SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN XI THƯỜNG NIÊN
Lm. Nguyệt Giang
CHÚA NHẬT XI THƯỜNG-NĂM A
Xh 19,2-6a; Rm 5,6-11; Mt 9,36-10,8
SUY NIỆM 1:
Tin Mừng hôm nay, Thánh Matthêu minh chứng cho chúng ta
biết Chúa Giêsu chính là hiện thân của lòng thương xót Chúa qua:
- Ánh mắt đến trái tim: “Chúa Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng
thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt”;
- Lời nói đến hành động: Với lời nói, Ngài dạy dỗ dân
chúng: “Chúa Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các
hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời.” Với hành động,
Ngài chữa lành mọi vết thương hồn xác cho những ai đau khổ: “Chúa
Giêsu chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.” Ngoài ra, Ngài còn chăm lo
cho dân chúng đang đói khát được ăn no nê qua phép lạ bánh hóa nhiều, với mong
muốn họ an tâm theo Ngài và có đủ sức để trở về mái ấm gia đình.
- Hơn thế nữa, Ngài còn chuẩn bị cho nhân loại một tương
lai tốt đẹp bằng cách chọn gọi và huấn luyện các môn đệ: để các ông
này tiếp tục sứ mạng đem tin mừng ơn cứu độ đến tận cùng thế giới. Bởi lẽ
Ngài nhìn thấy đồng lúa đã chính vàng và đang cần đến những thợ gặt: “Lúa
chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít.” Nên Ngài đã sai các tông đồ ra đi
thực thi sứ mạng qui tụ tất cả mọi người về với Chúa để họ đón nhận được ân
sủng và hạnh phúc trong nước trời.
Như vậy, khi suy niệm về sứ điệp lời Chúa hôm nay, chúng
ta có dịp cảm nhận sâu xa tình Chúa yêu ta là dường nào.
Xin cho chúng ta biết không ngừng cảm tạ, chúc tụng tình
thương cao vời của Chúa bằng việc siêng năng chiêm ngắm và học hỏi bài học yêu
thương từ thánh tâm của Chúa, biết tích cực tham dự thánh lễ và nhiệt tâm loan
báo tin mừng tình thương của Chúa cho mọi người.
SUY NIỆM 2: ĐƯỢC YÊU THƯƠNG ĐỂ ĐƯỢC SAI ĐI
Lời
Chúa Chúa nhật XI Thường niên hôm nay cho chúng ta thấy một hành trình rất
đẹp: Thiên Chúa yêu thương – Thiên Chúa tuyển chọn – Thiên Chúa sai đi.
Từ
dân Israel dưới chân núi Sinai, đến các Tông đồ trong Tin Mừng, và đến mỗi Kitô
hữu hôm nay, tất cả đều khởi đi từ tình yêu nhưng không của Thiên Chúa.
1.
Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn chúng ta
Trong
bài đọc I, Thiên Chúa nhắc dân
Israel nhớ lại những gì Ngài đã làm: “Các ngươi đã thấy Ta đã xử với
người Ai Cập thế nào, và đã mang các ngươi trên cánh chim bằng mà đưa đến với
Ta” (Xh 19,4).
Hình
ảnh chim bằng cõng con trên đôi cánh diễn tả tình yêu dịu dàng nhưng mạnh mẽ
của Thiên Chúa. Israel không phải là dân đông nhất hay mạnh nhất, nhưng là dân
được Chúa yêu và tuyển chọn. Điều đó cũng đúng với mỗi người chúng ta. Không
phải vì chúng ta tài giỏi hay xứng đáng mà được làm con Chúa. Tất cả đều là
hồng ân.
Trong
bài đọc II, thánh Phaolô còn đi xa
hơn khi khẳng định: “Khi chúng ta còn là những kẻ tội lỗi, Đức Kitô đã
chết vì chúng ta.”
Tình
yêu của Thiên Chúa không đợi chúng ta hoàn hảo rồi mới yêu. Ngài yêu chúng ta
ngay trong sự yếu đuối, bất toàn và tội lỗi của mình. Biết mình được yêu là nền
tảng của đời sống Kitô hữu. Người không cảm nhận được tình yêu Chúa sẽ khó sống
niềm vui đức tin và cũng khó nhiệt thành loan báo Tin Mừng.
2.
Trái tim mục tử của Chúa Giêsu
Tin
Mừng kể rằng: “Thấy
dân chúng, Người chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên
không người chăn dắt.”
Đây
là một trong những câu Tin Mừng đẹp nhất nói về trái tim của Chúa Giêsu. Người
nhìn đám đông không bằng ánh mắt phán xét nhưng bằng ánh mắt cảm thương. Người
thấy những nỗi khổ đau, lo âu, lạc hướng và cô đơn của con người.
Ngày
nay, biết bao người cũng đang sống trong tình trạng ấy: Nhiều người có của cải
nhưng thiếu bình an. Nhiều người sống giữa đám đông nhưng cô đơn. Nhiều gia
đình đầy đủ vật chất nhưng thiếu tình yêu. Nhiều người trẻ mất phương hướng
giữa vô vàn chọn lựa… Trước thực trạng đó, Chúa Giêsu không chỉ dừng lại ở lòng
thương cảm. Người còn hành động: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì
ít.” Lòng thương xót của Chúa luôn dẫn tới sứ mạng cứu độ.
3.
Được sai đi để tiếp nối sứ mạng của Chúa
Sau
khi nhìn thấy nhu cầu của cánh đồng truyền giáo, Chúa gọi mười hai Tông đồ và
trao cho các ông quyền năng cùng sứ mạng: “Các con hãy đi rao giảng
rằng: Nước Trời đã đến gần.”
Điều
đáng chú ý là trước khi sai các ông đi, Chúa đã gọi các ông đến với Người.
Không ai có thể trở thành tông đồ nếu chưa là môn đệ. Không ai có thể trao ban
Chúa nếu chưa sống với Chúa.
Ngày
nay, lệnh truyền ấy vẫn còn nguyên giá trị. Vì thế, hội đồng giám mục Việt Nam
ý thức chúng ta thực thi lệnh truyền ấy của Chúa, với chủ đề: “mỗi kitô hữu là
một môn đệ thừa sai”, với khẩu hiệu: “anh em là ánh sáng trần gian”.
Sứ
mạng loan báo Tin Mừng không chỉ dành cho các giám mục, linh mục hay tu sĩ,
nhưng cho mọi Kitô hữu.
Mỗi
người đều có thể là nhà truyền giáo:
-
Người cha, người mẹ truyền giáo bằng đời sống gương mẫu trong gia đình.
-
Người giáo lý viên truyền giáo bằng việc dạy giáo lý.
- Người
trẻ truyền giáo bằng đời sống trong sáng và nhiệt thành.
-
Người bệnh tật truyền giáo bằng sự hy sinh và lời cầu nguyện.
-
Người tín hữu truyền giáo bằng lòng bác ái và chứng tá hằng ngày.
Có
thể chúng ta không đi đến những miền đất xa xôi, nhưng ai cũng có một “cánh
đồng truyền giáo” ngay bên cạnh mình.
Tóm
lại: Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta:
1. Biết
tạ ơn vì mình được Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn.
2. Mang
lấy trái tim biết cảm thương như Chúa Giêsu trước những đau khổ của tha nhân.
3. Can
đảm trở thành những người loan báo Tin Mừng bằng đời sống hằng ngày.
Thế
giới hôm nay không chỉ cần những người nói về Chúa, nhưng cần những Kitô hữu
sống sao để người khác nhận ra Chúa đang hiện diện.
Xin
Chúa cho mỗi người chúng ta cảm nhận sâu xa tình yêu cứu độ của Đức Kitô, để từ
đó trở nên những môn đệ nhiệt thành, sẵn sàng lên đường đem Tin Mừng đến cho
mọi người. Amen.
SUY NIỆM 3:
Khi nhìn thấy đoàn lũ dân chúng đông đảo
bao quanh mình như đoàn chiên vất vưởng không người chăn, Chúa Giê-su chạnh
lòng thương xót họ và kêu mời các môn đệ cũng như chúng ta hãy cầu xin Chúa Cha
sai thợ đến làm việc trên cánh đồng của Chúa: “Lúa chín đầy đồng, mà
thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa.”
Giờ đây, chúng ta thử đảo mắt nhìn quanh,
để xem đồng lúa chung quanh bao la rộng lớn biết chừng nào.
- Trước hết, hãy hướng tầm nhìn đến
Châu Á: đây
là lục địa mênh mông hiện có trên 4 tỷ rưỡi người sinh sống, trong đó, người
Công Giáo chỉ chiếm 3,4 phần trăm.
- Tiếp theo chúng ta nhìn về đất nước Việt
Nam chúng ta:
hiện nay dân số lên đến 100 triệu người, trong khi tín hữu Công Giáo chỉ có
khoảng 7 triệu, chiếm tỉ lệ 7 phần trăm dân số. Như vậy, vẫn còn trên 93 triệu
người trên đất nước chúng ta chưa có cơ may đón nhận Tin mừng.
- Sau hết, chúng ta nhìn vào Giáo phận Cần
Thơ thân yêu chúng ta:
Với diện tích rộng 13.257 km², trải dài qua 4 tỉnh: Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và 1 thành
phố Cần Thơ. Tổng dân số là
5.580.701 người, trong đó chỉ có 191.462 giáo dân (chiếm 3,4%
dân số). Tính trung bình cứ 100 người thì chỉ có hơn 3 người tin nhận Chúa và
chịu phép rửa, còn lại 97 phần trăm chưa đón nhận được tin mừng tình thương của
Chúa. Như thế là cánh đồng truyền giáo vẫn còn mênh mông, bát ngát. Cho
nên ngày hôm nay lới Chúa vẫn còn vang vọng tha thiết kêu gọi mỗi chúng ta hãy
cầu xin cho có nhiều sứ giả dấn thân trong sứ mạng loan báo Tin mừng.
Nếu khi xưa, Chúa Giêsu đã huấn luyện và trao
ban sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho các Tông Đồ thì ngày nay Chúa tiếp tục huấn
luyện trao ban sự mạng này cho từng người tín hữu chúng ta. Sứ mạng này chúng
ta đã lãnh nhận từ khi chịu phép rửa tội và được củng cố thêm vững mạnh nhờ bí
tích thêm sức, thì hành sứ vụ truyền giáo hay loan báo Tin mừng, đó là bổn phận
cao quý và khẩn thiết của mọi kitô hữu như lời xác quyết của GH trong công đồng
Vatican 2: “Tự bản chất GH lữ hành là truyền giáo”.
Khẩn cấp vì còn rất nhiều người chưa được
nghe tin mừng của Chúa, khẩn cấp vì vẫn còn đó những anh chị em chúng ta mãi
cho đến lúc lìa đời mà vẫn chưa biết đến một người Cha tuyệt vời là Thiên Chúa
giàu lòng thương xót. Quan trọng bởi lẽ đây là nỗi thao thức và là lệnh truyền
tâm quyết của Chúa Giêsu trước khi về trời. Ngài muốn tất cả mọi người được sum
họp với nhau trong đại gia đình Hội thánh để đón nhận được phần rỗi đời đời do
Ngài ban tặng.
Nhưng làm thế nào để chúng ta thực
hiện được sứ mạng cao quý và cấp thiết này? Thưa, sứ điệp lời Chúa trong
bài Tin mừng hôm nay gợi lên cho chúng ta một vài cách thức:
- Hãy nên giống Chúa, có trái tim biết “chạnh
lòng thương” đối với anh chị em mình, nhất là những người nghèo
khổ và bị xã hội bỏ rơi, loại trừ ra bên lề cuộc sống….
Một tác giả tưởng tượng việc Chúa chọn lựa
các tông đồ như sau: Trải qua những đêm dài cầu nguyện, Chúa Giêsu mới rảo bước
khắp nơi tìm kiếm nhưng không chọn lựa được người nào. Ngài đành đăng quảng
cáo, nhưng trong số những người đến trình diện, Ngài cũng không chọn được ai.
Ngài đành tổ chức thế vận hội. Môn đầu tiên là cầu
nguyện: nhiều người biểu diễn cầu nguyện rất hay nhưng Chúa cũng không chọn
được ai cả. Môn thứ hai là thờ phượng, cũng thế. Môn thứ ba là giảng thuyết,
cũng thế.
Chán nản vì mất giờ vô ích, Chúa Giêsu rời khỏi vận động
trường mà thả bộ ra bờ biển hóng gió và ở đây Ngài thấy một đám dân chài. Ngài
đứng quan sát và nhận ra có một số người để hết tâm vào công việc. Ngài nghĩ
thầm họ là những người có quả tim. Và thế là Ngài chọn họ làm tông đồ của
Ngài. Tên
của những tông đồ ấy đã được liệt kê trong tin mừng chúng ta vừa nghe.
- Hãy nghe theo lời Chúa dạy là cầu
xin với Chúa, là chủ của mùa gặt, vì chỉ có Chúa mới đánh động
lòng người và làm cho người khác tin Chúa mà thôi; chứ người phàm không có khả
năng làm được điều đó. Cầu xin cho có nhiều thợ gặt lành nghề sẵn sàng dấn thân
hy sinh lo cho việc truyền giáo; đồng thời, chúng ta cũng cầu xin cho những anh
chị em chưa biết Chúa biết mở lòng để đón nhận tin mừng tình thương của Chúa.
