SUY NIỆM LỜI CHÚA I MÙA CHAY
Lm. Nguyệt Giang
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY-NĂM A
St 2,7-9; 3,1-7; Rm 5,12-19; Mt 4,1-11
SUY NIỆM LỜI CHÚA I MÙA CHAY
Lm. Nguyệt Giang
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY-NĂM A
St 2,7-9; 3,1-7; Rm 5,12-19; Mt 4,1-11
Suy niệm
1: GIỮA CÁM DỖ-CHỌN THIÊN CHÚA
Chuyện kể rằng:
Có một anh thanh
niên quyết tâm sống Mùa Chay thật sốt sắng. Anh tuyên bố trước bạn bè: “Năm
nay tôi quyết tâm ăn chay nghiêm chỉnh, không ăn vặt, không trà sữa!”
Ngày đầu tiên, anh
đi ngang tiệm bánh. Mùi bánh thơm bay ra quyến rũ. Anh nhắm mắt cầu
nguyện: “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn con ăn cái bánh này, xin cho còn
đúng một cái cuối cùng trong tủ kính!”
Anh mở mắt ra… và
đúng là còn một cái cuối cùng thật!
Anh vui mừng
nói: “Ý Chúa rồi!”
Nhưng anh quên mất
một điều: đó là cái cuối cùng… vì anh đã đi vòng lại tiệm tới 5 lần chờ người
ta mua hết!
Chuyện nghe vui,
nhưng nhiều khi cám dỗ trong đời cũng giống vậy. Ta khéo “biện minh” để hợp
thức hóa điều mình thích. Và thế là thay vì làm theo ý Chúa, ta lại làm theo ý
mình. Mùa Chay bắt đầu bằng một cuộc chiến như thế , cuộc chiến trong lòng con
người.
1. Ađam-Khi con
người nghi ngờ Thiên Chúa
Bài đọc sách Sáng
Thế cho thấy Thiên Chúa
tạo dựng con người trong hạnh phúc. Ngài ban mọi sự tốt đẹp, chỉ xin một điều:
đừng ăn trái cây biết lành biết dữ.
Con rắn không ép
buộc, chỉ gieo một câu hỏi: “Có thật Thiên Chúa đã nói…?”
Tội lỗi bắt đầu từ
nghi ngờ lòng tốt của Thiên Chúa.
Ađam và Evà nghĩ
rằng Thiên Chúa giữ lại điều gì đó, không muốn họ “bằng Ngài”.
Khi ăn trái cấm,
mắt họ mở ra… nhưng không phải để thấy mình vinh quang, mà để thấy mình trần
trụi và xấu hổ.
Tội lỗi luôn hứa
hẹn tự do, nhưng lại dẫn đến nô lệ.
2. Đức Giêsu-Ađam
mới trong sa mạc
Tin Mừng hôm nay kể
rằng Đức Giêsu cũng bị cám dỗ trong sa mạc.
Nếu Ađam thất bại
giữa vườn đầy hoa trái, thì Đức Giêsu chiến thắng giữa sa mạc khô cằn.
Ba cơn cám dỗ rất
quen thuộc:
- Biến đá thành
bánh-cám dỗ vật chất.
- Nhảy xuống từ nóc
Đền Thờ-cám dỗ danh tiếng.
- Thờ lạy ma quỷ để
được quyền lực-cám dỗ quyền hành.
Chúa Giêsu không
dùng phép lạ để tự cứu mình, không tranh luận dài dòng. Ngài chỉ nói: “Đã
có lời chép…”
Ngài bám vào Lời
Chúa. Và Ngài chọn vâng phục.
3. Từ Ađam đến Đức
Kitô-Từ thất bại đến hy vọng
Thánh Phaolô Tông
Đồ trong thư Rôma
khẳng định: “Vì một người mà tội lỗi vào thế gian. Nhưng cũng nhờ một người mà
ân sủng tràn đầy.”
Ađam kéo nhân loại
vào bất tuân. Đức Kitô mở lại con đường vâng phục.
Điều đó có nghĩa:
Mùa Chay không phải là mùa tuyệt vọng vì tội lỗi,
mà là mùa hy vọng vì ơn cứu độ.
4. Sa mạc hôm nay
của chúng ta
Sa mạc không chỉ là
cát và nắng. Sa mạc có thể là:
- những mệt
mỏi trong mục vụ,
- những hiểu
lầm trong gia đình,
- những cám dỗ âm
thầm của tiền bạc và danh vọng.
Cám dỗ hôm nay
không bảo ta thờ ma quỷ, nhưng bảo ta thờ cái tôi.
Không bảo ta nhảy
từ nóc Đền Thờ, nhưng bảo ta sống để được người ta khen.
Mỗi ngày, chúng ta
đứng giữa hai lựa chọn: tin vào Thiên Chúa hay tin vào chính mình.
5. Ba chìa khóa cho
Mùa Chay
Chúa Giêsu cho ta
con đường cụ thể:
- Ăn chay-để
làm chủ bản thân.
- Cầu
nguyện-để bám vào Lời Chúa.
- Vâng phục-để
đặt ý Chúa trên ý mình.
