chúng ta
nhận ra Chúa Phục Sinh?
Như đã nói trên, một khi
Đức Giêsu Phục sinh thì Người không còn lệ thuộc vào không gian và thời gian.
Cùng một lúc Người hiện diện ở mọi nơi, và trong mọi người, cho nên muốn gặp gỡ
Người ta phải liên kết với anh em mình, phải sống tình bác ái với mọi người;
phải biết củng cố lại tình hiệp thông với tha nhân bằng cách tích cực tham gia
vào lớp học thánh kinh vào lúc 18g30 tối thứ sáu hàng tuần, Chầu Mình Thánh
Chúa vào lúc 19g00 tối thứ năm đầu tháng, lần chuỗi Mân Côi vào lúc 19g00 mỗi
tối hàng ngày..., ngoài ra còn phải nhiệt tình đóng góp phần mình vào việc xây
dựng thăng tiến Họ đạo mỗi ngày nên tốt đẹp hơn. Cách đặc biệt là biết
khiêm tốn để tâm lắng nghe Lời Chúa và tích cực tham dự Thánh Lễ. Bởi chính nhờ
những cách thế đó, chúng ta mới dễ dàng gặp gỡ được Chúa Phục Sinh trong đời
sống hàng ngày của mình.
Nguyện xin Chúa phục
sinh hiệp hành và ở lại với chúng con mọi ngày trong suốt cuộc đời, để chúng con
an tâm tiến bước theo Chúa trong niềm vui, bình an trên hành trình tiến
về nước trời. Amen.
SUY NIỆM 3:
Truyện: Một
người tân tòng sau khi theo đạo đã gặp phải nhiều tai ương hoạn nạn :
bệnh tật, rủi ro mất xe, mất tiền bạc… Anh đã nhiều lần xin Chúa cho
tai qua nạn khỏi mà xem ra Chúa vẫn ngỏanh mặt làm ngơ khiến anh đâm
ra chán nản và thôi không cầu nguyện và cũng không đến nhà thờ dự lễ
nữa.
Thế rồi một đêm
kia, anh nằm mơ thấy mình đang đi bách bộ với Chúa Giê-su trên bãi
biển. Anh quay nhìn ra sau thì thấy trên nền cát ướt có 4 dấu chân :
hai dấu chân lớn của Chúa, và hai dấu chân nhỏ của anh.
Khi gặp chỗ lởm
chởm nhiều sỏi đá thì anh không thấy Chúa đi bên cạnh nữa. Quay lại
nhìn thì anh chỉ thấy hai dấu chân trên cát của anh. Anh chán nản
ngồi nghỉ mệt trên một tảng đá thì Chúa Giê-su lại hiện đến ngồi
bên.
Anh thắc mắc hỏi
Người : “Lạy Chúa, vừa qua Chúa biến đi đâu mà để con phải một mình
đương đầu với những khó khăn như vậy?”
Bấy giờ Chúa
Giê-su mới âu yếm nhìn anh và nói : “Con hãy thử nhìn kỹ lại xem hai
dấu chân trên cát kia là của ai?” Lúc đó, anh ta mới nhìn kỹ và nhận
ra đó hai dấu chân to là của Chúa Giê-su.
Anh lại hỏi :
“Lạy Chúa, thế thì dấu chân của con đâu?”
Chúa liền trả
lời : “Con ơi, hãy nhớ rằng : Ta luôn ở bên con mọi giây phút trong cuộc
đời con. Chính khi con gặp gian nan thử thách là lúc Ta đang bồng con trên
cánh tay Ta đó !”
Tin Mừng hôm nay
trình thuật lại câu chuyện hai môn đệ trên đường trở về làng quê Emmau, lòng
của hai ông cũng mang đầy tâm trạng tựa như anh tân tòng của câu chuyện trên.
Hai ông trở về quê không mang theo chiến thắng, không mang theo hy vọng, không
mang theo bình an, niềm vui rạo rực cho một tương lai tươi sáng; trái lại chỉ
mang theo nỗi buồn vô tận, bởi mộng ước xây đời làm quan không
thành và hy vọng chức quyền đã vỡ tan, vì Đức Giêsu, vị thầy được dân chúng ca tụng là người công chính, là đấng
thánh đầy quyền năng trong lời nói và việc làm, vị thầy mà hai ông đã từng
ngưỡng mộ và bỏ tất cả để đi theo, giờ đây đã bị giết chết và được
chôn vùi trong mộ đá.
Hai người môn đệ ấy, một người tên
là Cleopas, người còn lại tin mừng không nói tên gì, nhưng các nhà nghiên cứu
thì cho rằng đó là môn đệ Luca. Sau khi Chúa Giêsu Chết, hai ông đã từ bỏ
Giêrusalem phồn hoa đô thị với bao kỉ niệm và ước mơ đẹp để lê bước trên chặng
đường 11 cây số trở về quê nhà. Một ngày họ đi bên nhau cùng với một vị khách
bộ hành nhập cuộc. Họ không ngờ vị khách lạ hiệp hành ấy lại là Chúa Giêsu phục
sinh, Thầy của mình đi bên cạnh, vì lúc ấy mắt hai ông còn bị che khuất bởi
những nỗi buồn đè nặng.
Để giúp hai ông nhận ra mình, Chúa
Giêsu Phục sinh đã dùng lời Kinh thánh để trò chuyện với hai ông, Ngài cũng đã
gợi lại cho hai ông nhớ những điều Thánh kinh đã nói về Ngài và nhắc lại những
lời Ngài đã tuyên bố trước đây khi còn ở với các ông, để chứng minh rằng tất cả
những điều đã được tiên báo ấy, nay được ứng nghiệm. Cho dẫu những lời ấy đã
làm cho lòng hai ông cảm thấy ấm lên, nhưng hai ông vẫn không nhận ra Chúa.
Cuối cùng trong bầu khí thân tình
của bữa ăn chiều tàn, qua nghi thức bẻ bánh và dâng lời chúc tụng quen thuộc
của Chúa Giêsu mới làm cho mắt hai ông được mở ra, và đã nhận ra Thầy mình đã
thực sự sống lại. Bấy giờ lòng các ông tràn ngập niềm vui. Lập tức hai ông đứng
dậy và quay gót trở về Giêrusalem để loan báo niềm vui Phục sinh cho những anh
em đồng môn của mình, cho dẫu trời đã về đêm. Con đường trở về Giêrusalem 11 km
giờ đây như được rút ngắn, những bước chân của hai ông cũng trở nên nhẹ nhàng,
thanh thoát hơn bao giờ hết.
Trong cuộc sống lữ hành trần gian,
nhiều khi chúng ta cũng rơi vào tình thế đau buồn thất vọng như hai môn đệ trên
đường Em-mau xưa. Đó là những lúc ta gặp
thất bại dồn dập thất bại, cay đắng chồng lên cay đắng, thương đau đè lên
thương đau, oan khuất kéo theo oan khuất, nó tấn công đời ta tứ phía.... Những
lúc đen tối đó, ta cảm thấy bất an, lo sợ vì không còn thấy Chúa đâu cả, tựa
như hai môn đệ Emmau và người tân tòng trong câu chuyện trên. Nhưng ta đâu ngờ
rằng, Chúa Phục sinh vẫn luôn hiện diện bên ta, Ngài luôn cất bước hiệp hành
cùng ta trên mọi nẻo đường của cuộc sống, và có khi Ngài cũng bồng ẳm ta trên
bàn tay đầy yêu thương của Ngài để an ủi, nâng đỡ, che chở và ban ơn cho ta.
Điều quan trọng là ta có nhận ra Chúa không và có dám đặt trọn niềm tin tưởng
cậy trông vào bàn tay từ ái của Chúa không? Hay chúng ta đặt niềm tin và hy
vọng vào những thứ khác không phải là Chúa. Vậy trong mọi hoàn cảnh của cuộc
sống, chúng ta hãy nhanh chóng chạy về phía Chúa. Hãy chấp nhận ngã nhào vào vòng tay đầy yêu thương và
quyền năng của Chúa, tựa như em bé sa vào vòng tay người mẹ trong mọi lúc, nhất
là khi gặp hiểm nguy vì nó đặt trọn niềm tin và hy vọng vào tình thương của mẹ
nó.
Xin Chúa ở lại với
chúng con, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn, bởi lòng chúng con
đang khao khát được nghe lời Chúa.
Xin ở lại với chúng
con, vì đức tin chúng con mỏng dòn yếu đuối, rất cần được Chúa trợ
giúp vượt qua khó khăn của cuộc đời.