Truyện kể rằng: Một chàng thanh niên quí phái đang thong thả bước đi trên
một con đường tại vùng quê nước Ý, đi ngược chiều, có một bà già quê ăn mặc
rách rưới. Cảm động vì thân hình tiều tụy ấy, chàng thanh niên bước tới ân cần
nhã nhặn an ủi, rồi chàng lấy ví ra tặng cho bà cụ tất cả số tiền mang theo. Cử
chỉ nhân ái và món quà của chàng thanh niên đã khiến bà cụ xúc động. Biết được
chàng thanh niên đó là người Công giáo, bà hứa mỗi ngày sẽ cầu nguyện cho chàng
thanh niên ấy được làm linh mục.
Ngày tháng trôi qua, chàng thanh niên đã quên hẳn về
chuyện gặp bà cụ ấy, nhưng ít năm sau, lời cầu nguyện chân thành của bà cụ
nghèo khổ ấy đã được Chúa chấp nhận. Anh trở thành linh mục, và còn hơn thế nữa,
chàng thanh niên ngày ấy lại trở thành một Đức Giáo Hoàng thời danh, đó là Đức
Lê-ô XIII.
Vậy chúng ta hãy năng cầu xin Chúa ban cho có nhiều thợ
gặt lành nghề, nhiệt tâm làm việc trên những cánh đồng truyền giáo với niềm hy
vọng đưa dẫn nhiều linh hồn về với kho lẫm Nước Trời.
- Cuối cùng hãy làm theo ý Chúa, đó là luôn biết lắng nghe và trung
thành thực thi thánh ý Chúa trong đời sống hàng ngày, trở nên muối men và ánh
sáng cho trần đời, bởi như đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô VI đã nói
: “Người thời nay không thích những thầy dạy cho bằng nhân chứng”. Thực vậy, sứ mạng loan báo Tin mừng chỉ
mang lại kết quả tốt đẹp, khi mỗi người trong chúng ta biết nêu cao lối sống
gần gũi, hiền hòa, bao dung và nhân ái, trở nên những người dễ thương dễ mến
trong mắt mọi người.
Truyện kể rằng: Ngày kia, thánh Phanxicô Assie gọi một
thày dòng đến và bảo: Này
thày, chúng ta cùng nhau đi giảng đạo nhé.
Hai cha con ra đi, rảo qua các đường phố một vòng rồi trở
về. Thày dòng bỡ ngỡ và hỏi: Thưa cha, bao giờ chúng ta mới đi giảng đạo?
Thánh nhân trả lời: Chúng ta đã đi giảng đạo rồi đó.
Thày dòng thắc mắc: Lạ thật, mới chỉ đi một vòng phố, có nói
lời nào đâu?
Nhưng thánh nhân đã cắt nghĩa: Chúng ta đã giảng đạo bằng chính
thái độ nghiêm trang và tề chỉnh của chúng ta.
Thế giời hôm nay không thiếu những bài diễn văn hùng hồn
và nảy lửa. Thế nhưng những bài diễn văn ấy cũng chỉ là tiếng nhạc nghe thoảng
ngoài tai, không đủ sức đánh động lòng người. Thế giới hôm nay cũng không thiếu
những nhà hùng biện tài ba, nhưng người ta chỉ bị thu hút bởi những ai biết nêu
gương sáng.
Xin Chúa uốn lòng chúng ta giống như trái
tim Chúa để chúng ta cũng biết sống cho một tình yêu tự hủy (Thánh Giá),
một tình yêu tự hiến (Thánh Thể), một tình yêu tự trao ban (Thánh Tâm) như Chúa
đã dành cho nhân loại chúng ta. Sống được như thế chúng ta mới có quyền hy vọng
vào sứ vụ loan báo tin mừng của Chúa được nhiều kết quả tốt đẹp trong môi
trường xã hội hôm nay.
SUY NIỆM 3:
Bài Phúc âm hôm nay đề cập đến sứ mạng rao giảng Tin Mừng
của các Tông đồ, do chính Chúa trao ban. Sứ điệp sai đi trước tiên phát xuất từ
tâm hồn, từ cái nhìn xót thương của Chúa Giêsu trước cảnh “đàn chiên
không có kẻ chăn”, cảnh “đồng lúa chín vàng” mà thiếu thợ
gặt. Sứ điệp sai đi ấy cũng là sứ điệp của Đức Chúa Cha, là chủ của đoàn chiên,
chủ của mùa gặt. Vì thế cần phải cầu xin Ngài gửi thợ gặt đến.
Sứ điệp sai đi cũng phát xuất từ con tim của Chúa Giêsu,
“cảm xúc vì từng đoàn người yếu sức và mệt nhọc”. Đây là điểm khác biệt với các
thầy thông thái trong dân Israel. Họ chỉ đến với hạng người học thức quyền thế.
Chúa Giêsu, Ngài đến với đoàn chiên thất lạc và bị bỏ quên. Ngài tuyển chọn các
Tông đồ, không phải để học đối thoại trong các cuộc tranh luận vòng vo, mà để
cho các ông đồng lao cộng tác, chia sẻ công việc Tông đồ của Ngài.
Vì thế, Chúa chọn 12 Tông đồ. Trong khi hai vị Thánh sử
khác lập danh sách các Tông đồ khi Chúa kêu gọi họ (x. Mc 3,16-19; Lc 6,14-16),
thì Matthêô đặt vào lúc Chúa sai họ đi truyền giáo, chú trọng cách riêng đến
công vụ được trao phó.
Họ là ai? Họ là những người bình dân, được chọn không
phải vì có chút học thức, có ít địa vị, mà do một ơn đặc biệt của Chúa. Matthêô
nêu danh từng hai người một, gọi Phêrô là “người đầu tiên”, Giuđa Iscariô là
người cuối cùng, “kẻ sẽ nộp Chúa”, và không dự vào cuộc sai đi hoàn vũ (Cv
28,16). Đây là một cộng đoàn bé nhỏ đầy khuyết điểm, bất toàn, thậm
chí có người còn phạm trọng tội. Thế nhưng Đức Giêsu đã kêu gọi và tiếp nhận họ
vào chương trình chuyển trao tình yêu Thiên Chúa đến cho mọi người.
- Phêrô là người có tính khí nóng nảy
bộp chộp khác thường. Khi thì kiên vững như đá, nhưng có lúc lại mềm nhão hơn
bùn. Hôm thì thề quyết theo Chúa đến cùng, nhưng có ngày lại quá run sợ mà chối
phăng.
- Giacôbê và Gioan, con của Giêbêđê là
những người nóng nảy. Họ từng xin Chúa cho lửa trời xuống thiêu sạch bọn người
Samari hổn láo. Không những thế hai ông còn mang ít nhiều tham vọng riêng tư,
muốn được ngồi nơi những vị trí tốt nhất trong vương quốc của Đức Kitô, khiến
cho xung đột nảy sinh trong hàng ngũ tông đồ.
- Matthêô xuất thân từ tầng lớp bị xã
hội khinh khi ghét bỏ, một người bị xếp đồng hàng với gái điếm vì bán mình làm
kẻ thâu thuế cho ngoại bang.
- Simon nhiệt thành là người thuộc phái
Zealot, đang âm mưu lật đổ chính quyền đô hộ Rôma để dành lại độc lập tự do cho
dân tộc, bất chấp thủ đoạn, miễn sao đạt được mục đích chính trị là sách lược
của phái Zealot. Ấy là chưa nói đến Giacôbê con của Anphê và Thađêô là những
người dễ có khuynh hướng cực đoan quá khích.
- Tôma thì cứng lòng. Khó tin tưởng một
ai. Điều gì cũng đòi phải có chứng minh hẳn hoi, chứ "trăm nghe không bằng
mắt thấy." Còn Giuđa Iscariot, bên ngoài rất thanh liêm ngay chính, nhưng
bên trong đầy tham lam thủ đoạn, sẵn sàng phản bội để tìm kiếm lợi riêng.
Những con người thiếu sót, lầm lỗi là thế nhưng Đức Giêsu
lại triệu tập để trao cho họ một sứ mạng lớn lao. Như thế, không phải chỉ có
những ai hoàn hảo, đầy tài năng mới được mời gọi, và không phải khi nào tự thấy
xứng đáng, tôi mới lên tiếng đáp trả. Nhưng đúng hơn, tình yêu Thiên Chúa đón
nhận tất cả, dù là con người tầm thường yếu đuối, miễn sao tôi có được tâm hồn
rộng mở cho ơn Ngài.
Sau khi đã tuyển chọn, Chúa sai họ đi truyền giáo. Họ đi
từng nhóm, hỗ trợ nhau, dùng lời nói, dùng phép lạ để thuyết phục. Ở đây, Chúa
dạy các ông đi với dân Israel trước đã, đợi một ngày kia sẽ tung cánh bay đến
tận cùng thế giới: “Chúng con hãy đi giảng dạy muôn dân”. Theo vết
chân các Tông đồ, các vị thừa sai của Chúa sẽ đi tới chân trời góc bể.
Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê đến Ấn Độ. Miệng giảng Lời Chúa,
nhưng tay cầm hai ảnh tượng, một tay cầm cây Thánh giá Chúa cứu chuộc, một tay
kia cầm mẫu ảnh Đức Mẹ nhân lành, để nhờ Mẹ xoa dịu hình ảnh người con đau khổ
mà người dân chưa hiểu. Ngài Rửa tội hơn một triệu người. Và sau khi đã lập nên
Giáo Hội Nhật Bản, Ngài muốn đem Tin Mừng cho nước Tàu vĩ đại. Nhưng vừa đến
hòn đảo cửa ngỏ vào lục địa Trung Hoa thì lâm bệnh và qua đời, mình dựa vào một
gốc cây và mắt nhìn vào nước Tàu vĩ đại.
“Các con đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng
không”; “Các con hãy đi
giảng dạy muôn dân… Giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con.
Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 16,19-20).
Lạy Chúa, này con đây, hãy sai con đi vào cánh đồng lúa
của Chúa. (St).
SUY NIỆM 4: NHƯ ĐÃ DẤU YÊU TỪ THUỞ NÀO
Có
những người khi gặp nhau lần đầu lại có cảm giác như đã quen từ rất lâu. Có
những cuộc gặp gỡ làm cho người ta thấy gần gũi, thân thương đến lạ thường.
Nhạc sĩ Đức Huy đã diễn tả cảm xúc ấy trong bài hát Như Đã Dấu Yêu:
"Lần
đầu mình đến bên nhau,
Rộn
ràng như đã dấu yêu từ thuở nào."
Đó
là cảm giác của hai tâm hồn như đã thuộc về nhau từ trước.
Khi
nghe những lời ấy, tôi chợt nghĩ đến mối tương quan giữa Thiên Chúa và con
người. Bởi lẽ, trước khi chúng ta biết Chúa, thì Chúa đã biết chúng ta. Trước
khi chúng ta yêu Chúa, thì Chúa đã yêu chúng ta. Và trước khi chúng ta tìm kiếm
Chúa, thì Chúa đã đi tìm chúng ta.
Tin
Mừng hôm nay cho thấy một Thiên Chúa yêu thương con người như thế.
1.
Chúa nhìn chúng ta bằng ánh mắt của tình yêu từ muôn thuở
Thánh
Matthêu kể: "Thấy dân chúng bơ vơ vất vưởng như chiên không người
chăn dắt, Người chạnh lòng thương."
Chúa
Giêsu không nhìn đám đông như một đám người xa lạ. Người nhìn họ như những
người thân thuộc. Người thấy những nỗi đau không ai thấy. Người thấy những giọt
nước mắt chưa rơi. Người thấy những khát vọng sâu kín trong tâm hồn mỗi người.
Điều
lạ là Chúa yêu thương chúng ta ngay cả khi chúng ta chưa xứng đáng.
Bài
đọc thứ nhất cho
thấy Thiên Chúa đã chọn dân Israel không phải vì họ mạnh mẽ hay hoàn hảo, nhưng
đơn giản vì Người yêu thương họ. Cũng vậy, mỗi người chúng ta hiện diện ở đây
hôm nay không phải là một sự tình cờ.
Chúng
ta được Chúa biết đến. Được Chúa gọi tên. Được Chúa yêu thương. Có thể nói với
mỗi người chúng ta rằng: “Con không phải người xa lạ đối với Thiên Chúa. Con là
người Chúa đã dấu yêu từ thuở nào.”
2.
Chúa gọi những người Ngài yêu để cộng tác vào sứ mạng của Ngài
Sau
khi chạnh lòng thương dân chúng, Chúa Giêsu gọi mười hai tông đồ và sai các ông
lên đường. Điều đáng chú ý là các tông đồ không phải những con người xuất sắc.
Có
người là ngư phủ thất học. Có người từng làm nghề thu thuế. Có người nóng nảy.
Có người yếu đuối. Có người sau này còn chối Thầy… Thế nhưng Chúa vẫn chọn họ.
Bởi vì Chúa không chọn người tài giỏi nhất. Chúa chọn những người Ngài yêu
thương và ban ơn để họ trở nên khí cụ của Ngài.
Ngày
hôm nay cũng thế. Chúa vẫn đang gọi các linh mục, tu sĩ, giáo lý viên, các bậc
cha mẹ và từng Kitô hữu. Ngài không hỏi chúng ta hoàn hảo đến đâu. Ngài hỏi
chúng ta có sẵn sàng đáp lại tình yêu của Ngài hay không.
Sứ
mạng Kitô hữu trước hết không phải là làm việc cho Chúa, nhưng là sống như một
người được Chúa yêu.