Chiến thắng không
đến bằng sức riêng, mà bằng việc ở lại trong Lời Chúa.
Anh chị em thân
mến,
Mùa Chay là hành
trình từ Ađam đến Đức Kitô. Nhưng cũng là hành trình từ “ý tôi” đến “ý Chúa”.
Khi cám dỗ đến, ta có thể khéo biện minh như anh thanh niên kia…hoặc ta có thể
thưa như Đức Giêsu: “Lạy Cha, con xin vâng.”
Xin cho Mùa Chay
này không chỉ là bốn mươi ngày giữ luật, nhưng là bốn mươi ngày chọn lại Thiên
Chúa, để từ sa mạc cuộc đời, chúng ta bước vào niềm vui Phục Sinh. Amen.
Suy niệm 2:
Câu chuyện:
Một câu chuyện dân gian kể rằng: có một người đàn
ông nọ bị quỷ hiện lên chận đường. Quỷ bắt anh ta phải làm một trong ba điều
sau đây: một là uống rượu thật say, hai là đốt nhà của mình, ba là giết chết vợ
mình. Quá hoảng sợ, người đàn ông đành chọn uống rượu thật say, vì anh ta cho
đó là việc làm ít nguy hại nhất. Nào ngờ, khi say rượu, anh ta mất hết lý trí
nên nổi lửa đốt nhà mình. Bà vợ can ngăn, anh ta điên tiết giết luôn vợ mình.
Rốt cuộc là anh ta đã làm cả ba việc mà tên quỷ đề
ra.
Ma quỷ có rất nhiều mưu mô xảo kế. Khi cám dỗ người nào, chúng vận dụng hết
mọi thủ đoạn để hạ gục người đó. Vì thế, khi cám dỗ Chúa Giê-su, ma quỷ đã dùng
chính lời Thiên Chúa để dụ dỗ Người. Nhưng Chúa Giê-su không rơi vào bẫy của ma
quỷ. Trái lại, Người cũng đã dùng lời Thiên Chúa để làm cho ma quỷ phải bẻ mặt
và bỏ đi.
Trong thư thứ I của thánh Phêrô lưu ý chúng ta: “Anh em
hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ là thù địch của anh em, như sư tử gầm
thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé.” (1Pr 5,8) Thật vậy ma quỷ rất tinh
ranh và là kẻ thù lớn nhất của con người, lúc nào nó cũng tìm mọi cách để hãm
hại con người chúng ta. Vì thế chúng ta cần phải đề phòng và tìm mọi
phương cách để chống trả. Phụng vụ lời Chúa trong Chúa nhật I mùa chay hôm nay
nhắc nhở chúng ta hãy lưu tâm về vấn đề đó.
- Bài đọc 1 trích sách
Sáng Thế thuật lại cơn cám dỗ đầu tiên của ma quỷ dành cho nguyên tổ loài người
là ông Adam và bà Eva nơi vườn địa đàng. Do tự mãn muốn bằng Thiên Chúa nên hai
ông bà đã nghe theo những lời đường mật của ma quỷ mà phản phúc lại
tình thương của Thiên Chúa đan tâm đưa tay hái trái cấm để ăn. Từ đó nguyên tổ
không những đánh mất hết mọi ơn phúc do Thiên Chúa ban mà còn hệ lụy
đến các thế hệ con cháu sau này. Cũng từ đó, địa đàng trở nên hoang
địa khắc nghiệt; cây trái xanh tốt, thơm ngon trở nên gai gốc đắng cay; con
người mất hết hạnh phúc nên sống trong bất hạnh, đau khổ; phải vất vả đổ mồ hôi
sót con mắt mới có của ăn, nhất là phải gánh lấy hậu quả của tôi là
cái chết muôn đời.
- Tin Mừng thì thuật lại
những cơn cám dỗ mà Chúa Giêsu phải đối mặt sau 40 ngày đêm chay tịnh nơi hoang
địa. Nhưng ma quỷ đã thất bại, bởi Chúa Giêsu đã đặt trọn niềm tin tưởng vào uy
quyền và tình thương của Thiên Chúa, qua việc lắng nghe và làm theo sự
hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Nhờ thế mà từ nơi hoang địa khô cằn giờ đây lại
trở nên địa đàng, từ sự chết do tội của Ađam gây ra nay lại hóa thành sự sống
nhờ Đức Giêsu Kitô. Nơi Đức Giêsu nọc độc của sự chết là tội lỗi đã bị đánh
bại.
- Còn Thánh Phaolô trong thư gửi
tin hữu Rôma, đã tinh tế nhận ra được thiên ý nhiệm mầu trong chương trình cứu
độ của TC, đó là: “Nếu tại bởi một người là Ađam cũ bất tuân phục Thiên
Chúa nên tội lỗi và sự chết đã thâm nhập vào thế gian và lan tràn đến mọi
người; thì cũng bởi một người là Đức Kitô, Ađam mới đã hoàn toàn vâng phục
thánh ý Thiên Chúa nên đã chiến thắng cám dỗ. Nhờ đó mà mọi người được ơn công
chính hóa và được hưởng sự sống đời đời.”