Xin ở lại với chúng
con, vì chúng con dễ sa chân lạc bước, chỉ biết tìm kiếm thỏa mãn
những đam mê bất chính và dễ chán nản buông xuôi khi gặp thử thách
gian nan.
Xin ở với chúng con,
để chúng con thấy Chúa đang hiện diện nơi những người đau khổ và chân
thành phục vụ họ như phục vụ chính Chúa.
Xin ở lại với chúng
con, vì khi gặp được Chúa, chúng con sẽ được ơn biến đổi cuộc đời.
Xin ở lại với chúng
con, để ban niềm vui và bình an vì tâm hồn chúng con vẫn còn xao xuyến
mãi, cho tới khi nào được nghỉ yên trong Chúa. Amen.
SUY NIỆM 4:
1. Hai môn đệ trên đường
Emmau là hình ảnh rất thật của chúng ta. Các ông rời Giêrusalem với tâm trạng
buồn bã, thất vọng, vì tất cả hy vọng nơi Đức Giêsu dường như đã sụp đổ.
Nhiều khi trong cuộc sống, chúng ta cũng có những “con
đường Emmau” như thế:
- Khi lời cầu nguyện không được đáp lại như ý
- Khi gặp đau khổ, mất mát
- Khi thấy niềm tin bị lung lay
Chúng ta bước đi… nhưng là bước đi xa dần Chúa, xa dần
cộng đoàn. Tuy nhiên, Tin Mừng cho thấy một điều rất an ủi: Chúa không để chúng ta đi một mình.
Ngài chủ động đến, đồng hành, dù chúng ta không nhận ra.
2. Khi đồng hành, Đức Giêsu
không làm phép lạ ngay, cũng không tỏ mình ngay. Ngài giải thích Kinh Thánh cho hai ông. Lạ lùng thay, khi nghe Lời
Chúa, hai môn đệ đã thốt lên: “Lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?”
Điều này nhắc chúng ta:
- Lời Chúa không chỉ để đọc, mà để soi sáng cuộc đời
- Lời Chúa giúp ta hiểu rằng: đau khổ không phải là kết
thúc, mà là con đường dẫn đến vinh quang
Nếu đời sống đức tin của chúng ta nguội lạnh, có thể vì
chúng ta xa rời Lời Chúa.
3. Đỉnh điểm của câu chuyện
là lúc Đức Giêsu bẻ bánh, và mắt
họ mở ra. Đó chính là hình ảnh của Thánh
Thể. Không phải trong tranh luận, không phải trong lý luận, mà chính
trong bàn tiệc Thánh Thể, các ông nhận ra Chúa. Điều này mời gọi chúng ta:
- Siêng năng tham dự Thánh Lễ
- Rước lễ với lòng sốt sắng
- Ý thức rằng: Chúa
Phục Sinh đang hiện diện thật nơi Thánh Thể
4. Ngay khi nhận ra Chúa,
hai môn đệ không còn ngồi lại nữa. Dù trời đã tối, họ lập tức quay trở lại Giêrusalem. Gặp Chúa thật, không thể giữ cho
riêng mình.
- Từ thất vọng → hy vọng
- Từ bỏ cuộc → lên đường
- Từ khép kín → loan báo
Câu chuyện Emmau là hành trình đức tin của mỗi người
chúng ta: Có lúc lạc hướng. Có
lúc không nhận ra Chúa. Nhưng
Chúa vẫn đồng hành, giải thích Lời
Ngài, và bẻ bánh cho ta. Vì thế, đời sống Kitô hữu có 3 điểm tựa vững
chắc:
1. Lời Chúa
– soi sáng
2. Thánh Thể
– nuôi dưỡng
3. Cộng đoàn
– nâng đỡ
Thực tế trong cuộc sống,
có những lúc chúng ta cảm thấy buồn bã và thất vọng như hai môn đệ Emmau. Xin
Chúa đến đồng hành với ta, mở trí cho ta hiểu Lời Chúa, và cho ta nhận ra Chúa
nơi Thánh Thể. Xin Chúa biến đổi đời ta, để ta biết đứng dậy và lên đường làm
chứng cho Chúa. Amen.”
SUY NIỆM
5 :
1. Hành
trình từ Thất vọng đến Hy vọng
Hai môn đệ rời Giêrusalem
với khuôn mặt ủ dột. Đối với họ, cái chết của Chúa Giêsu là dấu chấm hết cho
mọi kỳ vọng. Họ đang đi ngược lại với trung tâm của đức tin, rời bỏ cộng đoàn
để trở về với cuộc sống tầm thường trong sự chán chường.
Đây chính là hình ảnh của
mỗi chúng ta khi đối diện với những thử thách nghiệt ngã trong cuộc sống. Có
những lúc ta cảm thấy như Chúa đã vắng bóng, và những dự định tốt đẹp bỗng chốc
tan tành.
2. Người Bộ Hành Đưa Đường
Chúa Giêsu Phục Sinh đã
hiện diện, nhưng mắt họ còn bị "che khuất". Ngài không trách móc ngay
lập tức, mà chọn cách đồng hành.
Ngài lắng nghe những tâm tư, nỗi đau và cả sự thiếu hiểu biết của họ.
- Giải
thích Kinh Thánh: Chúa dùng Lời Chúa để sưởi ấm tâm hồn họ. Ngài cho
thấy rằng đau khổ và Thập giá không phải là thất bại, mà là con đường tất yếu
để bước vào vinh quang.
- Cử
chỉ bẻ bánh: Chỉ khi Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra
và trao cho họ, mắt họ mới mở ra. Bí tích Thánh Thể chính là nơi gặp gỡ sống
động nhất với Đấng Phục Sinh.
3.
"Lòng chúng ta đã chẳng cháy rực lên sao?"
Khi nhận ra Chúa, Ngài
biến mất khỏi mắt họ, nhưng Ngài lại hiện diện rực cháy trong lòng họ. Sự hiện
diện thiêng liêng ấy mạnh mẽ đến mức họ không thể ngồi yên. Ngay trong đêm tối,
họ đã quay trở lại Giêrusalem – quay lại với cộng đoàn và sứ vụ.
Bài học thực
hành cho chúng ta:
- Sống
Lời Chúa: Hãy để Kinh Thánh soi sáng những biến cố trong ngày của bạn. Đừng
đọc Lời Chúa như một cuốn sách lịch sử, hãy đọc như một lời đối thoại trực tiếp
cho hoàn cảnh hiện tại.
- Tìm
Chúa trong Thánh Thể: Tham dự Thánh lễ không chỉ là bổn phận, mà là cơ hội
để "mở mắt" đức tin, nhận ra sức mạnh của Chúa để vượt qua những khó
khăn đời thường.
- Trở
thành người đồng hành: Giống như Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi bước
đi bên cạnh những người đang thất vọng, biết lắng nghe và chia sẻ niềm hy vọng
cho họ.
Xin Chúa ở lại với chúng con, vì trời đã xế chiều và
cuộc đời đôi khi đầy bóng tối. Xin thắp lên trong lòng chúng con ngọn lửa yêu
mến để chúng con mạnh dạn làm chứng cho Ngài. Amen.
THỨ HAI: Cv 6,8-15; Ga 6,22-29
SUY NIỆM 1: Cv 6, 8-15
Sách công vụ tông đồ thuật lại cuộc tranh
luận giữa thầy phó tế Stêphanô với những người thuộc nhóm hội đường, gọi là hội
đường của “nhóm nô lệ được giải phóng”, gốc Cyrene và Alexandria, cùng với một
số người gốc Cilicia và Asia.
- Nguyên nhân xảy ra tranh luận là
vì bất đồng quan điểm, chung quanh vấn đề: đền thờ và lề luật. Khi ấy ông
Stêphanô được đầy ân sủng và quyền năng, đã làm những điềm thiêng dấu lạ lớn
lao trong dân. Những lời lẽ khôn ngoan do Thánh Thần ban cho ông khiến cho
những kẻ thù ghét ông không thể nào địch nổi.
- Kết quả là khi nghe những lời ấy,
lòng họ giận điên lên, và họ nghiến răng căm thù Stêphanô. Để hả cơn giận dữ vì
đuối lý trước lời lẽ khôn ngoan của Stêphanô, họ đã dùng đến hạ sách là xách
động một số người tố cáo gian Stêphanô về tội lộng ngôn, phạm thượng Thiên Chúa
và ông Maisen, với mục đích vịnh vào chứng cớ gian dối ấy mà ném đá ông (x. Cv
6,14). Nhưng cho dù họ có dùng sức mạnh của "tâm lý đám đông" hay
chiêu trò tiểu nhân bỉ ỏi che đậy chân lý, thì chân lý vẫn không hề bị dập tắt,
trái lại vẫn được chiếu sáng rạng ngời tựa như ánh sáng của Thiên Thần chiếu
tỏa trên khuôn mặt của vị phó tế Stêphanô can đảm và khôn ngoan như họ nhìn
thấy.