3.
Người được yêu thì phải biết yêu
Cuối
bài Tin Mừng, Chúa căn dặn: "Các con đã lãnh nhận nhưng không thì
hãy cho nhưng không." Đó là quy luật của tình yêu.
Người
nhận được tình yêu thì phải trao ban tình yêu.
Người
nhận được lòng thương xót thì phải biết xót thương.
Người
nhận được sự tha thứ thì phải biết tha thứ.
Nếu
Chúa đã yêu chúng ta từ muôn thuở, thì chúng ta cũng được mời gọi yêu thương
anh chị em mình bằng một tình yêu quảng đại và vô vị lợi.
Trong
gia đình, hãy yêu thương nhau nhiều hơn.
Trong
giáo xứ, hãy cảm thông với nhau nhiều hơn.
Trong
xã hội, hãy biết mở rộng trái tim cho những người đau khổ, nghèo khó và bị bỏ
rơi.
Đó
là cách chúng ta đáp lại tình yêu mà Chúa đã dành cho mình.
Kính
thưa cộng đoàn,
Bài
hát Như Đã Dấu Yêu nói về một cuộc tình đẹp nhưng muộn màng.
Còn tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta không bao giờ muộn.
Ngài
đã yêu ta trước khi ta được sinh ra.
Ngài
đã nghĩ đến ta trước khi ta biết đến Ngài.
Ngài
đã gọi tên ta từ đời đời.
Mỗi
khi đến với Chúa, mỗi khi quỳ trước Thánh Thể, mỗi khi tham dự Thánh lễ, chúng
ta hãy cảm nhận rằng:
Tôi
không phải là người xa lạ với Thiên Chúa.
Tôi
là người mà Chúa đã dấu yêu từ thuở nào.
Và
chính vì được yêu như thế, tôi cũng phải biết yêu thương như Chúa đã yêu. Amen.
SUY NIỆM 5: TÌNH YÊU ĐẾN TRƯỚC VÀ KHÔNG MUỘN MÀNG
Kính
thưa cộng đoàn phụng vụ,
Nhạc
sĩ Đức Huy có một ca khúc rất nổi tiếng và quen thuộc mang tên “Như đã
dấu yêu”. Trong bài hát ấy, người ta tìm thấy một lời tự sự vừa nồng nàn
nhưng cũng vừa xót xa của một tình yêu đến muộn: "Nhưng anh ước gì
mình gặp nhau lúc em chưa ràng buộc, và anh chưa thuộc về ai... Ta đến với nhau
muộn màng cho đớn đau, một lần cho mãi nhớ thương dài lâu."
Sự
muộn màng trong tình yêu nhân thế luôn để lại những tiếc nuối và rạn vỡ. Chúng
ta ước chi mình gặp nhau sớm hơn, ước chi mọi sự hoàn hảo hơn.
Thế
nhưng, khi bước vào không gian của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay, chúng ta lại được
chiêm ngắm một tình yêu hoàn toàn ngược lại. Một tình yêu không có khái niệm
"muộn màng", một tình yêu không chờ chúng ta "hoàn hảo" hay
"chưa ràng buộc" rồi mới đến. Đó là Tình Yêu của Thiên Chúa – Đấng đã
yêu chúng ta từ thuở nào, trước khi chúng ta kịp nhận biết Ngài.
1. Thiên Chúa đã yêu ta khi ta còn là tội nhân
Trong
bài đọc II hôm nay, Thánh Phaolô
viết cho tín hữu Rôma một hiến chương tuyệt vời về tình yêu mang tính
"tiền định" này: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi
chúng ta còn là những người yếu đuối... Ngay khi chúng ta còn là tội nhân”.
Nếu
người trần thế đòi hỏi một sự xứng hợp, một thời điểm lý tưởng để đến với nhau,
thì Thiên Chúa lại chọn đến với nhân loại lúc chúng ta đang bầm dập, tội lỗi và
bất xứng nhất.
-
Ngài không đợi chúng ta thánh thiện rồi mới yêu.
-
Ngài không đợi chúng ta thanh sạch rồi mới tuyển chọn.
Hình
ảnh dân Do Thái trong bài đọc I (sách Xuất Hành) là một minh
chứng. Họ chỉ là một đám dân nô lệ vừa thoát khỏi Ai Cập, đầy phàn nàn và yếu
đuối. Vậy mà Chúa phán: “Ta đã mang các ngươi như phượng hoàng mang con
trên cánh... Các ngươi sẽ là sở hữu đặc biệt của Ta”.
Đối
với Chúa, con người luôn là một "nguồn vui", là "tất cả"
như câu hát: “Trong đôi mắt anh em là tất cả, là nguồn vui, là hạnh
phúc em dấu yêu”.
Vâng,
trong đôi mắt của Thiên Chúa, mỗi người chúng ta chính là niềm vui và hạnh phúc
của Ngài.
2. Trái tim Chạnh Lòng Thương và Tiếng Gọi Tông Đồ
Bước
vào bài Tin Mừng theo thánh Mátthêu, chúng ta thấy đỉnh cao
của tình yêu "như đã dấu yêu từ thuở nào" ấy được hiện thực hóa nơi
ánh mắt của Chúa Giêsu.
Khi
thấy đám đông dân chúng lầm than, vất vưởng như chiên không người chăn dắt,
Chúa Giêsu không trách móc, không ngần ngại. Ngài chạnh lòng thương.
Sự chạnh lòng ấy thúc bách Ngài hành động. Ngài không muốn tình yêu này dừng
lại ở một "mộng ước trong thoáng giây", mà muốn nó kéo dài mãi mãi.
Chính
vì thế, Ngài đã gọi tên 12 Tông đồ. Hãy nhìn vào danh sách 12 con người ấy:
Một
Phêrô bốc đồng, một Gioan nóng nảy.
Một
Matthêu thu thuế bị người đời khinh chê, và thậm chí có cả Giuđa Íscariốt – kẻ
phản bội.
Chúa
chọn họ không phải vì họ xuất sắc, mà vì Ngài yêu họ bằng một tình yêu có
trước. Ngài sai họ đi với một chỉ thị rõ ràng: “Anh em đã được cho
không, thì cũng phải cho không như vậy”.
Kính
thưa cộng đoàn,
Trong
bài hát của nhạc sĩ Đức Huy, vì tình yêu muộn màng và trớ trêu, người tình đành
phải thốt lên: “Anh sẽ cố quên khung trời hoa mộng... Anh sẽ cố quên
rằng mình đã đến trong nhau”. Sự quên đi ở đây là một giải pháp đầy bất lực
của con người trước nghịch cảnh. Nhưng trong đời sống đức tin, đối diện với
Tình Yêu cứu độ của Thiên Chúa, chúng ta không được phép "cố quên",
mà phải khắc ghi:
- Khắc
ghi phẩm giá của mình: Dù cuộc đời có đẩy chúng ta vào đường cùng, dù
tội lỗi có làm chúng ta hoen ố, hãy nhớ rằng trong đôi mắt Chúa, chúng ta vẫn
là "tất cả". Ngài không bao giờ hối hận vì đã yêu chúng ta.
- Khắc
ghi sứ mạng được trao: Mỗi Kitô hữu qua bí tích Rửa Tội đều là một
"tông đồ" được sai đi. Chúng ta đã nhận được tình yêu thương xót
"cho không" của Chúa từ lúc chưa ra đời, thì hôm nay, chúng ta cũng
phải đem tình yêu ấy chia sẻ "cho không" cho những người xung quanh –
những người đang lầm than, cô độc ngay bên cạnh chúng ta.
Lạy
Chúa, tình yêu của thế gian có thể muộn màng, có thể mang lại đớn đau và nuối
tiếc. Nhưng Tình Yêu của Chúa dành cho chúng con là tình yêu vĩnh cửu, có trước
mọi thời gian, "nồng nàn như đã dấu yêu từ thuở nào".
Xin cho chúng con khi rước Chúa Giêsu Thánh Thể vào lòng hôm nay, biết để cho ánh mắt thương xót của Ngài biến đổi. Để rồi, khi bước ra khỏi ngôi thánh đường này, chúng con không còn sống ích kỷ, nhưng biết trao ban tình yêu, sự bao dung và niềm hy vọng cho một thế giới đang rất cần lòng thương xót của Chúa. Amen.
SUY NIỆM 6: NHÌN BẰNG ĐÔI MẮT CỦA CHÚA GIÊSU
Nhạc sĩ Quang
Dũng trong bài hát Đôi Mắt
đã viết những câu rất đẹp:
"Mẹ cho
em đôi mắt sáng ngời
Để nhìn đời và
để làm duyên...
Đôi mắt em là
cửa ngõ tâm hồn..."
Đôi mắt không
chỉ để nhìn. Đôi mắt còn phản chiếu tâm hồn, phản ánh cách chúng ta cảm nhận và
đối xử với cuộc đời. Cùng một sự việc, nhưng mỗi người nhìn khác nhau. Có người
nhìn thấy cơ hội, có người chỉ thấy khó khăn. Có người nhìn thấy điều tốt đẹp
nơi tha nhân, có người chỉ thấy những khuyết điểm.
Tin Mừng hôm
nay cho chúng ta chiêm ngắm đôi mắt của Chúa Giêsu. Đó là đôi mắt đầy lòng
thương xót.
Thánh Matthêu
kể rằng: "Thấy dân chúng,
Người chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên không người
chăn dắt."
Chỉ một chữ
"thấy" thôi, nhưng đó không phải là cái nhìn hời hợt bên ngoài. Đó là
cái nhìn đi sâu vào nỗi đau của con người.
1. Đôi mắt biết nhìn thấy nỗi khổ của tha
nhân
Nhiều người
trong chúng ta có mắt nhưng chưa chắc đã nhìn thấy.
Ta thấy người
nghèo ngoài đường nhưng vội quay đi.
Ta thấy người
thân đang buồn nhưng không quan tâm.
Ta thấy những
bất hòa trong gia đình nhưng ngại lên tiếng hòa giải.
Ngược lại,
Chúa Giêsu nhìn thấy những điều mà người khác không thấy. Người nhìn thấy nỗi
cô đơn sau nụ cười, nhìn thấy sự mệt mỏi sau những cố gắng, nhìn thấy những vết
thương sâu kín trong tâm hồn con người.
Chính vì thấy
nên Người chạnh lòng thương.
Tình yêu luôn
bắt đầu từ một cái nhìn.
Nếu đôi mắt
của chúng ta biết nhìn người khác bằng lòng cảm thông, thế giới sẽ bớt đi rất
nhiều đau khổ.
2. Đôi mắt biết nhận ra cánh đồng truyền giáo
Sau khi nhìn
thấy đám đông dân chúng, Chúa Giêsu nói: "Lúa
chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít."
Người khác
nhìn thấy đám đông.
Chúa Giêsu
nhìn thấy một cánh đồng.
Người khác
nhìn thấy những con người bình thường.
Chúa Giêsu
nhìn thấy những linh hồn cần được cứu độ.
Ngày nay, cánh
đồng truyền giáo vẫn đang trải rộng trước mắt chúng ta:
Đó là những
người trẻ đang mất phương hướng.
Đó là những
gia đình đang rạn nứt.
Đó là những
người nghèo khổ, bệnh tật, cô đơn.
Đó là những
anh chị em chưa biết Chúa hoặc đang xa Chúa.
Vấn đề không
phải là cánh đồng không có, nhưng là chúng ta có nhìn thấy hay không.
Có một câu nói
rất hay: "Điều quan trọng
không phải là chúng ta nhìn gì, nhưng là chúng ta nhìn như thế nào."
Khi mang đôi
mắt của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ nhận ra biết bao cơ hội để yêu thương và phục
vụ.
3. Đôi mắt biết trao ban và lên đường
Tin Mừng hôm
nay không dừng lại ở cái nhìn.
Sau khi thấy
và thương, Chúa Giêsu sai các môn đệ lên đường.
Người trao cho
các ông quyền năng để chữa lành bệnh tật, xua trừ ma quỷ và loan báo Tin Mừng.
Người môn đệ
đích thực không chỉ biết nhìn nhưng còn biết hành động.
Nhìn thấy
người nghèo để giúp đỡ.
Nhìn thấy
người đau khổ để an ủi.
Nhìn thấy
người lầm lạc để cầu nguyện.
Nhìn thấy công
việc của Giáo Hội để quảng đại cộng tác.
Đức tin không
chỉ ở trong nhà thờ nhưng phải được thể hiện bằng những việc làm cụ thể mỗi
ngày.
Kính thưa cộng
đoàn,
Bài hát Đôi Mắt ca ngợi đôi mắt có
thể nhìn thấy vẻ đẹp của quê hương, tình bạn và tình yêu.
Hôm nay, Chúa
Giêsu mời gọi chúng ta có một đôi mắt còn đẹp hơn thế nữa: đôi mắt biết nhìn
bằng trái tim của Người.
Xin Chúa cho chúng
ta có đôi mắt biết nhìn thấy nỗi đau của anh chị em mình.
Xin cho chúng ta có đôi mắt biết nhận ra cánh
đồng truyền giáo đang chín vàng quanh ta. Và xin cho chúng ta có đôi mắt biết
nhìn để yêu thương, biết thấy để phục vụ và biết lên đường để loan báo Tin
Mừng.
Để mỗi ngày sống của chúng ta trở thành phản
chiếu đôi mắt đầy lòng thương xót của Chúa Giêsu giữa thế giới hôm nay. Amen.