Cám dỗ luôn có mặt
ở mọi nơi, mọi thời và không miễn trừ bất cứ ai. Vì thế, mọi người chúng
ta dù là ai đi nữa đều bị cám dỗ. Trong thực tế đã không ít lần chúng ta đã sa
vào cám dỗ và đã thất bại thảm hại do khước từ tình thương Chúa và không nghe
theo sự hướng dẫn của lương tâm và Lời Chúa. Hậu quả là gây nên biết
bao đau khổ cho bản thân và làm tổn thương đến bao người. Vậy để trở nên
công chính và có được sự sống đời đời, ta phải vượt thắng cám dỗ. Nhưng để
chiến thắng cám dỗ ta phải noi gương Chúa Giêsu:
1. Cầu nguyện và
ăn chay.
Có lần Chúa Giêsu
nói cho các môn đệ Ngài biết: “thứ quỷ này phải phải ăn chay và cầu
nguyện mới trừ được.” (Mc 9,29). Trong vườn cây dầu, Chúa Giêsu cũng
đã cảnh tỉnh các môn đệ: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa chước
cám dỗ, vì tinh thần thì lanh lẹ, còn xác thịt thì yếu đuối." (Mc
26,41) Nhờ cầu nguyện mà ta múc lấy sức mạnh của ơn Chúa như thánh
Phaolô đã có kinh nghiệm khi nói: “Ơn Ta đủ cho con.” (2Cr
12,9).
2. Dùng sức mạnh
của Lời Chúa.
Lời Chúa chính là
ánh sáng soi dẫn bước đường ta đi. Chúa Giêsu đã dùng Lời Chúa như cặp mắt
thần để nhận ra mưu chước của những cám dỗ và Ngài cũng
dùng chính sức mạnh của lời Chúa mà khuất phục kẻ thù là ma quỷ.
3. Học theo kinh
nghiệm của các nhà tu đức.
Bằng cách tránh xa cám dỗ. Ma quỷ là
loài xảo nguyệt và rất tinh ranh nên nó có muôn ngàn cách thế để cám dỗ ta. Có
khi rất mãnh liệt nhưng có lúc cũng rất ngọt ngào và êm dịu khiến làm say ngất
lòng người. Nên các nhà tu đức khuyên chúng ta nên tránh xa những dịp cám dỗ
bằng cách “đào vi thượng sách”!
Có một câu chuyện kể về sự
khôn lanh hiểm độc của ma quỷ khi cám dỗ loài người như sau:
Một tu sĩ kia rất có lòng đạo đức, ngày nào ông cũng thức dậy lúc 5 giờ
sáng để đọc kinh thờ phượng Chúa. Xảy ra là có một hôm ông ngủ quên, thấy vậy,
tướng quỷ Sa-tan đến đánh thức ông. Khi biết kẻ đánh thức mình là Sa-tan, tu sĩ
tỏ dấu thắc mắc, ma quỷ liền nói với ông: “Tôi là ai, điều đó không quan trọng,
việc tôi đánh thức ông là một điều tốt. Ông thấy không, ai làm việc lành đều là
người tốt cả. Vậy tôi cũng là một người tốt”.
Tu sĩ đáp: “Không bao giờ ma quỷ lại làm điều lành, vậy nhân danh Thiên
Chúa, mi phải nói rõ vì lý do nào mi đánh thức ta ?“ Bấy giờ ma quỷ buộc lòng
phải nói thật: “Nếu ngày nào ông ngủ quên không đọc kinh sáng, thì khi thức dậy
ông sẽ cảm thấy hối hận, khiêm tốn và quyết tâm sống đạo đức hơn. Còn ngày nào
ông thức dậy sớm đọc kinh sáng, thì ông sẽ nghĩ mình đạo đức và không quyết tâm
làm các việc lành khác”. Nói xong nó biến mất.
Câu chuyện trên cho thấy sự khôn lanh quỷ quyệt của ma quỷ khi cám dỗ loài
người chúng ta.
Xin cho chúng ta
biết dùng những phương thế hữu hiệu của cầu nguyện, ăn chay hãm
mình, xa lánh các dịp tội, nhất là tích cực áp dụng
lời Chúa vào cuộc sống thường ngày làm vũ khí để chống lại những mưu chước
cám dỗ của ma quỷ.
Suy niệm 3: TRUNG THÀNH VỚI THIÊN CHÚA
Cùng với GH chúng ta bước vào Chúa nhật I MC
thánh. Mùa chay kéo dài 40 ngày, từ thứ tư lễ tro cho đến thứ năm tuần thánh. Mùa chay
nhắc nhở chúng ta về những thử thách của dân Do Thái trong suốt cuộc hành trình
40 năm đi trong hoang địa; cũng như những cơn cám dỗ mà Đức Giêsu phải đối
mặt sau 40 ngày chay tịnh nơi sa mạc. Trước những thử thách dân Do Thái đã quỵ
ngã, còn Đức Giêsu thì lại vượt thắng dễ dàng, nhờ đặt niềm tin trọn vẹn vào TC
và biết xử dụng sức mạnh lời Chúa mà chiến đấu.