Trong đời sống cộng đoàn Họ đạo
không thể nào mà không xảy ra những bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề... Những
bất đồng này có thể làm phương hại đến tình hiệp nhất. Đây đó, không ít những
trường hợp chống đối và tìm cách nói xấu, hạ bệ lẫn nhau.
Xin cho mỗi người trong Họ đạo chúng
ta có được cái nhìn khách quan và lòng thiện chí tìm đến sự thật, dưới sự tác
động và hướng dẫn của lời Chúa, nhờ ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần. Nhờ đó mà
cộng đoàn Họ đạo chúng ta mới có thể tránh được những cuộc cải vả hận thù đáng
tiếc xảy ra.
Xin cho cộng đoàn Họ đạo chúng ta
luôn biết noi gương cộng đoàn ki-tô hữu đầu tiên, biết từ bỏ ý riêng, chấp nhận
hy sinh ích lợi cá nhân để hướng đến lợi ích chung mà xây dựng tình hiệp nhất
huynh đệ chân thành.
SUY NIỆM 2: Ga 6,22-29
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đề cập
đến hai loại thức ăn. Thức ăn nhanh và thức ăn thường tồn. Thức ăn nhanh thì
chỉ nuôi sống thể xác nhưng mau qua, còn thức ăn thường tồn thì chẳng những
nuôi dưỡng thể xác mà cả tâm hồn; chẳng những bảo đảm sự sống đời này mà cả sự
sống mai sau. Nhưng chúng ta lại thích chạy theo lối sống thực dụng nên từ chối
chọn lựa thức ăn thường tồn để ăn.
Xin Chúa cho chúng ta đủ tỉnh táo và
khôn ngoan để chọn lựa những giá trị cao quý nhất trong đời sống mình.
Làm việc để tìm kiếm cơm bánh, nuôi
dưỡng thân xác là mục tiêu cơ bản nhất của con người. Nhưng con người không chỉ
có nhu cầu ăn uống mà con người còn có những nhu cầu khác về tri thức, tinh
thần, tâm linh... nữa.
Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi
chúng ta phải vượt lên những giá trị tầm thường của cuộc sống mau qua này mà
vươn đến những giá trị cao quý vĩnh cửu. Muốn vươn lên giá trị của sự sống vĩnh
cửu, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy “Đến” với Chúa và hãy “Tin” vào Ngài.
Đức Giêsu đã làm phép lạ bánh hóa
nhiều để nuôi đám đông. Cho thấy Ngài quan tâm đến nhu cầu của thân xác của con
người. Nhưng Ngài không dừng lại ở việc thỏa mãn nhu cầu cơ bản là “đói cho ăn,
khát cho uống.” Bởi xét cho cùng thì cơm bánh chỉ là thứ lương thực mau qua
dành cho thân xác, chứ không phải là thứ lương thực trường tồn đem lại sự sống
đời đời cho con người. Do đó, Ngài muốn ban cho con người chúng ta một thứ
lương thực khác, thứ lương ấy sẽ đem lại cho chúng ta sự sống vĩnh cửu.
Để có được của ăn mau qua, nuôi
dưỡng thân xác, con người chúng ta cần phải ra công làm việc vất vã “đổ mồ hôi
sót con mắt ” mới có của ăn. Để có được của ăn vĩnh cửu, nuôi dưỡng tinh thần
và tâm linh, con người chỉ cần làm hai việc: “Đến với” Chúa Giêsu
và “Tin vào” Ngài.
Cái đói của thân xác không cồn cào
bằng cái đói tinh thần. Con người đói công bằng và hạnh phúc, đói yêu thương và
sự kính trọng…Con người khát niềm vui và bình an, cảm thông và sự thật.
Thực tế cho thấy trong sâu thẳm tâm
hồn, con người chúng ta luôn đói khát một “ai đó” để mình yêu mến và tôn thờ.
Đức Giêsu mời ta hãy tin vào Ngài là Đấng được Thiên Chúa sai đến. Hãy đến với
Chúa Giêsu để ta bắt đầu được nếm thử tấm bánh do chính Ngài ban tặng, vì chính
Ngài là Tình yêu, sự thật, bình an và sự sống.
Xin cho chúng ta biết siêng năng đến
với Chúa Giêsu với niềm tin yêu, để chúng ta được chính Chúa nuôi dưỡng bằng
Lời Chúa và Bánh Thánh, là thứ lương thực không hư nát và có giá trị đem lại sự
sống đời đời.
SUY NIỆM 3:
Nếu dùng một từ để nói về về lời
Chúa hôm nay, ta có thể dùng từ: "Bánh".
Tin Mừng hôm nay trình thuật cho
biết, sau khi Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều để nuôi sống 5000 người ăn no
nê, dứ 12 thúng đầy, thì hôm sau họ lại tìm đến Chúa, nhưng không phải vì
nhận ra dấu chỉ thiêng liêng, mà vì họ đã được ăn no nê. Họ đòi hỏi Chúa Giêsu
thực hiện một dấu lạ khác, tương tự như việc cha ông họ đã ăn manna trong sa
mạc.
Chúa Giêsu đã khéo léo hướng sự chú
ý của họ từ thứ bánh vật chất, chóng qua sang một thứ "Bánh" khác,
vĩnh cửu hơn: chính Người. Chúa Giêsu khẳng định: "Tôi là bánh sự
sống. Ai đến với tôi, sẽ không bao giờ đói; ai tin vào tôi, sẽ không bao giờ
khát."
Như vậy, từ "Bánh" trong
đoạn Tin Mừng này mang một ý nghĩa sâu sắc:
- Bánh vật chất: tượng
trưng cho những nhu cầu thể xác, những lo toan đời thường mà con người chúng ta
thường tìm kiếm và bận tâm. Tuy nhiên, những thứ này chỉ mang lại sự thỏa mãn
tạm thời.
- Bánh sự sống (Chúa Giêsu): tượng
trưng cho nguồn sống thiêng liêng, vĩnh cửu. Chúa Giêsu là lương thực đích thực
nuôi dưỡng linh hồn, mang lại sự no thỏa sâu xa và niềm hy vọng vào cuộc sống
vĩnh cửu.
Lời Chúa hôm nay
mời gọi chúng ta suy niệm về thứ "Bánh" mà chúng ta thực sự khao
khát. Liệu chúng ta chỉ tìm kiếm những nhu cầu vật chất chóng qua hay chúng ta
đang tìm kiếm và đón nhận chính Chúa Giêsu, "Bánh sự sống", để được
no thỏa và có được sự sống đời đời?
THỨ BA: Cv 7,51-8,1a; Ga
6,30-35
SUY NIỆM 1:
Chính vì đặt trọn niềm tin vào Chúa
Giêsu, Bánh Trường Sinh đem lại sự sống đời đời (x. Ga 6,35), mà thầy phó tế
Stêphanô đã sẵn sàng chấp nhận chịu nhiều thiệt thòi ngay cả hy sinh mạng sống
mình, đó là điều mà bài sách Cvtđ hôm nay nói đến.
- Với niềm tin vững vàng vào Đức
Giêsu, bánh ban sự sống, Thầy phó tế Stêphanô đã say mê rao giảng Tin mừng Đức
Giêsu đã truyền dạy, cho dù gíao huấn ấy có đi ngược lại với quan niệm cố hữu
của hàng lãnh đạo tôn giáo Do Thái thời bấy giờ.
- Với lòng tin mạnh mẽ vào Chúa
Giêsu, nguồn sống đích thực, ngài đã không ngần ngại nói lên sự thật, dù phải
đối mặt với bao hiểm nguy: thù ghét, đàn áp, khống chế, lên án và giết hại của
giới chức lãnh đạo Do Thái thời bấy giờ.
- Với đức tin kiên trung vào Đức
Giêsu, tấm bánh nuôi sống đời đời, nên cho dù phải đứng trước pháp đình, Stêphanô
cũng mạnh dạn minh chứng về Đức Giêsu là Con Thiên Chúa đã đến trần gian và đã
chịu chết trên thập giá để cứu chuộc loài người. Ngài cũng không ngần ngại vạch
trần tội vong ân, bội nghĩa của cha ông họ và của họ; đồng thời ngài cũng không
ngừng nhắc đến lòng nhân từ yêu thương của Thiên Chúa dành cho dân Người.