SUY NIỆM
7: ĐÔI MẮT CỦA LÒNG TRẮC ẨN
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,
Nhạc sĩ Quang Dũng trong
một ca khúc rất quen thuộc đã ca ngợi rằng: "Mẹ cho em đôi mắt sáng
ngời / Để nhìn đời và để làm duyên... Đôi mắt em là cửa ngõ tâm hồn, là bài thơ
hay nhất, là lời ca không dứt, là tuyệt tác của thiên nhiên."
Quả thật, đôi mắt là món quà kỳ diệu mà Thiên
Chúa ban tặng cho con người qua đấng sinh thành. Đôi mắt không chỉ dùng để nhìn
đường đi, để phân biệt màu sắc, mà còn là nơi biểu lộ mọi cung bậc cảm xúc: "để thương để nhớ, để ghen, để
hờn". Đôi mắt giúp chúng ta "giữa dòng đời nhìn rõ đục trong", nhận
biết bạn – thù, và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của quê hương, đất nước.
Thế nhưng, trong đời sống
đức tin, chúng ta không chỉ nhìn bằng đôi mắt thể lý. Hôm nay, Lời Chúa mời gọi
chúng ta hướng nhìn vào một đôi mắt tuyệt vời hơn thế: Đôi mắt của Chúa Giêsu.
1. Thấu cảm: Đôi mắt nhìn
thấu nỗi đau nhân thế
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay khắc
họa cho chúng ta hình ảnh Chúa Giêsu khi Ngài đi qua các thành thị và làng mạc.
Khi nhìn vào đám đông dân chúng, Ngài đã nhìn bằng một đôi mắt rất khác:
- Không phải đôi mắt soi mói, xét đoán:
Ngài không nhìn để tìm lỗi lầm hay để "ghen hờn" như người đời.
- Đôi mắt của lòng trắc ẩn: Tin Mừng
ghi rõ: "Đức Giêsu
thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên
không người chăn dắt".
Nếu bài hát nói rằng đôi mắt giúp ta "nhìn rõ đục trong",
thì Chúa Giêsu đã nhìn thấu suốt cái "đục" của kiếp người – những đau
khổ, bệnh tật, sự bơ vơ và tội lỗi của nhân loại. Ngài không ngoảnh mặt làm
ngơ. Đôi mắt Ngài rực sáng tình yêu, rọi vào những góc tối tăm, sương mờ của
cuộc đời để mang lại niềm hy vọng. Đôi mắt ấy chính là "cửa ngõ tâm hồn" của Thiên Chúa – một
Thiên Chúa giàu lòng thương xót.
2. Hành động: Từ
"Nhìn thấy" đến "Chạnh lòng thương"
Nhạc sĩ Quang Dũng viết: "Đôi
mắt em để nhìn rõ quân thù / Nhìn tình bạn tươi thắm / Nhìn người yêu say
đắm..."
Với Chúa Giêsu, Ngài không nhìn ai là quân
thù cần tiêu diệt. Ngài nhìn mọi người bằng ánh mắt của "người yêu say đắm"
đối với nhân loại. Chính từ ánh mắt "chạnh lòng thương" ấy, Ngài đã
biến tình yêu thành hành động:
- Ngài mời gọi cầu nguyện: "Lúa chín đầy đồng mà thợ
gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về."
- Ngài sai đi: Ngài gọi 12 môn đệ, ban
quyền năng và sai các ông đi đến với những con chiên lạc. Ngài muốn các môn đệ
trở thành cánh tay nối dài, và quan trọng hơn, trở thành "đôi mắt thứ hai"
của Ngài giữa trần gian.
Anh chị em thân mến,
Chúng ta đang sống trong
năm 2026, một thời đại mà con người dễ bị cuốn vào những "màn hình
phẳng" của điện thoại, máy tính. Chúng ta nhìn vào thế giới ảo rất nhiều,
nhưng lại thiếu đi cái nhìn sâu sắc vào thế giới thật xung quanh. Đôi khi, đôi
mắt của chúng ta chỉ dùng để tìm kiếm lợi lộc, hoặc để "ghen, để hờn" trước sự thành công của tha
nhân.
Lời Chúa hôm nay và lời
bài hát "Đôi Mắt"
như một lời tỉnh thức:
- Nhìn lại chính mình: Đôi mắt Chúa ban cho chúng ta có đang mở ra
để "nhìn tình bạn tươi
thắm", để xây dựng sự hiệp nhất, hay đang khép lại trong sự ích kỷ?
- Nhìn ra tha nhân: Xung quanh chúng ta vẫn còn biết bao người
"lầm than vất vưởng". Đó có thể là người đau ốm ngay bên cạnh nhà,
một người bạn đang tuyệt vọng, hay chính người thân trong gia đình đang cần một
ánh mắt thông cảm, sẻ chia.
Chúa đã ban cho chúng con đôi mắt thể lý để nhìn ngắm "tuyệt tác của thiên nhiên".
Xin ban thêm cho chúng con đôi mắt đức tin và lòng mến. Xin Chúa chữa lành những mù lòa trong tâm hồn chúng ta, để mỗi ngày bước ra đời, chúng ta biết nhìn anh chị em bằng ánh mắt chạnh thương của Chúa. Để từ ánh mắt ấy, chúng ta biết đưa tay ra nâng đỡ, ủi an, và trở thành những thợ gặt nhiệt thành trong cánh đồng truyền giáo của Ngài. Amen.
Thứ hai: 1V 21,1-16; Mt 5,38-42
SUY NIỆM 1:
Chúa Giêsu khẳng định: “Ta đến để kiện toàn lề
luật và các tiên tri.” Do tác động thay đổi của xã hội qua dòng thời
gian, nhất là vào thời Chúa Giêsu, các nhà lãnh đạo tôn giáo đã có sự giải
thích sai lệch về lề luật Chúa nên cần phải kiện toàn.
Trong những đoạn Tin mừng trước, Matthêu cho biết Chúa
Giêsu đã kiện toàn khá nhiều luật như: luật giết người, luật đơn hôn và vĩnh
hôn, luật thề hứa…tiếp tục hôm nay là luật báo oán.
Theo lẽ công bằng thì: "hòn đá ném đi, thì hoàn chì
ném lại; hay bánh ếch đi thì bánh quy lại"…đã trở thành nguyên tắc và lẽ
sống tự nhiên trong xã hội.
Trong sách Lêvi cũng dạy rằng: “người nào đả
thương đến sinh mạng người khác tất phải chết, người nào gây thương tích cho
người khác, nó đã làm sao thì người ta sẽ làm cho nó như vậy: gãy đền gãy, mắt
đến mắt, răng đền răng.” (Lv 24, 17-20).
Nhưng đối với tinh thần Kitô giáo, cách hành xử với
nhau không chỉ dựa trên lẽ công bằng mà còn phải được đặt trên nền tảng của bác
ái nữa. Vì thế, nếu trả thù theo lẽ công bằng thì tiếp tục gây thêm oán thù
chồng chất “oán báo oán, oán chồng chất”. Do đó, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta
hãy bao dung và tha thứ cho nhau. Chẳng những tha thứ mà còn tích cực làm ơn
cho những ai làm hại chúng ta nữa vì “lấy ơn trả oán, oán tiêu tan”.
Tha thứ cho những ai làm tổn thương ta đã là khó, làm ơn
cho kẻ hại ta quả là điều không dễ chút nào với sức tự nhiên của con người.
Nhưng đó lại là điều có thể với ơn ban của Chúa.
Xin Chúa thêm sức mạnh cho chúng ta, để ta đủ can đảm thi
hành điều Chúa chỉ dạy là tha thứ và làm ơn cho hết mọi người, nhất là những ai
gây đau khổ cho chúng ta.
SUY NIỆM 2: VƯỢT THẮNG SỰ DỮ BẰNG ĐIỀU THIỆN
Lời
Chúa hôm nay đặt trước mắt chúng ta hai cách hành xử hoàn toàn trái ngược nhau.
Trong
bài đọc I, chúng ta chứng kiến lòng
tham và sự độc ác của hoàng hậu Giêdaben. Chỉ vì muốn chiếm đoạt vườn nho của
ông Nabốt, bà đã dùng quyền lực, vu khống người vô tội và cuối cùng đẩy ông đến
cái chết. Một lòng tham nhỏ bé đã dẫn đến một tội ác lớn lao.
Trong
Tin Mừng, Chúa Giêsu lại dạy một
con đường hoàn toàn khác: “Đừng chống cự người ác; trái lại, nếu ai vả
má bên phải, thì hãy giơ cả má bên kia nữa.”
Thoạt
nghe, lời dạy này có vẻ khó hiểu. Chúa Giêsu không cổ võ sự hèn nhát, cũng
không khuyến khích để cho sự dữ lộng hành. Điều Người muốn dạy là: đừng lấy sự
dữ đáp lại sự dữ, đừng lấy hận thù nuôi dưỡng hận thù.
Giêdaben
chọn con đường của quyền lực, bạo lực và ích kỷ. Chúa Giêsu chọn con đường của
yêu thương, tha thứ và quảng đại. Một bên làm phát sinh cái chết; bên kia đem
lại sự sống.
Trong
cuộc sống hằng ngày,
nhiều khi chúng ta cũng dễ mang tâm trạng: “Ai đối xử với tôi thế nào, tôi sẽ
đối xử lại như vậy.” Một lời nói xúc phạm kéo theo một lời xúc phạm khác; một
sự tổn thương dẫn đến một sự trả đũa khác. Kết quả là vòng xoáy hận thù cứ tiếp
tục lan rộng.
Chúa
Giêsu mời gọi các môn đệ sống khác. Người muốn chúng ta có một trái tim tự do
đến mức không để sự ác điều khiển phản ứng của mình. Người mạnh nhất không phải
là người trả đũa được, nhưng là người biết làm chủ bản thân và biết tha thứ.
Thánh
Phaolô sau này đã
diễn tả tinh thần ấy bằng một câu rất đẹp: “Đừng để sự ác thắng được
mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác.”
Chúa
Giêsu đã chiến thắng sự dữ không bằng bạo lực nhưng bằng tình yêu. Xin cho
chúng ta biết làm chủ cơn nóng giận, biết từ bỏ tinh thần trả đũa và biết lấy
điều thiện đáp lại điều ác. Xin cho đời sống chúng ta trở thành dấu chỉ của
lòng thương xót và bình an giữa thế giới còn nhiều hận thù hôm nay. Amen.
Thứ ba: 1V 21,17-29; Mt 5,43-48
SUY NIỆM 1:
Tiếp tục là đề tài kiện toàn lề luật và các lời tiên tri,
tin mừng hôm nay cho biết Chúa Giêsu kiện toàn luật báo oán bằng luật yêu
thương và nâng luật yêu thương lên một tầm mức hoàn hảo. Xin Chúa uốn lòng
chúng ta theo trái tim của Chúa để chúng ta biết yêu thương mọi người "như
Chúa yêu" chúng ta.
Tất cả các lề luật đều được tóm lược vào 1 điều duy nhất
là "yêu thương". Nhưng yêu ai? và yêu như thế nào? đó là điều mà sứ
điệp lời Chúa muốn đề cập trong bài Tin mừng hôm nay.
“Tình Yêu” chính là luật điều quan trọng nhất mà TC
đã truyền dạy nhân loại trong thời Cựu ước qua sách Đệ-nhị-luật và Lê-vi: “Yêu
Chúa hết lòng hết linh hồn hết trí khôn và yêu tha nhân như chính mình”.
Với người Do Thái, người thân cận là những người cùng
huyết thống, cùng màu da, cùng tôn giáo, cùng tộc chủng mình…, còn những người
vượt ra ranh giới và quy định giới hạn ấy thì họ xem là người xa lạ, không phải
là đối tượng để họ yêu thương.
Bởi thế Chúa Giêsu đã chấn chỉnh lại ý hướng sai lệch của
họ bằng cách cho biết rằng mọi người đều được Thiên Chúa dựng nên giống hình
ảnh Ngài nên tất cả đều là con cái của Chúa, và là anh em với nhau. Cho nên đối
tượng của tình yêu phải là phổ quát, nghĩa là yêu hết mọi người không trừ ai
cả.
Vì vậy, để xứng đáng trở thành môn đệ Chúa Giê-su thì
điều căn bản là ta phải “yêu như Chúa yêu” (x. Ga 15,12). Đó
là một tình yêu tự hủy (Thập Giá), tình yêu dâng hiến (Thánh Thể) và tình yêu
trao ban (Thánh Tâm). Chính khi chúng ta biết "yêu như Chúa
yêu" như thế, ta mới trở nên người công chính và xứng danh là con
của Chúa.
Xin Chúa ban ơn giúp sức để chúng ta biết "yêu như
Chúa yêu", ngay cả những ai làm hại chúng ta.
SUY NIỆM 2: YÊU NHƯ THIÊN CHÚA YÊU
Lời
Chúa hôm nay đưa chúng ta đến với một trong những đòi hỏi cao nhất của Tin
Mừng: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh
em.” (Mt 5,44)
Đây
không chỉ là một lời khuyên đạo đức, mà là một lối sống làm nên nét độc đáo của
người môn đệ Đức Kitô.
1. Thiên Chúa không muốn kẻ tội lỗi phải chết
Trong
bài đọc I, sau khi vua Akháp cướp
đoạt vườn nho và gián tiếp gây ra cái chết của ông Nabốt, Thiên Chúa sai ngôn
sứ Êlia đến tố cáo tội lỗi của nhà vua.