Xin cho chúng ta
cũng biết noi gương Đức Giêsu luôn vững vàng niềm tin vào Thiên Chúa,
biết lấy lời Chúa làm kim chỉ nam định hướng cho đời mình, nhờ đó ta mới có thể
vượt thắng được những mưu chước cám dỗ của ma quỷ.
Mỗi Mùa Chay, Giáo Hội dẫn chúng
ta vào hoang địa với Đức Giêsu (Mt 4,1–11). Hoang địa là nơi thử thách, nơi con
người phải chọn lựa giữa trung thành với Thiên Chúa hay chiều theo cám dỗ.
1. Mục đích của cám dỗ
Sau khi chịu phép rửa, Đức Giêsu
được Thánh Thần dẫn vào hoang địa. Ma quỷ muốn tấn công vào điều cốt lõi: lòng
trung thành của Người đối với Chúa Cha.
Xưa kia, Ađam và Evà sa ngã vì
nghi ngờ tình thương Thiên Chúa. Dân Israel cũng nhiều lần bất trung trong 40
năm hoang địa. Ma quỷ tưởng rằng Đức Giêsu cũng sẽ đi vào vết xe đó. Nhưng
Người đã chiến thắng vì luôn sống nhờ vào sức mạnh của Lời Chúa và thi hành ý
Cha.
2. Vì sao Đức Giêsu chịu cám dỗ?
Đức Giêsu là Thiên Chúa, nhưng
cũng thật sự làm người, “ngoại trừ tội
lỗi”. Người chấp nhận chịu thử thách để chia sẻ thân phận yếu đuối của
chúng ta và nêu gương cho chúng ta.
Người chiến đấu không bằng phép
lạ, nhưng bằng chay tịnh, cầu nguyện và Lời Chúa. Chiến thắng của Người trở
thành niềm hy vọng cho chúng ta.
3. Ba cám dỗ-ba hướng tấn công
quen thuộc
- Vật chất: biến đá thành bánh-chỉ lo nhu
cầu thân xác mà quên linh hồn.
- Kiêu ngạo: thử thách Thiên Chúa-bắt Chúa
phục vụ ý riêng mình.
- Quyền lực, danh vọng: đánh đổi Thiên Chúa để lấy vinh
quang trần thế.
Đức Giêsu đáp lại tất cả bằng một
thái độ duy nhất: chỉ thờ phượng và trung thành với Thiên Chúa.
4. Bài học cho chúng ta
Ai cũng có “hoang địa” riêng và
không tránh khỏi cám dỗ. Nhưng chúng ta không chiến đấu một mình. Nếu Ađam vì
bất tuân mà làm nhân loại sa ngã, thì Đức Kitô vì vâng phục đã đem lại ơn cứu
độ.
Mùa Chay trao cho ta ba phương
thế:
- Cầu nguyện để gắn bó với Chúa.
- Chay tịnh để làm chủ bản thân.
- Bác ái để thắng vượt ích kỷ.
Ma
quỷ gieo nghi ngờ; Đức Giêsu dạy ta tín thác. Ai trung thành với Thiên Chúa sẽ
không thất bại. Xin cho Mùa Chay này là thời gian trở về với niềm tin, với lòng
trung thành và với tình yêu dành cho Chúa. Amen.
Suy niệm 4:
Trong đời sống đức
tin, chúng ta ít nhiều cũng trải qua những cám dỗ. Cám dỗ là những
xung đột nội tâm xảy đến khi ta chịu chi phối và thúc đẩy bởi những tác động
khác nhau đến từ bên ngoài lẫn bên trong tâm hồn. Cám dỗ có
thể xảy đến cho bất kỳ ai, vào bất cứ thời điểm nào. Ngay cả với Đức
Giêsu, trong thân phận con người, Ngài cũng không phải là ngoại lệ.
Tin Mừng chúng ta
vừa nghe tường thuật lại biến cố Đức Giêsu được Thánh Thần dẫn vào
trong hoang địa để ăn chay cầu nguyện trong khoảng 40
ngày đêm và Ngài phải chịu những cám dỗ.
Thánh sử Luca
kể lại cho chúng ta biết về ba lần ma quỷ cám dỗ Đức Giêsu
với ba điều khác nhau: của cải, danh vọng và quyền lực. Ba lần chịu cám dỗ và
cũng ba lần Đức Giêsu dùng Lời Chúa để vượt thắng chúng.
Bước vào Mùa
Chay thời điểm đặc biệt mà mỗi người chúng ta ý thức hơn con đường
hiệp hành theo Chúa Giêsu vào hoang địa dưới sự hướng dẫn của
Chúa Thánh Thần. Các cám dỗ đã xảy đến với Đức Giêsu, chắc chắn cũng sẽ xảy đến
với chúng ta.
Cách tự
nhiên, trong chúng ta thường khao khát nhiều thứ, trong đó điển hình
là: của cải, danh vọng và quyền lực. Những thứ này tự chúng không xấu
nhưng nó sẽ trở nên xấu khi ta muốn có chúng bằng mọi giá làm cho ta
dần dà trở nên lệ thuộc hoàn toàn nó mà đánh mất bản thân
mình.