Lời lẽ khôn ngoan minh chứng niềm
tin, cũng như lời biện hộ đanh thép tố cáo tội ác của những kẻ muốn hãm hại
ngài, càng khiến cho đối phương tức giận đến sôi máu và quyết định đưa ngài ra
ném đá tử hình. Dù chịu cực hình đau đớn, nhưng lòng ngài vẫn chan chứa niềm
vui, sự cảm thông và tình yêu tha thứ theo gương vị Thầy Chí Thánh. Nên trước
khi tắt thở, thánh Stêphanô đã không quên cầu nguyện cho những kẻ giết hại
ngài: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này. Nói thế rồi, ông an nghỉ".
Nguyện cho mỗi người trong chúng ta
luôn xác tín mạnh mẽ vào Chúa Giêsu là tấm bánh hằng sống, để chúng ta biết can
đảm noi gương Stêphanô sẵn sàng làm chứng cho niềm tin của mình. Và cũng xin
cho chúng ta cũng biết noi gương thánh Stêphanô có lòng bao dung sẵn sàng tha
thứ cho những ai làm hại ta. Biết can đảm lấy tình thương xóa bỏ hận thù, theo
như lời dạy và gương lành của Chúa Giêsu.
SUY NIỆM 2: Ga 6,30-35
Giúp đỡ cơm áo gạo tiền, chỉ là
phương tiện thứ yếu chứ không phải là mục đích tối ưu của các nhà truyền giáo.
Mục đích quan trọng nhất đối với sứ vụ truyền giáo là tạo điều kiện để người
khác có đủ sức đến gặp gỡ Chúa, đón nhận Chúa là lương thực đích thực, mang lại
sự sống vĩnh cửu. Đó là sứ điệp lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta.
Để đủ sức tiến về đất hứa, Thiên
Chúa đã ban cho dân Do Thái Manna làm của ăn. Nhưng họ cứ tưởng đó là bánh do
Mô-sê ban cho họ.
Để có của ăn mang lại sự sống đời
đời, Chúa Giêsu mời gọi dân chúng hãy đến với Ngài và tin vào Ngài. Nhưng dân
chúng lại đòi hỏi phép lạ như Mô-sê ngày xưa. Chúa Giêsu lại phải giải thích
cho họ biết Manna ngày xưa họ hưởng dùng nơi sa mạc không phải do Mô-sê ban
cho, mà là do chính Chúa thương ban để nuôi sống họ. Nhưng Manna chỉ là hình
bóng và lương thực nuôi dưỡng thể xác. Bằng chứng là cha ông họ đã ăn Mana
nhưng rồi cũng đã chết. Còn lương thực bảo đảm đem lại cho họ sự sống vĩnh cửu
mà Thiên Chúa ban cho họ chính là Đức Giêsu (Bánh Trường Sinh). Bởi lẽ Đức
Giêsu là Con Thiên Chúa và cũng là Thiên Chúa làm người. Nơi Đức Giêsu kết hợp
bởi nhân tính và Thiên tính mang sự sống vĩnh cửu. Do đó khi hiến thân mình làm
của ăn, Chúa Giêsu trở nên lương thực mang sự sống vĩnh cửu. Ai tin nhận và đến
ăn lấy tấm bánh Đức Giêsu thì đồng nghĩa với việc tham dự vào sự sống vĩnh cửu
trong Chúa Giêsu. Tựa như cành nho gắn liền với thân nho vậy.
Nếu ngày xưa, Chúa ban cho dân Do
Thái Manna làm của ăn, nhờ đó họ đủ sức vượt qua sa mạc, tiến vào đất hứa; thì
ngày nay, Chúa cũng ban cho chúng ta lương thực là Mình Thánh Chúa, Bánh Bởi
Trời đích thực làm của ăn nuôi dưỡng chúng ta đủ sức tiến về nhà Cha.
Xin cho chúng ta đừng quá bận tâm
vào cơm bánh, thứ lương thực mau qua nuôi dưỡng thân xác ở đời này, bởi ăn rồi
cũng phải chết. Nhưng cho chúng ta biết lưu tâm tìm kiếm thứ lương thực làm no
thỏa tâm hồn, mang lại sự sống đời đời, đó chính là Mình và Máu Thánh Chúa
Giêsu Kitô.
SUY NIỆM 3:
Tin Mừng hôm nay Chúa Giê-su tiếp
tục khẳng định: "Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta sẽ
không hề đói; ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ."
Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, dân
chúng tiếp tục tìm đến với Chúa Giê-su không phải vì đã chứng kiến dấu lạ,
nhưng vì họ đã được ăn bánh no nê. Họ còn đòi hỏi thêm một dấu lạ khác, giống
như cha ông họ đã được ăn manna trong sa mạc.
Chúa Giê-su đã khéo léo hướng họ đến
một sự thật cao hơn: bánh mà Môsê ban chỉ nuôi sống thể xác, còn Chính
Người là bánh từ trời xuống, ban sự sống vĩnh cửu cho những ai tin vào Người.
Qua đó, Chúa muốn mời gọi chúng ta
suy nghĩ về cơn đói và cơn khát sâu xa nhất trong tâm hồn mình. Chúng ta thường
tìm kiếm sự no đủ và thỏa mãn ở những điều chóng qua, những của cải vật chất,
những thú vui trần thế. Nhưng những thứ đó không thể lấp đầy được sự khao khát
thiêng liêng trong trái tim mỗi người.
Chỉ có Chúa Giê-su, Bánh Hằng Sống,
mới có thể thỏa mãn cơn đói khát sâu thẳm nhất của chúng ta. Khi đến với
Người, khi tin vào Người, chúng ta được nuôi dưỡng bằng chính sự sống của Thiên
Chúa, được ban bình an và niềm vui đích thực.
Lời mời gọi của Chúa Giê-su vẫn vang
vọng đến ngày hôm nay: "Hãy đến với Ta!" Chúng
ta hãy đáp lại lời mời gọi ấy bằng một trái tim khao khát, bằng một niềm tin
chân thành, để được Người nuôi dưỡng và ban cho sự sống đời đời.
Nguyện xin Chúa Thánh Thần soi sáng
và giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn lời Chúa, để Lời ấy trở thành nguồn sức mạnh
và hướng dẫn cho cuộc sống chúng ta. Amen.
SUY NIỆM 4: SUY NIỆM: “BÁNH” –
MÓN QUÀ SỰ SỐNG
Con người không thể sống nếu thiếu
bánh, thiếu lương thực. Nhưng sống chỉ để tồn tại thì vẫn là chưa đủ. Thiên
Chúa tạo dựng con người không chỉ để sống đời này, mà còn để sống đời đời trong
Ngài. Và để cho sự sống ấy được nuôi dưỡng, chính Chúa Giêsu đã trở nên “Bánh
từ trời”, thứ bánh ban sự sống vĩnh cửu.
Dân Israel xưa đã từng được nuôi
bằng man-na trong sa mạc, nhưng rồi cũng phải chết. Còn bánh Chúa ban hôm nay
không chỉ nuôi thân xác, nhưng nuôi dưỡng linh hồn, cho người ăn bánh ấy được
sống muôn đời.
Ngày hôm nay, có biết bao người vẫn
chạy theo những “thứ bánh” chóng qua: tiền bạc, danh vọng, lạc thú… nhưng rồi lại
thấy tâm hồn trống rỗng. Chỉ khi đến với Chúa Giêsu, Bánh hằng sống, ta mới tìm
được niềm no thoả đích thực.
Bí tích Thánh Thể chính là nơi Chúa
ban cho chúng ta chính Thịt Máu Ngài làm của ăn thiêng liêng. Khi rước Chúa, ta
không chỉ nhận lương thực, mà còn được kết hiệp sâu xa với Ngài, Đấng đã chết
và sống lại vì yêu thương ta.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa là Bánh hằng
sống từ trời xuống. Xin cho con luôn khao khát tìm đến Chúa, biết lắng nghe và
thực thi lời Chúa, để trong từng Thánh lễ, con được nuôi dưỡng bằng Bánh Thánh
của Tình Yêu, và được lớn lên mỗi ngày trong sự sống vĩnh cửu. Amen.
THỨ TƯ: Cv 8,1b-8; Ga
6,35-40
SUY NIỆM 1: Cv 8,1b-8
Cái chết của thầy phó tế Stêphanô là
tiếng chuông báo động khởi đầu cho cuộc bách hại gắt gao mà Gíao hội sơ khai phải
gánh chịu.