Akháp
quả thực đáng bị trừng phạt. Thế nhưng điều đáng ngạc nhiên là khi nghe lời
cảnh báo, ông đã ăn chay, mặc áo nhặm và tỏ lòng thống hối. Trước sự hoán cải
ấy, Thiên Chúa liền nói với Êlia: “Ngươi có thấy Akháp đã hạ mình trước
mặt Ta không? Vì nó đã hạ mình trước mặt Ta, nên Ta sẽ không giáng tai họa ấy
trong đời nó.”
Qua
đó, chúng ta nhận ra một chân lý quan trọng: Thiên Chúa công minh nhưng cũng
rất giàu lòng thương xót. Ngài ghét tội lỗi nhưng luôn yêu thương người tội lỗi
và mong họ trở về.
2. Yêu kẻ thù là yêu như Thiên Chúa
Trong
Tin Mừng, Chúa Giêsu đưa luật
yêu thương lên tới đỉnh cao: “Anh em hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho
những kẻ ngược đãi anh em.”
Theo
lẽ tự nhiên, chúng ta dễ yêu người yêu mình, dễ giúp đỡ người tốt với mình.
Nhưng yêu người làm tổn thương mình lại là điều rất khó.
Chính
vì thế, Chúa Giêsu đưa ra mẫu gương là chính Thiên Chúa: “Người cho mặt
trời mọc lên trên kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công
chính cũng như kẻ bất chính.”
Tình
yêu của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi công trạng hay lỗi lầm của con người.
Ngài vẫn ban ơn, vẫn kiên nhẫn chờ đợi, vẫn mở ra cơ hội cho người tội lỗi hoán
cải.
Yêu
kẻ thù không có nghĩa là đồng tình với điều xấu hay bỏ qua công lý. Nhưng đó là
từ chối nuôi dưỡng hận thù, từ chối trả đũa và vẫn mong điều tốt lành cho người
đã làm hại mình.
3. Sự hoàn thiện của người Kitô hữu
Tin
Mừng kết thúc bằng
một lời mời gọi rất mạnh mẽ: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em
trên trời là Đấng hoàn thiện.”
Sự
hoàn thiện mà Chúa Giêsu nói đến không phải là không bao giờ sai lỗi. Chỉ mình
Thiên Chúa mới hoàn hảo tuyệt đối.
Sự
hoàn thiện của người Kitô hữu là biết yêu thương ngày càng giống Thiên Chúa
hơn: yêu thương không tính toán, tha thứ không giới hạn, quảng đại không điều
kiện.
Thánh
nhân không phải là người không bao giờ bị xúc phạm, nhưng là người biết tha
thứ. Thánh nhân không phải là người không có kẻ thù, nhưng là người biết cầu
nguyện cho kẻ thù.
Tha
thứ không làm cho người khác trở nên đúng, nhưng giúp tâm hồn chúng ta được tự
do. Yêu thương không làm mất đi phẩm giá của mình, nhưng giúp chúng ta trở nên
giống Thiên Chúa hơn.
Xin
Chúa cho chúng ta có một trái tim giống trái tim Chúa. Khi bị xúc phạm, xin cho
chúng ta biết tha thứ. Khi bị hiểu lầm, xin cho chúng ta biết cầu nguyện. Khi
gặp những người khó thương, xin cho chúng ta vẫn biết yêu thương như Chúa đã
yêu. Nhờ đó, đời sống chúng ta trở thành chứng tá sống động cho lòng thương xót
vô biên của Thiên Chúa giữa thế giới hôm nay. Amen.
SUY NIỆM 3: CẤP ĐỘ CỦA TÌNH YÊU
Khởi đầu thông điệp “Deus caritas est”, Đức thánh cha
Benedicto XVI đã mượn lời của thánh Gioan tông đồ để nói lên chủ đề của thông
điệp “Thiên Chúa Là Tình Yêu” (Ga 4,8); tâm điểm của tình
yêu “ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở
lại trong người ấy” (Ga 4,16). Đây cũng là cốt lõi, là trọng tâm
và là nền tảng đức tin Kitô giáo, bởi trước khi về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu đã
xây dựng Giáo hội dựa trên nền tảng của tình yêu “Chúa Cha đã yêu
mến Thầy thế nào, thì Thầy cũng yêu mến anh em như vậy” (Ga
15,9), và trao ban cho Giáo hội một điều luật được gọi điều răn mới: “Anh
em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12).
Khi nói đến tình yêu, người Hy Lạp cổ đại xác định bốn hình thức của
tình yêu: quan hệ gần gũi của họ hàng hay người thân Storge, tình bạn Philia,
ham muốn tình dục hoặc cảm xúc lãng mạn Eros, và xúc cảm dành cho các giá trị
tôn giáo Agape.
Khi giáo huấn cho các môn đệ về tình yêu, chắc hẳn
Chúa Giêsu không nhắm đến Stoge, Philia hay Eros mà là Agape. Bởi Agape là
cách diễn tả tình yêu đích thực, hiến dâng trọn vẹn, đặt trên nền tảng
đức tin và được nhào nặn bởi đức tin: “Không có tình yêu nào cao
cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình” (Ga
15,12).
Eros là tình yêu không mang hình bóng sự hiến dâng, lòng
vị tha mà là tình yêu vụ lợi, là sự ham muốn, một tình cảm lôi cuốn của người
khác. Eros là một khát vọng, một sự thèm muốn để chiếm đoạt. Eros như những nấc
thang giúp con người đi từ thế giới khả giác đến thế giới tâm linh.
Trong thông điệp Thiên Chúa là tình yêu, Đức thánh cha
Benedicto XVI đã sử dụng động từ Eros rất nhiều lần để so sánh sự khác biệt,
trái nghịch nhau giữa Agape và Eros: “Agape tình yêu đi xuống và dâng
hiến, Eros không thuộc về Kitô giáo, thuộc văn hoá Hy Lạp, là tình
yêu đi lên và ham muốn” (số 7).
Philia là tình yêu thường dùng để chỉ tình bạn, tình bạn
này chỉ căn cứ ở sự hợp tính nhau, nó giới hạn trong một số người. Tình yêu của
người Kitô hữu có sức mạnh phi thường vượt lên trên mọi thứ tình cảm của Eros
và Philia đó chính là Agape.
Agape là tình yêu của lòng bác ái, trắc ẩn, vị tha, vô vị
lợi, tự do và dựa trên sự tín nhiệm, không căn cứ ở mức độ đo lường, cân, đo,
đong, đếm. Tình yêu Agape không lệ thuộc cảm tính, không phân biệt chủng tộc,
màu da, giai cấp, ngôn ngữ hay tôn giáo. Một tình yêu mở ra cho hết thảy mọi
người, một tình yêu san bằng mọi hố sâu ngăn cách, dẹp bỏ mọi rào cản trở để
tôi tớ trở thành bạn hữu, người xa lạ trở thành thân quen. Tình yêu Agape không
dừng lại nơi đồng loại mà yêu cả thú vật cũng như môi trường, một tình yêu phổ
quát không biên giới.
Chúa Giêsu đã đi bước trước, Ngài từ bỏ địa vị Thiên Chúa
đến với con người bằng con đường tình yêu để cảm thông, chia sẻ phận người và
chết cho tình yêu: “Ngài đã yêu và yêu cho đến cùng” (Ga
13,15). Là Kitô hữu, chúng ta không thể sống đức tin mà không thể hiện tình
yêu, “vì tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa” (Ga 4,7). Vả lại ai
nói rằng: “Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là
kẻ nói dối” (Ga 4,20).
Lại nữa, ai tin vào Chúa Giêsu Kitô sẽ nhận được sức mạnh
yêu thương từ trái tim của Ngài. Yêu thương trước tiên là ơn ban của Thiên
Chúa, thứ đến là cảm thông, chia sẻ, thứ tha và thông ban.
Yêu thương là cốt lõi, là linh hồn của của đời sống đức
tin. Chính vì lẽ đó, khi giáo huấn cho các đan sĩ, cha Henri Denis Benoit Thuận
nhấn mạnh đến tình yêu trong đời sống cộng đoàn như sau: “Cái đạo ăn chay,
cái đạo đánh tội, cái đạo Chầu Thánh Thể, cái đạo ấy dễ mà không chắc chi; còn
cái đạo yêu thương anh em, đạo ấy thì chắc là đạo” (Di Ngôn, số
12). Qủa thật, khi chúng ta trao cho nhau tình yêu chân thật, khi đó chúng
ta mới thực sự là người môn đệ của Đức Kitô: “Mọi người sẽ nhận biết
anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này; là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga
13,35).
Mặt khác, yêu thương nhau không chỉ là trở nên bạn hữu,
mà còn là chi thể, là anh em trong Chúa Kitô. Là con người, ai cũng biết yêu
thương, bao lâu con tim còn đập là bấy lâu vẫn phải yêu: “Ai không yêu
thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga
4,8). Khi nói như vậy để ta thấy rằng yếu tố mến Chúa như là căn nguyên của
lòng yêu người. Người Kitô hữu nhìn thấy Chúa trong người anh em. Vậy đối tượng
của đức mến là Thiên Chúa và tha nhân là tạo vật của Người.
Tình yêu Agape không nằm trong sự chiếm hữu mà là sự cho
đi. Thiên Chúa là tình yêu cho đi một cách trọn vẹn nhất. Tình yêu Agape xuất
phát từ Thiên Chúa, nó không đòi hỏi một sự đáp đền, Agape là tình yêu dâng
hiến hoàn toàn và trọn vẹn cho tha nhân, tình yêu vô vị lợi. Chính tình yêu
Agape đã làm cho Đức Giêsu chịu chết trên thập giá để mang lại ơn cứu độ cho
con người.
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta đó là bước đi
trên con đường tình yêu, mỗi chúng ta được mời gọi trở nên chứng nhân tình yêu
của Thiên Chúa trong môi trường chúng ta đang sống. Như tình yêu của Chúa Cha
dành cho Chúa Con và như tình yêu chúng ta nhận được từ Chúa Con, chúng ta có
nghĩa vụ “dâng tặng” lại cho tha nhân. Và một khi chúng ta đáp lại tình yêu của
Thiên Chúa và thực thi giới luật yêu thương đối với mọi người, là chúng ta đang
được hưởng niềm vui Chúa hứa ban như phần thưởng lớn lao vì đã ở lại trong tình
thương của Ngài. (St).
BÀI ĐỌC THÊM: 7 LOẠI TÌNH YÊU MÀ CHÚNG TA THƯỜNG TRẢI QUA
TRONG ĐỜI
Trong tâm lý học tình yêu, những kiểu yêu mà chúng ta
trải qua trong cuộc sống có thể được phân chia làm 7 loại như sau. Bạn đã từng
trải qua tình yêu nào rồi?
Khi nói về tình yêu trong thời hiện đại, chúng ta thường
liên tưởng ngay đến khái niệm khá chung chung tình yêu lãng mạn (romantic
love). Có lẽ vì các lĩnh vực có sức ảnh hưởng tinh thần lớn là văn học, âm nhạc
và điện ảnh thường tập trung khai thác kiểu tình yêu này, vô hình trung chiếm
lấy sự chú ý cho các kiểu còn lại.
Chúng ta gặp nhiều người trong cuộc sống, hiển nhiên cũng
sẽ trải qua nhiều kiểu yêu thương khác nhau. Theo quan điểm của người Hy Lạp cổ
đại, tình yêu mà chúng ta thường trải qua trong cuộc sống được phân chia làm 7
loại như sau. (Nguồn: Psychlogy Today)
1. Eros-Tình yêu đam mê
Eros là tình yêu đam mê, hay sự gắn bó có sức hấp dẫn về
tình dục. Đây là loại tình yêu gần nghĩa nhất với quan niệm tình yêu lãng mạn
thời hiện đại. Cái tên Eros bắt nguồn từ tên thần tình ái trong thần thoại Hy
Lạp (tương tự như thần Cupid trong thần thoại La Mã). Động cơ của Eros có sự
tương đồng với quan điểm ý chí của nhà triết học Schopenhauer rằng: thế giới
bắt nguồn từ bản năng vô thức nhằm tồn tại và duy trì nòi giống của con người.
Eros thường bị nhầm lẫn rằng bắt buộc phải có yếu tố tình
dục. Tuy nhiên, đó chỉ là một yếu tố vật lý gia tăng đam mê giữa hai bên và
hoàn toàn không phải hấp dẫn về tình yêu lãng mạn (romantic attraction). Do vậy
những người vô tính (asexual) vẫn trải qua tình yêu Eros bình thường.
2. Philia-Tình bạn
Philia là tình bạn, và nền tảng của tình yêu này là sự
chia sẻ thiện chí với nhau. Trong một bài đăng trên trang Insider, nhà triết
học Aristole cho rằng bạn có thiện chí làm bạn với ai đó vì một trong ba lý do
sau:
· Người đó hữu ích cho bạn (giá trị lợi ích)
· Người đó đem lại cảm xúc vui sướng cho bạn
(giá trị tinh thần)
· Trên tất cả, đó là một người tốt cho bạn
(tổng hòa của 2 yếu tố trên)
Trong đó, tình bạn vì lý do cuối cùng mang lại giá trị và
sự gắn bó cao nhất trong loại tình yêu Philia này. Khi tình cảm vững bền, những
lợi ích chung (công việc, tài chính, mối quan hệ,…) sẽ xuất hiện như những hệ
quả tích cực.