Mùa Chay là thời
gian thuận lợi để chúng ta nhìn lại bản thân mình mà nhận
diện những cám dỗ thường xuyên xảy ra trong nhịp sống thường ngày của
mỗi chúng ta. Để nhận ra cám dỗ, chúng ta cần phải đi vào chay tịnh
và cầu nguyện như Đức Giêsu.
Bị cám dỗ chưa hẳn
đã là điều xấu, nhưng chiều theo cám dỗ khiến ta mất tự do, ân sủng và làm nhạt
nhoà tương quan với Thiên Chúa và xa cách tha nhân mới là điều đáng trách.
Cầu nguyện là lúc
ta đối diện với Lời Chúa, mở lòng để Lời Chúa chiếm trọn tâm hồn và con tim.
Khi đó, chúng ta được chính Lời Hằng Sống nuôi dưỡng và thánh hoá.
Cám dỗ về của cải,
danh vọng và quyền lực ngày càng trở nên đa dạng và tinh vi. Cám dỗ không bao
giờ đến như một cơn sóng thần, mạnh mẽ và dồn dập; nhưng chúng âm ỉ và lôi kéo ta
nhẹ nhàng đến độ nhiều khi ta không nhận ra chúng. Có lẽ nhiều lần chúng ta
cũng tự cho phép mình chiều theo những ngọt ngào của cám dỗ, tự miễn trừ cho
mình những đòi buộc từ bỏ tính hư tật xấu và những việc làm bất chính vì
muốn hợp thức hóa hoàn cảnh, môi trường mà ta đang sống.
Ước gì Mùa Chay trở thành thời điểm giúp ta gắn
kết lại với Chúa qua cầu nguyện, chay tịnh và bác ái để nhờ ơn ban
của Chúa, chúng ta vượt thắng được những yếu đuối, tính hư tật xấu và
tội lỗi cố hữu của mình.
Xin Chúa Thánh Thần
hướng dẫn và ban ơn trợ giúp cho chúng ta trên bước đường hiệp
hành theo Chúa Giêsu. Để như Đức Giêsu, mỗi ngày đức tin và lòng
mến của chúng ta được lớn lên, nhờ đó mà mới dám dấn thân hy sinh
phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân tích cực hơn.
Suy niệm 5:
Bỏ rượu. (Chuyện vui)
Một nhân viên pha
chế rượu nhận thấy rằng vào mỗi buổi tối, một trong những khách hàng quen của
anh đều gọi ba cốc bia. Sau vài tuần nhận thấy thói quen này cứ tái diễn, người
phục vụ rượu hỏi người đàn ông tại sao anh ta luôn gọi ba cốc bia.
Người đàn ông nói:
“Tôi có hai người anh em đã chuyển đến sống ở các nước khác. Chúng tôi đã hứa
với nhau rằng sẽ luôn gọi thêm hai cốc bia mỗi khi uống như một cách để giữ
tình cảm gia đình."
Vài tuần sau, nhận
thấy rằng người đàn ông chỉ gọi hai cốc bia, người phục vụ rượu nói: “Tôi xin
chia buồn với bạn về cái chết của một trong hai người anh em của bạn. Bạn biết
đấy, chỉ có hai cốc bia…”
Người đàn ông trả
lời: “Bạn sẽ rất vui khi biết rằng hai anh trai của tôi vẫn còn sống và khỏe
mạnh… Chỉ là bản thân tôi đã quyết định bỏ rượu trong Mùa Chay!”
Trưa Chúa nhật thứ nhất mùa
chay, ngày 9 tháng 03 năm 2014, có đông đảo tín hữu hành
hương quy tụ về quảng trường Thánh Phêrô để nghe lời giáo huấn của Đức Thánh
Cha, cùng đọc kinh Truyền Tin với ngài và nhận phép lành từ ngài. Trong bài
chia sẻ, Đức Thánh Cha đã lấy gợi hứng từ bài Tin Mừng Đức Giêsu chịu cám dỗ
trong sa mạc của Tin Mừng Mt 4,1-11. Ngài nói:
Anh chị em thân mến, Chào buổi
sáng!
Mỗi năm, Tin Mừng của Chúa Nhật
thứ nhất Mùa Chay trình bày cho chúng ta biến cố Đức Giêsu chịu cám dỗ,
Thánh Thần ngự xuống trên Ngài khi Ngài chịu phép rửa tại sông Giordan, rồi đưa
Ngài vào hoang địa để chiến đấu với Satan trong bốn mươi ngày trước khi bắt đầu
sứ vụ công khai.
Tên cám dỗ tìm cách kéo Đức
Giêsu ra khỏi kế hoạch của Chúa Cha, khỏi con đường hiến tế và tình
yêu để đảm nhận một con đường dễ dàng hơn của thành công và
quyền lực. Cả Đức Giêsu và tên Satan đều trích dẫn những đoạn Kinh Thánh.
Thực ra, để kéo Đức Giêsu ra khỏi con đường thập giá, tên quỷ đã bày
ra trước mắt Đức Giêsu một niềm hy vọng sai lạc về Đấng Messia: sự
sung túc về kinh tế, trong lời xúi giục hóa đá thành bánh; một kiểu biểu diễn
và phép lạ, với ý tưởng gieo mình xuống từ nóc đền thờ Giêrusalem và
để Thiên Thần cứu mình; và cuối cùng là đánh đổi quyền lực và sự thống trị với
việc thờ phượng Satan. Đây là bộ ba cám dỗ mà chúng ta đã biết rõ về
chúng!