Nguyên nhân chính gây ra cuộc bách
hại là vì Giáo hội sơ khai phát triển theo hướng tách ra khỏi Do Thái giáo. Bài
giảng của phó tế Stêphanô nêu lên tính cách tạm thời chuyển tiếp của tôn giáo
Do Thái (x. Cv 7). Nó phải nhường chỗ cho giá trị vĩnh cửu của tôn giáo do Đức
Giêsu Kitô thiết lập, một tôn giáo phổ quát không còn bị giới hạn trong một
quốc gia hay một đền thờ nào cả. Vì lời lẽ đó, Stêphanô phải trả giá cho sự
thật mà ngài đã rao giảng bằng chính mạng sống mình. Ngài đã bị ném đá cho đến
chết và tiếng chuông báo động cho những cuộc bách hại kitô hữu khốc liệt bắt
đầu được khai mào.
Dưới cái nhìn tự nhiên, thì cuộc
bách hại này là biến cố đau thương của Gíao hội sơ khai. Nhưng với cái nhìn đức
tin thì chính cuộc bách hại ấy lại mang một ý nghĩa hết sức to lớn trong sự
quan phòng kì diệu của Thiên Chúa.
- Qua cuộc bách hại ấy cho thấy lời
Chúa Giêsu phán: "Tôi tớ không trọng hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt
Thầy, thì họ cũng sẽ bắt bớ anh em; nếu họ tuân giữ lời Thầy, thì họ cũng tuân
giữ lời anh em. Tại vì danh Thầy mà họ sẽ làm cho anh em tất cả những điều đó,
bởi vì họ không biết Ðấng đã sai Thầy." (Ga 15, 20) đã được ứng
nghiệm.
- Chính cuộc bách hại ấy mà các môn
đệ và các tín hữu phải tản mác về các vùng miền quê của Giuđa và Samaria để hoạt
động. Phó-tế Philipphê thì xuống vùng Samaria và thành công trong việc rao
giảng Tin Mừng tại đó. Cuộc phân tán này trở thành cơ hội cho các Kitô hữu đem
hạt giống Tin Mừng đi gieo vãi khắp nơi (x. Cv 11,19-21).
- Trong cuộc bách hại ấy cho thấy
một đức tin kiên trung vào Chúa Giêsu của các Kitô hữu non trẻ. Họ sẵn sàng
chịu mọi gian lao thử thách và can đảm nhận lấy cái chết để minh chứng cho niềm
tin. Đúng như ai đó đã nói: "Thiên Chúa vẽ đường thẳng với những nét
cong"; hay “khi Thiên Chúa đóng cửa chính thì Ngài mở ra cửa sổ”.
Tin tưởng vào sự quan phòng kì diệu
của Chúa, nên những khi gặp đau khổ, chúng ta đừng bao giờ phàn nàn, kêu trách
Chúa; cũng đừng bao giờ than thân trách phận hoặc chán nản, buông xuôi, nhưng
hãy tin tưởng, cậy trông và gia tăng cầu nguyện xin Chúa trợ giúp.
Xin cho tất cả chúng ta biết cảm tạ
Chúa vì đã ban cho Gíao Hội những vị chứng nhân anh dũng đã can đảm gieo vãi
Tin Mừng của Chúa khắp nơi. Xin cho mỗi người trong Họ đạo chúng ta luôn ý thức
bổn phận loan báo tin mừng để mọi người có cơ hội nhận biết và tin vào Đức
Kitô.
SUY NIỆM 2: Ga 6,35-40
Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết,
Chúa Giêsu đến trần gian là để thi hành thánh ý Chúa Cha: Cứu độ và ban cho con
người sự sống muôn đời. Tuy nhiên chỉ những ai đến và tin nhận Ngài là Đấng
Thiên Sai là bánh bởi trời mới đáng được hưởng sự sống trường sinh Ngài mang
đến. Xin Chúa củng cố niềm tin nơi chúng ta để ta năng đến với Người.
Để giúp dân chúng hiểu về thứ bánh
trường sinh là chính Người, Chúa Giêsu đã mạc khải cho họ biết về nguồn gốc,
mục đích và ý nghĩa về Người. Chúa Giêsu khẳng định cho dân chúng biết nguồn
gốc về Người: “Tôi từ trời mà xuống”. Ngầm ý minh chứng rằng:
Nếu ngày xưa Thiên Chúa ban Manna từ trời xuống, thì ngày nay, Thiên Chúa cũng
ban Chúa Giêsu xuống từ trời. Như thế Chúa Giêsu chính là Bánh bởi trời ban.
Nếu xưa kia mục đích Thiên Chúa ban manna là để làm lương thực nuôi tất cả dân
Do Thái lưu lạc trong sa mạc, thì ngày nay, Chúa Giêsu cũng cho biết mục đích
Ngài đến sa mạc trần gian cũng là để thi hành ý Cha, nuôi sống tất cả mọi
người, không để mất một ai. Nếu xưa kia trong sa mạc, dân chúng đã tin vào
Thiên Chúa và nghe lời Môsê xem Manna là bánh nuôi sống họ trên đường về đất
hứa; thì hôm nay, Chúa Giêsu cũng mời gọi họ đón nhận và tin vào Ngài chính là
tấm bánh trường sinh nuôi dưỡng và thêm sức để họ tiến về quê trời mà Chúa hứa
ban.
Khi Chúa Giêsu khẳng định: “Chính
Tôi là bánh trường sinh”, Ngài muốn quả quyết rằng, chỉ duy mình Ngài
mới là lương thực và là sự sống cho mọi người, vì chính Ngài là Thiên Chúa,
Đấng tạo dựng và thông ban sự sống cho muôn loài.
Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự
sống trần gian và sự sống đời đời. Sự sống trần gian được nuôi dưỡng bằng Manna
và cơm bánh. Sự sống đời đời phải được nuôi dưỡng bằng Mình Thánh Chúa.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa chính
là nguồn sống và là Đấng ban sự sống đời đời. Xin cho chúng con biết gắn bó mật
thiết với Chúa qua việc tin và đón nhận Thánh Thể Chúa vào lòng, để chính nguồn
sự sống đời đời của Chúa nơi bí tích Thánh Thể nuôi dưỡng chúng con.
THỨ NĂM: Cv 8,26-40; Ga 6,44-51
SUY NIỆM 1: Cv 8,26-40
Muốn biết Đấng Ki-tô là ai? thì phải
tìm đến Kinh Thánh, như thánh Giê-rô-ni-mô đã quả quyết: "Không biết Kinh
Thánh là không biết Chúa Ki-tô".
Trong bài đọc I, cho biết: Viên thái
gíam Ethiopia chỉ có thể biết được Chúa Kitô khi ông yêu thích tìm đọc Thánh
kinh. Nhưng nếu đọc Thánh kinh mà không được giải thích bởi Gíao Hội thì cũng
không thể hiểu đúng ý nghĩa điều mà Thánh kinh muốn nói. Nhờ sự hướng dẫn của
vị phó tế Philipphê và dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần nên viên Thái Gíam
đã hiểu đúng đoạn sách (x. Is 53,7-8 ) mà ông đang đọc ám chỉ về "Chúa
Giêsu là Người Tôi Trung, Ngài chịu đựng đau khổ cho con người, để cứu chuộc
con người khỏi chết và cho con người được sống muôn đời. Để được hưởng những
đặc quyền này, con người phải tin vào Đức Kitô và chịu Phép Rửa." Nên
viên Thái Gíam đã tin và xin nhận lãnh phép rửa với lòng đầy hoan hỷ, tiếp tục
cuộc hành trình…
Đúng như điều Chúa Giêsu quả
quyết: "Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai
Tôi, không lôi kéo người ấy." (Ga 6,44). Viên Thái Gíam được sự
lôi kéo bời Thiên Chúa nên ông đã tìm đến đọc Thánh kinh, nhờ sự giải thích của
vị phó tế Philípphê, người của Gíao hội, dưới sự tác động của Thánh Thần nên
ông đã tin và chịu phép rửa.
Xin cho chúng ta biết bắt chước viên
thái giám: siêng đọc Lời Chúa, khiêm tốn lắng nghe lời Chúa qua sự hướng dẫn
của các vị chủ chăn. Và nhờ ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần càng ngày chúng ta
thêm hiểu biết lời Chúa, yêu mến Chúa và đặt trọn niềm tin vào Chúa hơn, hầu
xứng đáng đón nhận ơn cứu độ mà Chúa thương ban.
SUY NIỆM 2: Ga 6,44-51
Tiếp tục đề tài Bí Tích Thánh Thể,
Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu xác quyết chính Ngài là bánh từ trời xuống, bánh
hằng sống, ai ăn sẽ được sống muôn đời. Nhưng để đến và đón nhận sự sống của
Ngài cần phải được Chúa Cha ban ơn trợ giúp. Xin Chúa thương ban ơn giúp sức
cho chúng ta, để chúng ta tin nhận và đến cùng Chúa Giêsu nguồn ban sự sống đời
đời.
Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiếp
tục kêu gọi chúng ta đến với Ngài và tin vào Ngài. Bởi chính Người là bánh từ
trời, bánh hằng sống. Ai đón nhận Ngài thì sẽ được sống đời đời. Nhưng để đến
được với Chúa, chúng ta phải được Chúa Cha lôi kéo. Tự sức ta không thể đến với
Chúa được, vì con người chúng ta hèn mọn và tội lỗi. Mà muốn được Chúa Cha lôi
kéo, chúng ta phải đón nhận giáo huấn của Chúa qua việc lắng nghe và thi hành
Lời Chúa dạy. Chính Chúa Giêsu là Lời của Chúa Cha. Lời Chúa Cha là Lời ban sự
sống cho con người. Vì thế đến được với Chúa Giêsu là “Lời”, ta tiếp nhận sự
sống từ nơi Chúa Cha.
Nhiều người cho mình đã chọn Chúa,
tin kính Chúa và thường xuyên đến với Chúa là do khả năng và nổ lực của bản
thân mình. Nhưng thật sai lầm, vì không ai có thể tin nhận và đến với Chúa nếu
không cậy nhờ ơn ban của Chúa Cha lôi kéo người ấy.
Xin Chúa thương lôi kéo chúng ta
siêng năng đến với Chúa nơi Bí Tích Thánh Thể, cũng như trung thành lắng nghe
và thực hành lời Chúa dạy. Nhờ đó chúng ta được Chúa ban sự sống đời đời.
THỨ SÁU: Cv 9,1-20; Ga 6,52-59
SUY NIỆM 1: Cv 9,1-20
Mỗi ngày có 24 giờ, trong đó có biết
bao là thay đổi. Sự thay đổi số phận con người có khi cũng lắm bất ngờ! Hôm qua
tội lỗi, hôm nay trở nên tốt lành; hôm qua nghèo khổ, hôm nay trở nên giàu
sang, hôm qua đầy tớ, hôm nay là ông chủ…và có thể ngược lại. Vận mạng con
người thay đổi cũng bởi nhiều lý do khác nhau: có khi do một lời nói, một ánh
mắt, một nụ cười, một gương sáng, một lời cầu nguyện chân thành hay một biến cố
vui buồn, thành công thất bại nào đó xảy ra trong cuộc sống.
Xin đừng để chúng ta quá đau buồn về
những thất bại xảy ra trong cuộc sống, cũng như đừng quá tự mãn về những thành
công của mình. Nhưng trên hết hãy khiêm tốn “ký thác đường đời cho Chúa, tin
tưởng vào Người, Người sẽ ra tay” (Mt 6, 25-34).
Sách Cvtđ hôm nay thuật lại biến cố
ngã ngựa bất ngờ, làm thay đổi cuộc đời của Sao-lô, nhờ gặp gỡ Đức Giêsu. Sách
Cv cho biết: Sao-lô, quê ở Tác xô, là người Do-thái trí thức, thông thạo nhiều
thứ tiếng miền Do-thái và Hy Lạp. Vốn là một biệt phái nhiệt thành, Saolô
thường đi lùng sục bắt bớ đạo Chúa, tham gia vào vụ giết thánh Stêphanô. Sau
khi nhận được thư giới thiệu của vị thượng tế, chàng trai Sao-lô hăng máu phóng
ngựa như bay rong ruổi khắp các nẻo đường thành Đa-mát để truy bắt các Ki-tô hữu
đem về Giê-ru-sa-lem trị tội. Hành động ấy Sao-lô xem là nhiệt thành với lề
luật Do Thái giáo đúng như lời Chúa Giêsu đã nói: “Có lúc, những người
bắt bớ các con, cứ tưởng rằng đó là việc tôn thờ Thiên Chúa” (Ga16,
2). Nhưng không ngờ đang lúc ông hăng máu phóng ngựa truy cùng, diệt tận các
kitô hữu trên đường Đa-mat, bất ngờ một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao
pbủ lấy ông, khiến ông ngã xuống đất. Lúc đó ông nghe có tiếng nói:"Sa-un,
Sa-un, tại sao người bắt bớ Ta?". Ông hỏi: "Thưa Ngài,
Ngài là ai?". Người ấy đáp: "Ta là Giêsu mà ngươi đang
bắt bớ". Nhưng không ai trông Chúa Giêsu. Sau đó Sao-lô được người ta
đưa vào một căn nhà trong thành Đa-mát với tình trạng mắt ông bị mù. Tại đây
Sao-lô được chữa lành đôi mắt và nhận lãnh Chúa Thánh Thần, nhờ việc đặt tay
của Kha-na-ni-a, người được Chúa Giêsu sai đến. Thế là sau ba ngày ông không
nhìn thấy, cũng chẳng ăn uống được gì nay ông đứng dậy chịu phép rửa, rồi ăn
uống và khỏe lại. Từ đó đời ông được thay đổi!
Từ một con người trung thành với
quan niệm duy Do Thái giáo, nay Phaolô lại thay đổi trở nên con người say mê
Giêsu đến độ ngài nói: “kể từ khi tôi biết Đức Giêsu Phục Sinh, tôi coi
mọi sự như phân bón. Kể từ khi biết Đức Giêsu, tôi coi mọi sự như thua lỗ bất
lợi cả trước cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô Chúa tôi” (Pl
3, 8-9).
Nếu trước đây Sao-lô tìm mọi cách để
tiêu diệt những người theo Chúa Giêsu, thì nay Phao-lô lại hăng say rao giảng
Tin mừng để đưa mọi người đến cùng Giêsu. Lòng nhiệt thành rao giảng Tin mừng
của Chúa đã trở thành phương châm sống của ông: "khốn cho tôi nếu
tôi không rao giảng tin mừng." (1Cr 9,16).
Trong cuộc đời chúng ta cũng vậy,
lắm khi một biến cố, một dấu chỉ nào đó xảy ra làm ta cảm thấy khó chịu, đau
đớn lòng, nhưng có khi đó lại chính lại là hồng ân đổi mới. Giúp chúng ta
trưởng thành hơn trong đức tin và dạng dày hơn trong cuộc sống nhờ ơn ban của
Chúa.
Xin Chúa cho con biết nhìn các biến
cố bằng cặp mắt đức tin, để chúng con không ngã lòng, buông xuôi khi gặp thử
thách, thất bại; Và xin cho chúng con cũng đừng bao giờ tự mãn khi thành công.
Vì cuộc đời có lắm đổi thay!.
SUY NIỆM 2: Ga 6,52-59
Thiên Chúa dựng nên con người có hồn
và xác. Phần xác muốn sống phải ăn cơm bánh hằng ngày; phần hồn muốn sống phải
rước Mình Máu Thánh Chúa. Mình Máu Thánh Chúa chính là của ăn nuôi sống linh
hồn ta. Xin cho chúng ta biết yêu mến và quý trọng của ăn thiêng liêng mà Chúa
Giêsu tặng bằng cách dọn mình xứng đáng và siêng năng đến rước Chúa nơi bàn
tiệc Thánh.
Nhân gian thường nói “Ăn gì thì bổ
cái đó”, là một thực tế của sự sống luân chuyển trong thân xác con người và các
tạo vật.
Nếu ăn nhiều thịt thì áp xuất máu sẽ
tăng lên và tính tình thường hay nóng nảy. Ngược lại ăn rau, củ, quả nhiều, thì
cơ thể cảm thấy nhẹ nhàng, tính tình cũng điềm đạm hơn. Đó là kinh nghiệm bình
thường ở những cơ thể cũng bình thường, ngoại trừ những cơ thể bất thường thì
có thể khác.
Căn cứ vào kinh nghiệm đó, chúng ta
có thể hiểu được lời Chúa Giêsu phán dạy: "Ta là bánh hằng sống từ trời
xuống; ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là Thịt Ta,
để cho thế gian được sống... Ai ăn Thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và
Ta ở trong kẻ ấy". Đúng vậy, Chúa Giêsu Kitô không chỉ có bản tính
nhân loại, mà còn mang bản tính Thiên Chúa trong Ngài, nên thịt và máu Ngài ở
trong trạng thái của sự sống đời đời.