Ngoài ra, Philia còn là chất keo gia cố và bồi đắp tình
yêu Eros bền vững hơn. Tình bạn làm giảm đi ham muốn sở hữu nhau để thỏa mãn
cái tôi và biến chuyển thành mong muốn được thấu hiểu mỗi bên lẫn thế giới xoay
quanh ở mức độ sâu sắc hơn.
3. Storge-Tình cảm gia đình
Storge là tình cảm gia đình (còn gọi là tình thân) — là
một loại Philia nhưng trong các mối quan hệ gia đình (thường là cha mẹ, con
cái, anh chị em, thú cưng). Khác với Eros hay Philia, Storge không phụ thuộc
quá nhiều vào phẩm chất cá nhân của mỗi người để bắt đầu hay duy trì.
Rộng hơn, tình yêu gia đình là
tình cảm được xây dựng từ sự thân thuộc, che chở nhau của con người. Vì vậy mà
tình yêu gia đình không nhất thiết phải giữa những người có huyết thống với
nhau.
Đây cũng là một bước phát triển về tình yêu của các cặp
đôi Eros. Khi sự bổ sung và vun đắp tình cảm giữa hai bên đến một mức độ trưởng
thành, tình ái sẽ dần chuyển thành tình thân. Đó cũng chính là nền tảng của một
mối quan hệ bền lâu.
4. Agape-Lòng bác ái
Tha thứ cho bản thân mình, nghĩ đến những người liên quan
khi hành động, cống hiến cho sự phát triển của cộng đồng, tất cả đều là biểu
hiện của Agape mà bạn có thể đã từng trải qua.
Agape là tình yêu cho vạn vật, cụ thể là những khái niệm
vĩ mô hơn như tình yêu đồng bào, đất nước, thiên nhiên hay thần linh. Một cách
gọi khác của Agape theo các nhà tư tưởng Cơ đốc là lòng bác ái, khi tình thương
yêu chuyển thành lòng vị tha với vạn vật xung quanh. Không giống như Storge,
Agape không dựa trên mối quan hệ huyết thống hay gia đình, dù hai loại tình yêu
này có mặt tương đồng về biểu hiện.
Lòng vị tha là một loại tình yêu tối quan trọng trong
việc nâng cao chất lượng sống của chúng ta vì nó nuôi dưỡng tâm lý của cá nhân,
xã hội và nhận thức về môi trường. Đặc biệt trong bối cảnh nhiễu động về nhận
thức của xã hội như hiện nay, tất cả những gì chúng ta cần đôi khi chỉ là lòng
vị tha cho nhau.
5. Ludus-Tình cảm bông đùa
Các mối quan hệ tình một đêm (one night stand), friends with benefit là
ví dụ điển hình của tình yêu Ludus. Đây là loại tình cảm không có bất cứ ràng
buộc gì và chỉ đơn thuần “vui là chính”, hoặc đôi khi để thỏa mãn bản năng
chinh phục. Ngoài ra, các dạng nhẹ nhàng hơn của Ludus là khi bạn trêu đùa,
nhảy múa cùng nhau. Trọng tâm của tình cảm này luôn là niềm vui.
Ludus là một tình yêu đơn giản, không đòi hỏi và chỉ là
hấp dẫn tình ái đơn thuần. Kiểu tình yêu này sẽ diễn ra thuận lợi nhất khi đôi
bên đều đã trưởng thành và tự chủ tốt cảm xúc của chính mình. Những vấn đề phát
sinh xoay quanh Ludus thường là khi một bên muốn chuyển từ Ludus sang Eros
(tình yêu có gắn bó), trong khi Ludus lại tương thích nhiều hơn với Philia
(tình bạn).
6. Pragma-Tình cảm lý trí
Pragma là một loại tình cảm thực tế, thậm chí là thực
dụng vì lợi ích chung nào đó. Trong tình yêu này, tất cả hấp dẫn về lãng mạn,
tình dục chỉ là yếu tố phụ vì Pragma tập trung vào việc đạt được những mục đích
đã được đề ra. Những mối quan hệ Pragma có thể tồn tại lâu dài thường là một
bên chấp nhận “nhắm mắt làm ngơ” hoặc là có sự cảm thông cho hành động của bên
còn lại.
Trong quá khứ, các cuộc hôn nhân “cha mẹ đặt đâu con ngồi
đấy” khiến Pragma trở nên cực kỳ phổ biến trong xã hội cũ. Tuy nhiên đến thời
hiện đại, những mối tình Pragma vẫn tồn tại đông đảo, đặc biệt trong xã hội
châu Á luôn coi trọng địa vị và sự ngưỡng vọng của người khác. Một số lợi ích
của các cặp đôi Pragma có thể kể đến như làm hài lòng bố mẹ, vì tương lai của
con cái, tài chính, danh tiếng, tiếp quản/xây dựng quyền lực trong kinh doanh,…
7. Philautia-Tình yêu bản thân
Yêu thương chính mình, hay Philautia là lòng tự trắc ẩn
cũng như lòng tự tôn của bạn. Hơn cả vậy, Philautia như một hệ thống cảm xúc
phản chiếu những suy nghĩ, cảm nhận và hành động của bạn về chính mình và môi
trường xung quanh.
Thực hành tình yêu Philautia lành mạnh, bạn sẽ có thêm
sức bền trước những biến cố cũng như cởi mở hơn với những trải nghiệm để trưởng
thành. Đây cũng là một hình thức để bồi đắp lòng vị tha (Agape).
Mặt trái của Philautia là khi bị tiêu cực hóa sẽ trở
thành tự cao (Hubris). Tự cao là quá ham muốn địa vị, khả năng, thành tích, dẫn
đến lừa dối bản thân rằng mình có điều đó (tương đồng với ái kỷ).
Vì nó đi kèm với ảo vọng, vì vậy tự cao sẽ thúc đẩy bất công, xung đột và thù
địch.
Kết
Tình yêu là một loại cảm xúc kỳ lạ và phức tạp, nhưng
cũng rất tốt đẹp. Và trong tất cả những điều tốt đẹp của tình yêu, điều tốt
nhất, đẹp nhất và đáng tin cậy nhất là sự chân thật và trí tuệ mà tình yêu mang
lại cho con người. Đó là lý do khiến Plato xem tình yêu không phải là thần
thánh mà là triết gia. (St).
Thứ tư: 2V 2,1.6-14; Mt 6,1-6.16-18
SUY NIỆM 1:
Tiếp tục chủ đề kiện toàn lề luật. Tin Mừng hôm nay cho
biết Chúa Giêsu kiện toàn các việc đạo đức theo một tinh thần mới. Ta hãy chú
tâm lắng nghe lời Chúa hướng dẫn và cố gắng thực hiện những điều Chúa muốn để
ta xứng đáng được Chúa ghi nhận và ban ơn phúc.
Người đời thường nói: "của cho không bằng cách cho;
hình thức không bằng nội dung". Đó cũng là điều mà Chúa Giêsu đề cập đến
trong bài Tin mừng hôm nay.
Ăn chay, cầu nguyện và bố thí là 3 việc làm đạo đức hết
sức quan trọng trong đời sống con người. Nó là điều không thể thiếu trong đời
sống ngoài xã hội cũng như nơi các tôn giáo. Tuy nhiên những việc đạo đức này
chỉ có giá trị thật sự khi nó được thực hiện với tấm lòng yêu mến và khiêm tốn
chân thành. Ngược lại nếu các việc đạo đức ấy được thực hiện với ý hướng để
nhằm khoe khoang và vụ lợi thì những việc làm ấy không có giá trị gì trước mặt
Chúa. Tệ hại hơn nữa nếu các việc đạo đức ấy được thực hiện nhằm để đòi
hỏi công đức trước mặt Chúa thì quả là điều đáng chê trách.
Xin cho chúng ta biết làm các việc đạo đức bằng tấm lòng
khiêm tốn trước Chúa với động lực tình yêu và với ý hướng sám hối chân thành,
mong sao được đổi mới mỗi ngày nên đẹp lòng Chúa hơn.
SUY NIỆM 2:
Lời Chúa hôm nay, mời gọi chúng ta trả lại giá trị đích
thực của các việc đạo đức mà Chúa mong muốn con người thực hiện trong đời sống
hàng ngày.
Các việc đạo đức như ăn chay, cầu nguyện, bác ái…gắn liều
với định mệnh con người. Có thể nói nhờ những việc đạo đức mà phẩm giá con
người được nâng cao. Tuy nhiên do ảnh hưởng tác động của xã hội và ước vọng ích
kỉ của con người mà những việc đạo đức lần lần bị biến tướng và méo mó. Thay vì
thực hiện những việc làm thiện nguyện bác ái là vì mưu cầu lợi ích cho người
khác và làm vinh danh Chúa, thì nhiều người ngày hôm nay dùng những việc làm
đạo đức để phục vụ ích lợi cho bản thân và để làm sáng danh mình.
Xin Chúa uốn lòng chúng ta theo trái tim Chúa, để những
việc làm đạo đức của chúng ta đều được khởi đi từ tấm lòng yêu mến chân thành
với mong muốn ánh sáng vinh quang của Chúa được ngời sáng.
SUY NIỆM 3: SỐNG ĐẠO TRƯỚC MẶT CHÚA, KHÔNG PHẢI
TRƯỚC MẶT NGƯỜI ĐỜI
Lời
Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại động cơ của đời sống đạo. Điều quan
trọng không chỉ là làm việc lành, nhưng còn là làm vì ai và để
làm gì.
1. Êlia ra đi, Êlisê tiếp nối
Bài
đọc I thuật lại biến cố
ngôn sứ Êlia được cất lên trời trong cơn gió lốc. Trước khi chia tay, Êlia hỏi
Êlisê muốn xin điều gì. Êlisê không xin tiền bạc, danh vọng hay quyền lực,
nhưng xin được hưởng phần gia nghiệp của thầy, nghĩa là được thừa hưởng tinh
thần và sứ mạng ngôn sứ của Êlia.
Sau
khi Êlia được đưa về trời, Êlisê nhặt lấy chiếc áo choàng của thầy và dùng nó
rẽ nước sông Giođan. Dân chúng nhận ra rằng: “Thần khí của Êlia đã ngự
trên Êlisê.”
Điều
đáng chú ý là Êlisê không tìm kiếm vinh quang cho riêng mình. Ông chỉ mong tiếp
tục công việc Thiên Chúa trao phó. Ông không tìm danh tiếng, nhưng tìm thánh ý
Chúa.
2. Coi chừng làm việc đạo để được người ta khen
Trong
Tin Mừng, Chúa Giêsu cảnh
báo: “Anh em hãy coi chừng, đừng phô trương công đức trước mặt thiên hạ
để họ thấy.”
Người
đề cập đến ba việc đạo đức rất quen thuộc của người Do Thái: bố thí, cầu nguyện
và ăn chay. Đây đều là những việc tốt đẹp. Tuy nhiên, một việc tốt có thể mất
giá trị thiêng liêng nếu được thực hiện vì lòng tự mãn hoặc để tìm tiếng khen.
Vì thế, Chúa Giêsu nhắc:
-
Khi bố thí, đừng đánh trống khua chiêng.
-
Khi cầu nguyện, đừng tìm cách phô diễn.
-
Khi ăn chay, đừng tỏ vẻ sầu não để người khác biết.
Điều
Chúa quan tâm không phải là hình thức bên ngoài, nhưng là tấm lòng bên trong.
3. Cha của anh em, Đấng thấu suốt những gì kín đáo
Ba
lần trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nhắc đến một chân lý rất an
ủi: “Cha của anh em, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho
anh em.” Con người thường chỉ thấy bề ngoài, còn Thiên Chúa nhìn thấy
tận đáy lòng.
Có
những hy sinh âm thầm không ai biết. Có những lời cầu nguyện chỉ mình Chúa
nghe. Có những việc phục vụ không ai ghi nhận. Có những giọt nước mắt âm thầm
vì gia đình, vì Giáo Hội, vì tha nhân.
Đối
với thế gian, những điều ấy có thể bị lãng quên. Nhưng đối với Thiên Chúa,
không điều gì bị bỏ sót.
Nhiều
người thích được nhìn thấy, được nhắc đến, được khen ngợi. Nhưng người môn đệ
đích thực không sống để tìm tiếng vỗ tay của con người, mà tìm niềm vui được
Thiên Chúa hài lòng.
Lời
Chúa hôm nay mời gọi chúng ta xét lại ý hướng của mình:
-
Tôi làm việc lành để phục vụ Chúa hay để được người khác công nhận?
-
Tôi cầu nguyện để gặp gỡ Chúa hay chỉ vì thói quen?
-
Tôi có biết âm thầm hy sinh mà không mong được đền đáp hay không?
Người
thánh thiện không phải là người làm những việc phi thường, nhưng là người làm
những việc bình thường với một tình yêu phi thường dành cho Thiên Chúa.
Xin
Chúa thanh luyện ý hướng của chúng ta. Xin đừng để chúng ta tìm kiếm danh dự,
lời khen hay sự ngưỡng mộ của người đời khi làm việc lành. Xin cho chúng ta
biết sống đơn sơ, chân thành và khiêm tốn trước mặt Chúa. Ước gì mọi việc chúng
ta làm đều xuất phát từ lòng yêu mến Chúa và nhằm làm sáng danh Chúa mà
thôi. Amen.