Đức Giêsu đã quyết liệt chống trả
lại tất cả những cám dỗ này và biểu lộ ý muốn đi theo con đường mà Cha đã vạch
ra mà không có sự thỏa hiệp với tội lỗi và lý luận của thế gian. Khi đáp trả
lại Satan, Ngài đã nhắc chúng ta rằng "con người sống không chỉ nhờ cơm
bánh nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra." (Mt 4,4); và
điều này ban cho chúng ta sức mạnh và nâng đỡ chúng ta trong cuộc chiến chống
lại tinh thần thế gian vốn đẩy con người xuống cấp độ của những nhu cầu chính
yếu, khiến con người quên đi những gì là chân, là thiện, là mỹ, cơn đói khát
Thiên Chúa và tình yêu của Người. Hơn nữa, Ngài cũng nhắc nhở chúng ta
rằng "có lời Kinh Thánh viết rằng: ngươi chớ thử thách Chúa là
Thiên Chúa của ngươi", bởi vì con đường đức tin phải trải qua
bóng tối, nghi ngờ và chính điều đó bồi đắp cho sự kiên nhẫn và sự chờ đợi lâu
bền. Cuối cùng, ngài nhắc nhở rằng "có lời Kinh Thánh nói: Ngươi
chỉ thờ phượng một mình Thiên Chúa mà thôi” (Mt 4,10); có nghĩa
là chúng ta phải loại bỏ mọi ngẫu tượng, mọi thứ phù phiếm và xây dựng cuộc
sống của chúng ta trên những gì là thiết yếu.
Những lời này của Đức Giêsu sau
đó đã được chuyển thành hành động cụ thể. Sự trung tín tuyệt đối của Ngài vào
kế hoạch tình yêu của Chúa Cha ba năm sau đã đưa dẫn Ngài đến việc hạ bệ "thủ
lãnh thế gian này.” (Ga 16,11), trong cuộc Tử Nạn và Thập Giá và nơi
đó Giêsu đã đi đến cuộc chiến thắng chung cuộc, chiến thắng của tình yêu.
Anh chị em thân mến, thời gian
mùa chay là cơ hội thuận lợi để tất cả chúng ta thực hiện cuộc hành trình hoán
cải, chân thành đối diện với chính mình cùng với những trang Tin Mừng này.
Chúng ta hãy làm mới lại lời hứa chúng ta đã có khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội:
từ bỏ Satan và tất cả những hành vi và cám dỗ của nó để bước đi trên con đường
của Thiên Chúa và "đạt đến sự Phục sinh trong niềm vui của Thánh Thần.”
Sau khi đọc kinh Truyền Tin, Đức
Thánh Cha ban phép lành và gửi lời chào đến tất cả các khách hành hương, các
nhóm, đoàn, hội đang hiện diện ở quảng trường thánh Phêrô và ngài xin họ hãy
cầu nguyện cho ngài.
Phêrô Lê Hoàng Nam, SJ
Suy niệm 6: Mc 1, 21-28
Câu chuyện về Christopher:
Kho truyện các thánh có ghi lại
câu chuyện về một người mang Đức Ki-tô như sau: Có một chàng thanh niên có
sức mạnh phi thường nhưng không ai biết tên thật của chàng. Anh này có tâm
nguyện đi tìm một người quyền lực nhất để phụng sự.
Đầu tiên anh nghĩ không ai quyền
lực hơn viên tướng cướp trong vùng anh đang ở nên đến gia nhập vào băng cướp và
anh được phân công làm hộ vệ cho viên tướng cướp. Nhưng mỗi lần băng cướp sắp
có vụ làm ăn, anh ta lại thấy viên tướng cướp phải đến nhờ thầy phù thuỷ làm
phép cho vụ làm ăn thành công. Thế là anh thanh niên liền bỏ viên tướng cướp để
xin theo hầu thầy phù thuỷ.
Một hôm, khi theo thầy phù thủy
đi hành nghề, anh thấy thầy đang đi trên đường gặp một cây Thánh giá bên vệ
đường liền sợ hãi không dám đi tiếp mà vòng lại đi đường khác. Thế là anh chàng
lực sĩ liền bỏ thầy phù thuỷ quay trở lại đứng bên cây Thánh giá để mong được
gặp chủ nhân cây Thánh giá.
Anh ta cứ đứng đó chờ mấy ngày
liền mà vẫn không thấy chủ nhân cây Thánh giá xuất hiện. Nơi đó gần một khúc
sông cạn và có nhiều người đã phải mạo hiểm lội bì bõm qua sông để sang bờ bên
kia.
Một hôm, một chú bé đến nhờ anh
lực sĩ cõng qua sông và anh đã lập tức giúp cõng em trên vai lội qua sông. Có
điều khi mới được một đoạn ngắn, anh lực sĩ tự nhiên cảm thấy chú bé trở nên
quá nặng, liền hỏi lý do và được chú bé trả lời: "Ta nâng đỡ cả trái đất
trên tay nên làm sao không nặng cho được". Cậu bé còn cho biết mình chính
là chủ nhân của cây Thánh giá mà chàng lực sĩ đang muốn gặp mặt.