Khi ăn thịt và uống máu Ngài, một
kiểu nói khiến những người Do Thái đương thời với Chúa Giêsu phải rùng mình sợ
hãi và bỏ đi, và những người thời nay không tin Chúa Giêsu thì cho đầu óc những
người Công Giáo là điên rồ. Nhưng ngược lại, lại rất quen thuộc thường tình và
trở nên vô cùng quan trọng đối với sự sống tinh thần và thiêng liêng của mọi
Kitô hữu, nhất là những người Công Giáo.
Người công giáo chẳng những tin vào
Lời Chúa Giêsu phán về việc ăn thịt và uống máu Ngài, nhưng còn có kinh nghiệm
ăn thịt và uống máu ấy hằng ngày, để cảm nghiệm sự trưởng thành trong đời sống
tinh thần của mình ở mức độ đời đời thế nào. Vì thế trên cả thế giới, cứ vài
giây đồng hồ lại có một Thánh Lễ để cung cấp cho trên 1 tỷ người Công giáo sự
sống trường sinh là thịt và máu Chúa Giêsu. Bất cứ ai đến ăn thịt và uống máu
Ngài, đều cảm nhận sự bình an khôn tả, nhiều khi nhận được cả sự chữa lành thể
xác nữa.
Bí tích Thánh Thể, lương thực thần
lương mang sự sống đời đời. Xin cho chúng ta biết tin tưởng và khao khát tìm
đến đón nhận chính nguồn lương thực này, hầu đem lại cho chúng ta nguồn bình an
và sự sống đời đời. (st)
THỨ BẢY: 1 Pr 5, 5b-14; Mc 16, 15-20
KÍNH THÁNH MAR-CÔ, TÁC GIẢ TIN MỪNG
SUY NIỆM 1:
"Công cuộc truyền giáo mãi mãi
là vấn đề sống còn của Hội Thánh trên đất nước chúng ta". Đó là lời mở đầu
của UB Loan Báo Tin Mừng/HĐGMVN sau 50 năm (1960-2010) nỗ lực truyền giáo.
Vì thế truyền giáo hay loan báo tin
mừng là nhiệm vụ hàng đầu của Gíao Hội. Gíao Hội có được lớn mạnh hay không tùy
thuộc vào việc loan báo tin mừng.
Công đồng Vatican II khẳng định rõ
rằng: “Tự bản tính, Giáo hội lữ hành là truyền giáo” (Ecclesia peregrinans
natura sua missionaria est, Ad gentes 2).
Sẽ không là Gíao hội hay là người
kitô hữu nữa nếu không loan báo tin mừng.
Trên hết truyền giáo hay loan báo
tin mừng là lệnh truyền tâm quyết của Chúa Giêsu. Nên trước khi về trời Ngài đã
di chúc lại cho các tông đồ: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên
hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được
cứu độ; còn ai không tin thì sẽ bị kết án " (Mc 16, 15).
Vậy đã rõ mục đích của việc loan báo
tin mừng là để người khác tin vào Chúa Giêsu, nhận lãnh phép rửa và được cứu
độ.
Nhưng làm thế nào để việc loan báo
tin mừng mang lại hiệu quả?
Thư I của thánh Phêrô, trong bài đọc
I hôm nay cho ta biết những điều tóm lượt quan trọng mà chúng ta cần phải lưu
tâm để sống:
- "Lấy đức khiêm nhường
đối xử với nhau". Muốn đối xử khiêm nhường với nhau, trước hết phải tự
khiêm hạ trước Chúa.Không khiêm hạ trước Chúa làm sao ta dễ khiêm nhường với
anh em. Kiêu ngạo luôn là cám dỗ nguy hiểm đánh mất hạnh phúc thiêng đàng mà
nguyên tổ Adam và Eva đã mắc phải.
- "Mọi âu lo, hãy trút
cả cho Người, vì Người chăm sóc anh em". Nghĩa là phải đặt trọn
niềm tin vào sự quan phòng của Chúa đầy yêu thương chúng ta.
- "Hãy sống tiết
độ và tỉnh thức": sống đúng với ơn gọi và chu toàn tốt bổn phận
mà Chúa trao phó cho mình.
- "Hãy đứng vững trong
đức tin mà chống cự". Trong mọi hoàn cảnh, ngay cả cái chết cũng
luôn trung thành làm chứng niềm tin của mình. Vì phần thưởng mà Chúa ban
tặng chính là được nên hoàn thiện, vững vàng, mạnh mẽ và kiên cường; nhất là
được hưởng vinh quang đời đời trong Đức Kitô.
Xin Chúa cho chúng ta ý
thức được tầm quan trọng của việc truyền giáo, để như thánh Mác-cô, ta
biết tận mọi khả năng, hoàn cảnh mà góp phần tich cực cho việc truyền giáo.
Xin cho chúng ta trở nên chứng nhân
trung thành của Chúa Giêsu nhờ biết siêng năng tìm hiểu học hỏi và sống theo
lời Chúa dạy trong các sách Tin Mừng, trong đó có Tin Mừng thánh Mác-cô để lại
bằng đời sống khiêm nhường, phó thác, tiết độ, tỉnh thức và kiên vững đức tin
cho dẫu phải đối mặt với bao gian lao thử thách, nhờ đó mà Tin mừng của Chúa
mới có sức thuyết phục và ơn cứu độ của Chúa mới được lan tỏa đến mọi người ở
khắp nơi.
SUY NIỆM 2:
Mỗi khi tưởng nhớ hay tôn kính một
vị thánh nào đó, GH thường nhắc lại thân thế và sự nghiệp của các ngài để tri
ân công đức, nêu gương bắt chước đời sống tốt lành và khấn xin các ngài khấn
cầu cùng Chúa ban ơn cho ta. Do đó trong ngày mừng kính thánh Marcô tác giả Tin
mừng hôm nay, chúng ta cũng hãy nhìn lại thân thế và sự nghiệp của thánh Marcô.
1. Thân thế:
Chúng ta không biết nhiều về quãng
đời niên thiếu của thánh Marcô. Chỉ biết rằng ngài là một trong bốn vị thánh sử
đã ghi chép Phúc Âm.
Tên đầy đủ của ngài là Gioan Marcô
(x.Cv 12,12). Thánh nhân là người Do Thái, thuộc dòng họ Lêvi. Mẹ của ngài
là bà Maria, một góa phụ giàu có, nơi ngôi nhà này, các tín hữu tiên khởi
Giêrusalem hay đến tụ họp để cầu nguyện (x. Cv 12, 12tt). Cũng vì thế mà
sau khi ra khỏi tù Phêrô đã về đây trú ẩn: “Mở cổng ra, thấy ông, họ
kinh ngạc. Ông giơ tay làm hiệu cho họ im lặng, rồi kể cho họ nghe Chúa đã đưa
ông ra khỏi tù thế nào” (Cv 12, 16-17).
Trong ba năm Chúa Giêsu đi rao giảng
Tin mừng, ta không thấy nhắc đến tên ngài, nhưng trong biến cố Chúa Giêsu bị
bắt thì ngài có mặt ở đó, nhưng vì sợ liên lụy, ngài đã bỏ chạy thục mạng, đến
tuột cả quần ra (x. Mc 14, 51-52).
2. Sự nghiệp:
Vâng theo lệnh truyền của Chúa Giêsu
trước khi về trời, Marcô đã đi theo tông đồ Barnaba và Phaolô để loan báo Tin
mừng. Nhưng trong chuyến truyền giáo thứ nhất có
vì gặp quá nhiều gian lao, vất vả nên Marcô đã bỏ về Giêrusalem (x. Cv 13, 13). Do đó mà trong chuyến truyền giáo thứ hai, Phaolô nhất
quyết không cho Marcô theo, mặc dù Barnaba tha thiết yêu cầu. Sự kiện này đã
gây đổ vỡ đến sự cộng tác giữa Phaolô và Barnaba (x. Cv 15, 36-40).
Nhưng nhờ thế
mà sau đó Marcô lại theo Phêrô đến Rôma và làm thông dịch cho Phêrô,
nên trong bức thư thứ nhất, Phêrô đã gọi Marcô là người con
của ngài. (x. 1Pr 5, 13).
Là người thông
ngôn cho Phêrô nên Marcô lãnh trách nhiệm chép lại những lời Phêrô giảng
dạy và là người đầu tiên soạn thảo “sách Tin Mừng”, vào khoảng năm
64-70, với nhiều mục đích:
- Nhằm lưu lại
lời rao giảng của các tông đồ cùng với những truyền thồng tiên khởi của GH vì e
rằng thế hệ chứng nhân “mắt thấy tai nghe” sắp qua đi.
- Nhằm nâng đỡ
và củng cố đức tin cho các tín hữu gốc lương dân, sống ngoài lãnh thổ Palestin,
đang sống trong hoàn cảnh bị bách hại dữ dội bởi hoàng đế Nêron.