Thứ năm: Hc 48,1-14; Mt 6,7-15
SUY NIỆM 1:
Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu nhấn mạnh đến 1 trong 3 đạo
đức không thể thiếu được của người môn đệ Chúa. Đó là cầu nguyện.
Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa để gặp gỡ
và hiệp thông với Ngài trong tình yêu, để cầu xin những ơn cần thiết. (GLCG.
2591).
Cầu nguyện được ví như hơi thở của linh hồn và là lương
thực nuôi sống đức tin. Tất cả các tôn giáo đều đề cao việc cầu nguyện, bởi vì
đó là cách thức tốt nhất để tiếp xúc thân mật với Thiên Chúa, nhờ đó ta dễ dàng
nghe được tiếng Chúa nói; cũng như múc lấy sức mạnh thần thiêng Chúa ban, nhờ
đó đức tin ta thêm vững mạnh.
Trong bài tin mừng hôm nay, ngoài việc Chúa cho các môn
đệ biết nội dung phải cầu nguyện như thế nào qua "Kinh Lạy Cha"; Ngài
còn nhấn mạnh đến hai điều quan trọng khi cầu nguyện cần phải có:
- 1 là không nên lãi nhãi nhiều lời khi cầu nguyện. Bởi vì Thiên Chúa là người Cha đầy yêu
thương nên Ngài thấu hiểu mọi nhu cầu cần thiết của ta. Ngài sẽ ban cho chúng
ta những gì thiện hảo nhất.
- 2 là phải loại trừ khỏi tâm trí mình mọi ý tưởng hận
thù thay vào đó là tấm
lòng bao dung tha thứ. Bởi có tha thứ cho tha nhân thì ta mới xứng đáng được
Chúa tha thứ. Tha thứ là điều kiện căn bản để Chúa đón nhận của lễ và ban
ơn cho chúng ta, nên Chúa phán: “Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ,
mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ
lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ
vật của mình.” (Mt 5, 23-24). Có thể nói tha thứ chính là
hoa trái của đức tin và là đỉnh cao của lòng thương xót.
Nếu cầu nguyện để nuôi sống và củng cố đức tin, thì tha
thứ chính là hành động cụ thể để thể hiện đức tin ấy. Xin cho chúng ta biết
siêng năng cầu nguyện để củng cố đức tin thêm vững mạnh, nhờ đó ta dễ dàng biết
tha thứ cho nhau.
SUY NIỆM 2: CẦU NGUYỆN BẰNG TRÁI TIM NGƯỜI CON
Lời
Chúa hôm nay giúp chúng ta hiểu thế nào là cầu nguyện đích thực. Nếu bài Tin
Mừng hôm qua nhấn mạnh đến việc cầu nguyện trong kín đáo, thì hôm nay Chúa
Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện với tâm tình của người con thảo đối với
Cha trên trời.
1. Ngôn sứ Êlia – con người của cầu nguyện
Bài
đọc 1, sách Huấn Ca ca
ngợi ngôn sứ Êlia như một vị đại ngôn sứ đầy quyền năng. Ông đã làm nhiều phép
lạ phi thường: đóng cửa trời để ngăn mưa, làm cho lửa từ trời xuống, cho người
chết sống lại, và cuối cùng được cất lên trời trong cỗ xe lửa. Nhưng nguồn gốc
sức mạnh của Êlia không phải là bản thân ông. Tất cả đều phát xuất từ mối tương
quan mật thiết với Thiên Chúa. Ông là người sống trước mặt Chúa, lắng nghe Chúa
và hoàn toàn tín thác vào Chúa.
Những
phép lạ lớn lao ấy là kết quả của một đời sống cầu nguyện sâu xa. Điều đó nhắc
chúng ta rằng sức mạnh thật sự của người Kitô hữu không nằm ở tài năng, địa vị
hay khả năng riêng, nhưng nằm ở sự kết hiệp với Thiên Chúa.
2. Đừng lải nhải như dân ngoại
Trong
Tin Mừng, Chúa Giêsu nói: “Khi
cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng cứ nói nhiều là
được nhận lời.”
Chúa
không cấm chúng ta cầu nguyện lâu hay lặp đi lặp lại một kinh nguyện. Chính
Chúa cũng đã nhiều lần cầu nguyện suốt đêm. Điều Người muốn loại bỏ là quan
niệm sai lầm cho rằng cầu nguyện chỉ là đọc thật nhiều lời để thuyết phục Thiên
Chúa. Thiên Chúa không phải là một vị thần xa lạ cần được mua chuộc bằng những
lời nói. Ngài là Cha yêu thương.
Vì
thế Chúa Giêsu khẳng định: “Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước
khi anh em cầu xin.” Cầu nguyện không phải là thông báo cho Chúa điều
Ngài chưa biết. Cầu nguyện là mở lòng mình cho Chúa, đặt cuộc đời mình trong
bàn tay yêu thương của Ngài.
3. Kinh Lạy Cha – khuôn mẫu của mọi lời cầu nguyện
Sau
đó, Chúa Giêsu dạy kinh Lạy Cha. Đây không chỉ là một kinh nguyện để đọc, mà
còn là chương trình sống của người Kitô hữu.
-
Trước hết, chúng ta hướng về Thiên Chúa và gọi Ngài là Cha.
-
Chúng ta tìm kiếm danh Cha cả sáng và Nước Cha trị đến.
-
Chúng ta xin lương thực hằng ngày.
-
Chúng ta xin được tha thứ.
-
Chúng ta xin được gìn giữ khỏi cám dỗ và sự dữ.
Điều
đáng chú ý là không có chữ “con” hay “tôi”, mà là “chúng con”. Kinh
Lạy Cha dạy chúng ta cầu nguyện không chỉ cho riêng mình nhưng cho cả cộng đoàn
nhân loại.
Đặc
biệt, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến việc tha thứ: “Nếu anh em tha lỗi cho
người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em.” Người
không thể vừa xin Chúa tha thứ vừa khép lòng trước anh chị em mình.
4. Tha thứ – điều kiện để lời cầu nguyện sinh hoa trái
Nhiều
khi điều ngăn cản chúng ta đến gần Chúa không phải là sự yếu đuối, nhưng là sự
cứng lòng. Một tâm hồn còn chất chứa hận thù thì khó cảm nghiệm được tình yêu
Thiên Chúa. Tha thứ không làm cho lỗi lầm trở thành đúng đắn, nhưng giải thoát
trái tim chúng ta khỏi gánh nặng của oán hờn. Người biết tha thứ là người đang
sống giống Thiên Chúa hơn mỗi ngày.
Lời
Chúa hôm nay mời gọi chúng ta:
-
Cầu nguyện với lòng tin tưởng của người con thảo.
-
Đọc kinh Lạy Cha cách chậm rãi và ý thức hơn.
-
Xét lại xem trong lòng mình còn ai chưa thể tha thứ hay không.
Khi
biết gọi Thiên Chúa là Cha và biết nhìn mọi người là anh chị em, đời sống cầu
nguyện của chúng ta sẽ trở nên chân thành, sống động và sinh nhiều hoa trái.
Xin
Chúa dạy chúng ta biết cầu nguyện không chỉ bằng môi miệng nhưng bằng cả trái
tim. Xin cho chúng ta luôn tín thác vào tình yêu của Chúa Cha, biết tìm kiếm
thánh ý Ngài hơn là ý riêng mình. Đặc biệt, xin ban cho chúng ta một trái tim
quảng đại để biết tha thứ cho những người xúc phạm đến chúng con, hầu xứng đáng
đón nhận lòng thương xót vô biên của Chúa. Amen.
Thứ sáu: 2V 11,1-4.9-18.20; Mt 6,19-23
SUY NIỆM 1:
Một triết gia đã nói: “Con người là một sinh vật duy nhất
biết mình phải chết”. Lời của triết gia trên không những phản ánh về nỗi day
dứt của con người trước sự sống chết mà còn là nỗi ám ảnh về số phận sau cái
chết.
Hầu hết các tôn giáo đều tin vào sự sống đời sau. Và cho
rằng sự sống mai sau tùy thuộc hoàn toàn vào cuộc sống đời này, vì thế mà nhiều
người đồng tình với quan niệm nhân-quả, nghĩa là công-thưởng, tội-trừng. Tuy
biết mình sẽ chết, sẽ sự sống lại và sẽ được thưởng hay bị phạt mai sau, nhưng
có mấy ai biết quan tâm đến số phận mai sau của mình. Chính vì thế mà tin mừng
hôm nay, Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta đừng quá bận tâm lo lắng thu tích của cải
chóng qua đời này mà quên lãng nhiệm vụ thu tích kho tàng bền vững mai sau trên
trời.
Thiên hạ thường truyền khẩu với nhau bài vè này:
Tiền là tiên là phật,
là sức bật của lò xo,
là thước đo của lòng người,
là sức khỏe của tuổi già,
là niềm vui của tuổi trẻ…,
có tiền mua tiên cũng được.
Đúng vậy, bởi lẽ trong cuộc sống trần gian này ai cũng
cần có tiền để sống. Có tiền mới mua được thực phẩm, đồ dùng; có tiền mới cho
con cái ăn học; có tiền mới làm được việc này việc nọ; và có tiền ta mới có thể
đi đây đi đó được… Do đó tiền bạc là thứ không thể thiếu, chính vì thế người ta
phải ra sức làm việc để kiếm được thật nhiều tiền, càng tích lũy nhiều tiền
càng tốt. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, tiền không phải là tất cả. Kinh nghiệm
cho thấy có nhiều tiền chưa chắc có hạnh phúc. Bởi vì, ngoài tiền của vật chất
ra, cuộc sống con người còn có những thứ khác cao quý hơn. Như được sống vui
vẻ, bình an, hạnh phúc, gia đình êm ấm hòa thuận…Và vượt trên tất cả chính là
khát vọng được trở nên hoàn thiện.
Thế nhưng, khi nhìn vào thực tế cuộc sống, dường như chọn
lựa giữa Chúa và tiền của thật khó khăn. Nhiều người hãnh diện xưng mình là
kitô hữu nhưng lại dễ dàng bỏ lễ ngày Chúa nhật để chọn tiền. Có người còn cho
rằng đi lễ Chúa đâu có tiền, Chúa đâu cho cơm cho gạo để ăn... còn đi làm mới
có cái để ăn. Nhiều người sẵn sàng bỏ những ngày Chúa nhật, lễ trọng để đi chơi,
đi ăn cưới hoặc ăn giỗ mà không hề áy náy lương tâm. Họ sống theo kiểu “có thực
mới vực được đạo.”
Thu tích tiền bạc của cải đời này được xem là xu hướng
khôn ngoan của con người thời đại khi mà nền kinh tế khủng hoảng, bấp bênh nên
việc tích lũy tiền của càng nhiềul càng tốt. Tuy nhiên khi có nhiều tiền của
thu tích rồi, người ta cũng không cảm thấy vững dạ an lòng, vì mối mọt và trộm
cướp luôn là hiểm họa đang trực chờ.
Vậy người khôn ngoan đích thực là người biết phân bố thời
gian sao cho hợp lý. Một phần thời gian ta lo cho sự sống thể xác của mình, một
phần thời gian ta dành chăm lo gia đình, một phần ta phục vụ cho xã hội, nhưng
đừng quên dành nhiều thời gian để chăm lo cho phần hồn và hạnh phúc đời đời của
mình.
Xin cho chúng ta biết hướng tất cả mọi sự vào cùng đích
là hạnh phúc vĩnh cửu nước trời để biết khôn ngoan sử dụng tiền của sao cho phù
hợp ý Chúa, nhằm đảm bảo mai sau ta có được kho tàng vĩnh cửu trong nước trời.
SUY NIỆM 2: KHO TÀNG NÀO, TRÁI TIM ẤY
Lời
Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại điều mình đang thực sự tìm kiếm trong
cuộc đời. Bởi vì nơi nào chúng ta đặt kho tàng, nơi đó trái tim chúng ta sẽ
hướng về.
1. Cuộc chiến giữa quyền lực và kế hoạch của Thiên Chúa
Bài
đọc I kể lại một giai đoạn
đầy sóng gió trong lịch sử dân Chúa. Sau khi vua Akhátgia qua đời, hoàng hậu
Atalia đã tìm cách tiêu diệt tất cả những người thuộc dòng dõi vua Đavít để
chiếm lấy ngai vàng. Đó là hành động phát xuất từ lòng tham quyền lực. Atalia
muốn bảo vệ địa vị của mình bằng mọi giá, kể cả việc giết hại những người vô
tội.
Thế
nhưng Thiên Chúa vẫn âm thầm hành động. Hoàng tử Giôát được cứu thoát và được
che giấu trong Đền Thờ suốt sáu năm. Đến thời điểm thích hợp, vị tư tế
Giơhôiada đã đưa Giôát ra và tôn phong làm vua.
Qua
biến cố này, chúng ta nhận ra rằng quyền lực, danh vọng và những tính toán của
con người chỉ là tạm thời. Điều tồn tại mãi mãi là chương trình của Thiên Chúa.
Atalia
đã đặt kho tàng đời mình nơi quyền lực, nên cuối cùng cũng mất tất cả.
2. Kho tàng ở đâu, lòng người ở đó
Trong
Tin Mừng, Chúa Giêsu dạy: “Anh
em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát và kẻ
trộm khoét vách lấy đi.”
Chúa
không lên án của cải vật chất. Của cải tự nó không xấu. Điều đáng lo là khi con
người đặt tất cả niềm tin, hy vọng và hạnh phúc của mình vào những thứ chóng
qua ấy.