Thế là chàng lực sĩ liền xin đi
theo vị Chúa Ki-tô Chủ Tể của trái đất này. Chúa Ki-tô dạy anh: “Nếu muốn phụng
sự Ta, con hãy dựng một căn lều và luôn ở cạnh cây Thánh giá, để nếu có ai muốn
qua sông thì con sẽ cõng họ qua”. Chàng lực sĩ liền làm theo lệnh Chúa truyền.
Từ ngày đó, dân chúng trong vùng đã gọi chàng bằng cái tên thân thương là
KÍT-TÔ-PHƠ (Christopher), nghĩa là “Người mang vác Chúa Ki-tô”.
Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế Con
Thiên Chúa đầy uy quyền, có sứ mệnh tiêu diệt ma quỷ và thiết lập triều đại
Nước Thiên Chúa:
1. Đức Giê-Su tỏ uy quyền qua lời
nói.
- Đức Giê-su đã rao giảng Lời
Chúa trong hội đường Ca-phác-na-um khiến người nghe phải kinh ngạc, vì: "Người
giảng dạy người ta như Đấng có uy quyền chứ không như các luật sĩ" (Mc
1,22).
- Vì Người là chính Lời Thiên
Chúa nhập thể làm người và được Chúa Cha sai đến làm Đấng Thiên Sai, nên Người
chỉ nói Lời Thiên Chúa cho loài người chứ không bị lệ thuộc vào thế giá của các
ngôn sứ đi trước, kể cả ông Mô-sê. Đức Giê-su đã biểu lộ uy quyền khi thay đổi
các tập tục trong Luật Mô-sê: "Anh em đã nghe Luật dạy người xưa
rằng: Chớ giết người… Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình
thì phải bị đưa ra tòa…” (Mt 5,21-22).
- Người có quyền chữa bệnh trong
ngày hưu lễ Sa-bát, và đã trả lời những kẻ hạch hỏi Người về việc làm ấy như
sau: "Ngày Sa-bát được làm ra vì con người, chứ không phải con
người vì ngày Sa-bát; Bởi đó, Con Người làm chủ luôn cả ngày Sa-bát" (Mc
2,27).
2. Đức Giê-Su chứng tỏ uy quyền
trên thiên nhiên và chữa lành. Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai đầy uy quyền như sau:
- Làm chủ các định luật tự nhiên:
Người biến nước lã trở thành rượu nho trong bữa tiệc cưới thành Ca-na; Nhân 5
chiếc bánh và 2 con cá ra nhiều và cho môn đệ phân phát cho 5 ngàn người được
ăn no trong hoang địa; Đi trên mặt nước mà đến với thuyền các môn đệ; Dẹp yên
sóng gió giữa biển hồ; Giúp các môn đệ bắt được mẻ cá lạ lùng...
- Làm chủ bệnh tật: Chúa
Giêsu chữa lành các bệnh hoạn tật nguyền như: Cho người mù được sáng mắt;
Kẻ câm nói được, người điếc được nghe, người què đi được, người phong cùi được
sạch…
- Phục sinh kẻ chết: Người còn
truyền cho một bé gái mới chết đang nằm trên giường được trỗi dậy; Cho một
thanh niên mới chết tại cửa thành Na-im đang mang đi chôn; Cho anh La-da-rô đã
chết và được chôn trong mồ 4 ngày sống lại và ra khỏi mồ; Và chính Người đã từ
cõi chết trỗi dậy vào ngày thứ ba đúng như Người đã tiên báo.
3. Đức Giê-Su chứng tỏ uy quyền
trên ma quỷ.
- Gặp Đức Giê-su, ma quỷ đã nói
ra sứ vụ cứu thế của Người như sau: “Ông Giê-su Na-gia-rét, chuyện
chúng tôi can gì đến ông mà ông đến để tiêu diệt chúng tôi ? Tôi biết
ông là ai rồi: Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!” (Mc 1,24).
Đức Giê-su đã lên tiếng quát nạt ma quỷ: “Câm đi, hãy xuất khỏi người
này!”. Thần ô uế lay mạnh người ấy, thét lên một tiếng, và xuất khỏi anh ta
(Mc 1,25-26). Chính thái độ sợ hãi và vâng phục Đức Giê-su của ma quỷ cho thấy
quyền năng Thiên Sai của Người như đám đông chứng kiến đã nói: “Ông ấy
ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh!” (Mt
1,27b).