- Nhằm để giúp
tín hữu mới theo đạo có được cảm nghiệm về Chúa Giêsu như thánh Phêrô. Cảm
nghiệm ấy được Marcô trình bày một cách tiệm tiến qua ba giai đoạn được tóm
lược vào câu đầu tiên trong Tin Mừng của ngài: “Khởi đầu Tin mừng Đức
Giêsu-Kitô-Con Thiên Chúa”. Trước hết Chúa Giêsu là một người, tiếp đến
Người là Đức Kitô như lời tuyên xưng của Phêrô (x. Mc 8, 29), Sau cùng Marcô
trình bày cho thấy Đức Kitô ấy chính là Con TC, qua lời tuyên xưng của viên đại
đội trưởng Rôma dưới chân thập giá (x. Mc 15, 39),
Nếu so sánh với
các Thánh sử khác, thì Phúc âm của Thánh Marcô là ngắn nhất (16 chương). Trong
khi đó Matthêu có đến 28 chương, Luca 24 chương, và Gioan 21 chương. Lối trình
bày của Ngài đơn sơ, mộc mạc, mang tính kể chuyện về cuộc đời của Chúa Giêsu,
thích hợp cho mọi độc giả, đặc biệt cho những anh chị em bình dân.
Người ta quen
vẽ hình ngài là một con sư tử, một trong bốn con vật được tiên tri Ezekiel xem
thấy trong thị kiến. Quả thật sách Tin Mừng của Marcô khởi đầu bằng việc trình
bày Gioan Tẩy Giả như là tiếng hô trong sa mạc (x. Mc 1,3).
Theo một tài
liệu không chắc lắm cho biết thánh nhân được ủy phái đi truyền giáo ở Ai
Cập sau đó. Với cuốn Phúc Âm, ngài đã đưa nhiều người trở về với Chúa. Ngài là
vị sáng lập và là Giám Mục đầu tiên giáo đoàn Alexandria. Nhờ tài lợi khẩu, trí
thông minh và sự thánh thiện, ngài đã dẫn đưa được nhiều người về cùng Chúa.
Cũng như các
tông đồ, thánh nhân cũng gặp nhiều gian lao thử thách trong sứ mạng làm chứng
cho Chúa. Cuối cùng ngài cũng chịu bách hại bởi những lương dân tại giáo đoàn
ngài đang phục vụ. Họ đã bắt ngài điệu qua các phố với mục đích bêu xấu ngài,
và lôi kéo ngài trên đường đá gồ ghề cho tới khi tắt thở. Hôm đó là ngày
25/04/67.
Ngài mất đi để
lại một sự nghiệp vô giá. Phúc Âm do ngài biên soạn vẫn còn mãi. Danh ngài sẽ
luôn được nhắc đến trong Giáo Hội, nhưng quan trọng hơn hết là phần thưởng bội
hậu mà Thiên Chúa đã ban cho ngài trên Thiên Quốc.
Nguyện xin Chúa
qua lời chuyển cầu của thánh nhân ban cho mỗi người chúng ta biết tích cực
cộng tác với GH trong sứ mạng loan báo Tin Mừng và làm chứng cho Ðức Kitô phục
sinh trong những bổn phận hằng ngày với hết khả năng của mình bằng con tim cháy
lửa yêu mến theo gương thánh Marcô tác giả của Tin mừng, mà chúng ta mừng kính
hôm nay.
MÙA PHỤC SINH: Cv 9,31-42; Ga
6,51.60-69
SUY NIỆM 1:
“Anh em có muốn bỏ Thấy không?”. Đây không chỉ
là câu hỏi Giêsu dành cho các tông đồ xưa nhưng còn cho mỗi chúng ta hôm nay.
Ta có theo Chúa hay không? Phải dứt khoát không thể nửa chừng, nước đôi. Chọn
theo Chúa ta sẽ được sống. Chính Chúa mới đem lại cho chúng ta phúc trường
sinh.
Xin cho chúng ta biết thân thưa với
Chúa như thánh Phêrô: “Bỏ thầy con biết đến với ai? Thầy mới có những lời ban
sự sống đời đời”.
Kết quả diễn từ về Bí Tích Thánh Thể
của Chúa Giêsu hầu như bị thất bại. Dân chúng thì bỏ đi. Nhiều môn đệ thì cảm
thấy khó chịu, lẩm bẩm: “Lời gì mà chướng tai thế?”. Ông ta
làm sao lấy thịt mình cho người ta ăn được? họ tỏ ra chán ngán và rút lui. May
thay, Simon Phêrô thay mặt nhóm 12 tuyên tín vào Chúa Giêsu: “Thưa
Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự
sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là
Đấng Thánh của Thiên Chúa.” Thật là an ủi và ấm lòng Chúa Giêsu biết
bao!
Tin vào Bí Tích Thánh Thể luôn là
thử thách lớn lao chẳng những đối với dân chúng và các môn đệ xưa, mà cho cả
những người kitô hữu chúng ta ngày nay. Làm sao chúng ta có thể tin nhận Chúa
Giêsu lại hiện diện nơi tấm bánh đơn sơ, bé nhỏ? Làm sao Chúa Giêsu lại biến
bánh và rượu trở nên thịt và máu Ngài để nuôi sống chúng ta? Nếu không được
Chúa ban ơn đức tin.
Tin Chúa quyền năng làm được mọi sự.
Tin vào tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta: Chính vì tình yêu, Chúa dựng nên
chúng ta; chính vì tình yêu Chúa xuống thế làm người ở với chúng ta; chính vì
tình yêu Ngài đã hiến thân chịu chết để cứu chuộc chúng ta; chính vì quá yêu
loài người nên Ngài đã biến bánh và rượu trở nên thịt máu Ngài nuôi dưỡng và ở
lại mãi trong ta, để ban sự sống đời đời cho những ai tin nhận Ngài.
Xin cho mỗi lần tham dự thánh lễ,
chúng cảm nhận được tình thương vô vàn mà Chúa dành cho chúng ta qua Bí Tích
Thánh Thể; cho chúng ta ý thức dọn tâm hồn cho xứng đáng để đón nhận Chúa vào ở
trong lòng chúng ta.
SUY NIỆM 2:
"Lạy Thầy, bỏ Thầy thì chúng
con biết đến với ai?"
Bài Tin Mừng hôm nay là đoạn kết của
diễn từ Bánh Hằng Sống. Sau khi Chúa Giêsu khẳng định Ngài là Bánh từ trời
xuống, ai ăn thịt và uống máu Ngài thì được sống muôn đời, nhiều môn đệ cảm
thấy "lời này chướng tai quá, ai mà nghe nổi!" và họ
đã rút lui, không còn đi theo Ngài nữa.
Sự rút lui này cho thấy một điều:
đức tin không phải là kết quả của hiểu biết lý trí đơn thuần, nhưng là một hành
động phó thác, một tiếng "xin vâng" dù còn nhiều điều chưa thể hiểu
hết. Niềm tin không ngừng bị thử thách, nhất là khi Thiên Chúa dường như vượt
qua mọi suy nghĩ và cảm thức con người.
Trong hoàn cảnh ấy, Chúa Giêsu quay
sang hỏi Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay
sao?” Phêrô, thay mặt anh em, đã thốt lên một lời tuyên xưng tuyệt
đẹp: "Lạy Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có
những lời ban sự sống đời đời."
Lời tuyên xưng ấy không chỉ là chọn
ở lại, mà còn là chọn tin tưởng vào Đức Giêsu là Thiên Chúa, dù chưa hiểu trọn
vẹn. Đó là chọn bước theo Thầy Giêsu không phải vì những phép lạ hay vì
sự dễ chịu, nhưng vì Ngài là sự sống, là chân lý và là hy vọng suy nhất.
Sứ điệp lời Chúa hôm nay muốn nhắc
nhở chúng ta rằng:
- Trong hành trình đức tin của tôi,
có bao giờ tôi cảm thấy nản lòng vì những đòi hỏi của Tin Mừng chưa?
- Tôi có đang tìm kiếm một Chúa
Giêsu theo ý mình, hay chấp nhận đi theo Ngài ngay cả khi đường Ngài mời gọi đi
là con đường thập giá?
Xin Chúa ban cho chúng ta một đức tin vững vàng, biết chọn Chúa mỗi ngày, giữa bao lôi kéo và cám dỗ bỏ cuộc. Xin cho chúng ta luôn can đảm như Phêrô, để trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn chọn theo Chúa và xác tín niềm tin tung kiên của mình: “Bỏ Thầy con biết theo ai?...” Amen.