Tiền
bạc có thể mất. Danh vọng có thể tàn. Sắc đẹp có thể phai. Quyền lực có thể qua
đi. Nếu đó là kho tàng duy nhất của chúng ta, thì khi chúng mất đi, tâm hồn
chúng ta cũng trở nên trống rỗng. Vì thế Chúa Giêsu mời gọi: “Hãy tích
trữ cho mình những kho tàng trên trời.”
Đó
là: Đức tin được gìn giữ và lớn lên mỗi ngày. Những việc bác ái âm
thầm. Những hy sinh vì Chúa và tha nhân. Một đời sống công chính và
yêu thương… Đó là những kho tàng không ai có thể lấy mất.
3. Con mắt – cửa sổ của tâm hồn
Chúa
Giêsu tiếp tục nói: “Đèn của thân thể là con mắt.”
Trong
ngôn ngữ Kinh Thánh, con mắt không chỉ là cơ quan thị giác, mà còn tượng trưng
cho cách nhìn và định hướng của cuộc đời.
Một
con mắt trong sáng là một tâm hồn biết hướng về Thiên Chúa và những giá trị
vĩnh cửu. Ngược lại, khi tâm hồn bị chi phối bởi tham lam, ích kỷ, ghen tỵ hay
ham mê vật chất, con mắt sẽ trở nên tối tăm. Người ta chỉ còn nhìn mọi sự bằng
lợi ích cá nhân, bằng tiền bạc hoặc địa vị. Con mắt hướng về đâu thì cuộc đời
sẽ đi theo hướng đó.
4. Người môn đệ phải chọn kho tàng đích thực
Xã
hội hôm nay thường đánh giá thành công bằng tiền bạc, quyền lực và sự nổi
tiếng. Nhưng Tin Mừng mời gọi chúng ta nhìn xa hơn.
-
Một người có thể không giàu có về vật chất, nhưng rất giàu lòng nhân ái.
-
Một người có thể không nổi tiếng, nhưng rất đẹp lòng Chúa.
-
Một người có thể không để lại nhiều tài sản, nhưng để lại một gia sản đức tin
và tình yêu cho con cháu. Đó mới là kho tàng thật.
Chúng
ta hãy tự hỏi:
-
Kho tàng lớn nhất của tôi là gì?
-
Tôi dành nhiều thời gian và tâm huyết nhất cho điều gì?
-
Tôi đang tích lũy của cải dưới đất hay kho tàng trên trời?
Điều
chúng ta yêu mến nhất sẽ cho thấy trái tim chúng ta đang thuộc về ai.
Xin
Chúa cho chúng ta biết sử dụng của cải vật chất như phương tiện chứ không phải
mục đích của cuộc đời. Xin giúp chúng ta đừng để lòng mình bị trói buộc bởi
tiền bạc, danh vọng hay quyền lực. Xin cho mắt tâm hồn chúng ta luôn hướng về
Chúa, để biết tích lũy những kho tàng không bao giờ hư mất là đức tin, đức cậy,
đức mến và những việc lành bác ái.
Xin
cho trái tim chúng ta luôn thuộc trọn về Chúa là kho tàng đích thực và vĩnh cửu
của đời mình. Amen.
SUY NIỆM 3: ĐÔI MẮT SÁNG SUỐT
Có vẻ như chuyện kho tàng ở đâu không liên
quan gì tới cặp mắt có sáng hay không. Đức Giê-su dạy rằng mắt ta có sáng, mới
nhìn rõ để soi sáng hướng dẫn mình thực hiện những hành vi tốt đẹp, đạt đến mục
đích tối hậu đời người. Cặp mắt có sáng thì mới thấy rõ kho tàng đích thực của
mình ở đâu để hướng lòng mình về đó.
Cặp mắt cận thị thì chỉ chăm chăm vào những
điều mau qua chóng hết ở thế gian này. Cặp mắt ấy lại càng tăm tối nếu như bị
che chắn bởi những ham muốn, tham vọng hưởng thụ của cải đời này không thể nhìn
xa trông rộng để thấy được “quê hương và kho tàng đích thực” của mình.
Để có thể có đôi mắt sáng suốt, cần phải “rửa
mắt” khỏi bụi bặm, tháo dỡ những cái xà tội lỗi và thành kiến là những thứ che
khuất tầm nhìn hoặc làm tổn thương dẫn đến mù loà thiêng liêng khiến ta không
còn thấy và “ái mộ những sự trên trời” nữa.
“Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn.” Nhìn vào đôi mắt
một người, có thể thấy nơi đó phản ảnh kho tàng nào: sự tham lam ích kỷ, hận
thù hay lòng nhân ái, thiện tâm. Mời bạn thường xuyên soi vào tấm gương Lời
Chúa để làm đẹp cho đôi mắt tâm hồn xoá bỏ đi những nếp nhăn của giận dữ tham
lam và luôn toả sáng sự dịu dàng, nhân hậu và bình an.
Chiêm ngắm Chúa Giê-su mỗi ngày để có thể
nhìn nhau bằng cái nhìn của Chúa. Xin Chúa hướng đôi mắt con về
sự thiện hảo, để nó đẹp ngời và sáng long lanh, để nó phản chiếu những niềm vui
lấp lánh. Xin dạy con biết sử dụng đôi mắt như một khí cụ dịu dàng phản chiếu
gương mặt Chúa cho tha nhân. (Lạy Chúa con đây! Lời nguyện 92). (St).
Thứ bảy: 2Sb 24,17-25; Mt 6,24-34
SUY NIỆM 1:
Cuộc sống là một chuỗi những lựa chọn. Chọn đúng làm cho
cuộc sống ta được bình an và hạnh phúc. Chọn lựa sai sẽ làm cho đời ta bất an
và đau khổ. Chọn lựa là quyền tự do căn bản của con người. Quyền ấy đã được
Thiên Chúa ban tặng con người và luôn được Ngài tôn trọng. Vì thế, chúng ta
phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình.
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta phải có sự
chọn lựa dứt khoát. Chọn
đứng dưới cờ TC để phụng thờ Người hay đứng dưới cờ Satan để
phụng sự Tiền Của thế gian? “Không ai có thể làm tôi hai
chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà
khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của
được.”
Đức Giêsu đã sống trong kiếp người, nên hơn ai hết Ngài
hiểu rõ những mối bận tâm lo lắng của chúng ta chính là nhu cầu vật chất. Tiền
Của có một vị trí to lớn trong đời sống chúng ta, đến nỗi nó hiển nhiên trở
thành vị thần đầy quyền lực, có sức hút mãnh liệt khiến chúng ta sẵn sàng chối
bỏ Thiên Chúa để lệ thuộc hoàn toàn vào nó.
Nhằm giúp chúng ta có được quyết định sáng suốt trong
chọn lựa, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy đặt trọn tin tưởng vào sự quan phòng
yêu thương của Thiên Chúa bằng cách “Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng
mọc lên thế nào mà rút ra bài học. Chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà,
Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Solomon, dù vinh hoa tột bậc, cũng không
mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng
vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những
kẻ kém tin!”.
Hơn thế nữa, là những người con cái Chúa, đời sống
chúng ta phải khác và vượt trội hơn những người không có niềm tin. Nên mối bận
tâm lo lắng của chúng ta không phải là vật chất mau qua như dân ngoại tìm kiếm
mà là giá trị vĩnh cửu nước trời. “Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên
Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho”.
Xin cho chúng ta biết chọn Chúa là gia nghiệp và phụng
thờ Người cách xứng hợp với tâm tình yêu mến của những người con cái Chúa.
Xin cho chúng ta cũng luôn tin tưởng phó thác vào sự quan
phòng kỳ diệu của Thiên Chúa; bởi ta tin rằng mỗi người trong chúng ta đều có
vị trí đặt biệt và một giá trị quý giá trong trái tim của Chúa. Cho dẫu lắm khi ta phải hy sinh và thiệt thòi khi chọn Chúa,
nhưng ta hãy tin chắc rằng, Chúa luôn yêu thương chăm lo và ban
phát cho chúng ta những điều tốt đẹp nhất.
SUY NIỆM 2: HÃY TÌM KIẾM NƯỚC THIÊN CHÚA TRƯỚC
HẾT
Lời
Chúa hôm nay nói đến một căn bệnh rất phổ biến của con người mọi thời: lo
lắng và đặt niềm tin sai chỗ. Khi xa rời Thiên Chúa, con người dễ rơi vào
bất an; khi đặt Thiên Chúa vào vị trí trung tâm, tâm hồn sẽ tìm được bình an
đích thực.
1. Quên Chúa là khởi đầu của mọi sa ngã
Bài
đọc I kể lại một biến cố
đáng buồn trong cuộc đời vua Giôát.
Nhờ
sự hướng dẫn của tư tế Giơhôiada, Giôát đã từng là một vị vua tốt lành, biết
tôn thờ Thiên Chúa và chăm lo Đền Thờ. Thế nhưng sau khi Giơhôiada qua đời, nhà
vua nghe theo những lời nịnh hót của các thủ lãnh trong dân, bỏ Thiên Chúa để
chạy theo các ngẫu tượng.
Thiên
Chúa đã sai các ngôn sứ đến cảnh tỉnh, nhưng họ không chịu nghe. Thậm chí, vua
Giôát còn truyền giết ngôn sứ Dacaria, con của chính vị ân nhân đã cứu mạng
mình. Đó là bi kịch của sự vô ơn và phản bội.
Một
người khi còn gắn bó với Chúa có thể sống ngay chính; nhưng khi xa Chúa, lòng
người dễ bị cuốn theo tham vọng, quyền lực và những cám dỗ của thế gian.
2. Không ai có thể làm tôi hai chủ
Trong
Tin Mừng, Chúa Giêsu khẳng
định: “Không ai có thể làm tôi hai chủ... Anh em không thể vừa làm tôi
Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được.”
Tiền
của tự nó không xấu. Nó là phương tiện cần thiết cho cuộc sống. Nhưng khi tiền
bạc trở thành ông chủ, con người sẽ đánh mất tự do và đánh mất chính mình.
Nhiều người tưởng mình đang làm chủ của cải, nhưng thực ra lại trở thành nô lệ
cho nó. Họ lo kiếm tiền, lo giữ tiền, lo làm giàu đến mức không còn thời gian
cho gia đình, cho tha nhân và cho Chúa. Vấn đề không phải là chúng ta có bao
nhiêu của cải, nhưng là của cải đang chiếm bao nhiêu chỗ trong trái tim chúng
ta.
3. Đừng lo lắng quá mức
Tiếp
đó, Chúa Giêsu nhiều lần nhắc: “Đừng lo lắng.”
Người
không bảo chúng ta sống thụ động hay lười biếng. Chúa không cấm chúng ta làm
việc, dự tính hay chuẩn bị cho tương lai. Điều Chúa muốn loại bỏ là sự lo âu
thái quá khiến chúng ta đánh mất niềm tín thác vào Thiên Chúa.
Để
minh họa, Chúa đưa ra hai hình ảnh rất gần gũi:
- Chim
trời “Chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho lẫm, thế
mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng.”
- Hoa huệ ngoài đồng “Ngay cả vua Salômôn, dù vinh hoa tột bậc,
cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy.”
Nếu
Thiên Chúa chăm sóc chim trời và cỏ hoa, thì Ngài càng yêu thương và chăm sóc
con người hơn biết bao.
Lo
lắng không làm cho đời sống dài thêm một giờ, nhưng có thể làm cho tâm hồn mất
bình an ngay hôm nay.
4. Tìm kiếm Nước Chúa trước hết
Đỉnh
cao của bài Tin Mừng là lời mời gọi: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên
Chúa và sự công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm
cho.” Đây là bí quyết của đời sống Kitô hữu.
Khi
Thiên Chúa đứng ở vị trí thứ nhất, mọi thứ khác sẽ tìm được vị trí đúng của nó.
Khi Nước Chúa là ưu tiên hàng đầu:
- Tiền
bạc trở thành phương tiện phục vụ.
-
Công việc trở thành cách cộng tác với Chúa.
-
Gia đình trở thành nơi sống yêu thương.
-
Những khó khăn trở thành cơ hội tín thác.
Các
thánh không phải là những người không gặp khó khăn, nhưng là những người đặt
trọn niềm tin vào Thiên Chúa giữa mọi khó khăn.
Mỗi
người hãy tự hỏi:
- Điều
gì đang chiếm vị trí quan trọng nhất trong cuộc đời tôi?
-
Tôi đang tín thác vào Chúa hay chỉ dựa vào khả năng và của cải của mình?
-
Những lo lắng nào đang làm tôi xa Chúa và mất bình an?
Hãy
nhớ rằng: người giàu nhất không phải là người sở hữu nhiều nhất, nhưng là người
tín thác nơi Thiên Chúa nhiều nhất.
Xin giúp chúng ta luôn đặt Chúa làm trung tâm đời mình. Xin giải thoát chúng ta khỏi sự lệ thuộc vào tiền bạc, danh vọng và những bảo đảm chóng qua của thế gian. Xin ban cho chúng ta một đức tin mạnh mẽ để biết tín thác vào tình yêu quan phòng của Chúa. Và xin cho chúng ta luôn biết tìm kiếm Nước Chúa trước hết, để được hưởng sự bình an và niềm vui đích thực mà chỉ mình Chúa mới có thể ban tặng. Amen.