- Nhìn vào thế giới hôm nay,
chúng ta thấy biết bao xiềng xích của ma quỷ đang trói buộc con người. Điều
quan trọng là người ta lại không nhận biết mình đang làm nô lệ cho nhiều
thứ thuộc về ma quỷ như: quyền lực, tình dục, ma túy, cờ bạc, rượu chè…
- Ma quỷ thường được các họa sĩ
vẽ như một kẻ đen đủi xấu xa, có sừng, trông rất đáng sợ. Nhưng như vậy thì
người ta sẽ dễ nhận biết nó và nó sẽ khó cám dỗ thành công được. Ngày nay khi
cám dỗ loài người, ma quỉ thường mang dáng vẻ xinh đẹp, hấp dẫn, sang trọng. Nó
tấn công người ta bằng những thủ đoạn tinh tế ngọt ngào. Nó nắm rõ điểm yếu của
từng cá nhân, từng tập thể để tấn công. Ngày nay những ai tin vào bói toán, tin
ngày lành tháng tốt, đi cầu cơ, xem lá số tử vi, tôn thờ thần tài… đều có nguy
cơ dễ bị ma quỷ tấn công. Nhất là nhiều người tân tiến hôm nay không còn tin
vào sự hiện hữu của ma quỉ, khiến chúng dễ thành công trong việc cám dỗ người
ta phạm tội chống lại Thiên Chúa.
4. Tín thác vào Chúa để xua trừ
ma quỷ và phục vụ tha nhân:
- Noi gương tông đồ Phê-rô, mỗi
tín hữu hãy đặt trọn niềm tin vào Chúa Giê-su: Sau bài
giảng về Bánh Hằng Sống, nhiều môn đệ không muốn Đức Giê-su nữa, và chỉ còn
Nhóm Mười Hai ở lại với Người. Đức Giê-su đã không rút lại ý định lập bí tích
Thánh Thể và đòi các ông phải xác định: tin hay không tin, bỏ đi hay ở lại như
sau: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao ?”. Ông Phê-rô
đại diện Nhóm Mười Hai đáp lại: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết
đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con,
chúng con đã tin và nhận biết rằng: Chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga
6,68-69).
- Để trung thành tin theo Chúa
Giê-su, các tín hữu chúng ta cần năng tham dự các buổi học sống Lời
Chúa: Mỗi lần hiệp sống Tin Mừng, chúng ta sẽ khám phá thêm sự mới mẻ của
Lời Chúa, và nhận ra quyền năng của Chúa thể hiện trong thiên nhiên và qua các
dấu chỉ của thời đại như lời thánh vịnh: "Lời Chúa là đèn soi cho
con bước. Là ánh sáng chỉ đường cho con đi" (Tv.118,105). Nhờ
năng tham dự các buổi học hỏi và chia sẻ lời Chúa cũng như đọc kinh sáng
tối Gia Đình hằng ngày… chúng ta hy vọng sẽ từng bước trở thành "muối
men", được hòa lẫn vào thúng bột xã hội để làm cho cả xã hội đều dậy lên
men tình yêu của Chúa. Chính “Ánh sáng" từ các việc lành chúng ta làm sẽ giúp
lương dân nhận biết tin thờ Chúa Cha trên trời.
- Hiện nay ma quỉ vẫn luôn tìm
cách phá hoại công trình cứu độ của Chúa Giê-su là Hội thánh. Mỗi người chúng
ta cần tích cực cộng tác với những người thiện chí để đẩy lùi các tệ nạn
xã hội ra khỏi môi trường mình đang sống, xây dựng cho gia đình,
khu xóm, trường học, nhà máy… ngày một an toàn sạch đẹp và văn minh hơn. Cần
quan tâm đến những bệnh nhân và người tàn tật nghèo đói, để giúp họ tin vào
quyền năng và lòng Chúa thương xót, nhờ đó họ sẽ có thể vượt qua nghịch cảnh và
nhận được ơn Chúa cứu độ.
Lm Đan Vinh
Thứ hai: Lv 19,
1-2.11-18; Mt 25, 31-46
Suy niệm 1:
Nên Thánh là tiêu
chí mà mọi người, đặc biệt là các kitô hữu hướng đến, vì đó là lời mời gọi của
Thiên Chúa "Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Thiên
Chúa của các ngươi, Ta là Đấng Thánh.” (Lv 19, 2). Nhưng làm thế nào
để nên thánh?
Bài đọc I cho chúng ta
biết cần phải trung thành tuân giữ các giới răn của Chúa. Các điều răn của Chúa
gồm tóm vào hai điều chính yếu:
- "Mến
Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn". Để cụ thể hóa điều này,
sách Lê-vi chỉ dạy chúng ta "không được lấy danh Chúa mà thề gian:
làm như thế là ta xúc phạm đến danh Thiên Chúa" (Lv 19, 12).
- "Yêu
đồng loại như chính mình". Để thực hiện cụ thể điều luật này,
sách Lê-vi khuyên dạy chúng ta phải giữ đức công bằng (x. Lv 9,11-16); đồng
thời cần phải loại trừ lòng ghen ghét, hận thù, oán hận ra khỏi lòng mình.
Còn bài tin
mừng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta thực thi luật tình yêu cách
tích cực hơn qua những việc làm bác ái cụ thể như: “cho kẻ đói ăn, khát
uống, tiếp đón khách trọ, chia sẻ quần áo mặc, giúp đỡ người đau yếu…” Chúa
Giêsu cũng cho biết khi giúp đỡ tha nhân nhất là những người nghèo khổ là ta
làm cho chính Chúa. Như vậy bác ái đối với tha nhân chính là điều kiện cần
thiết để được Chúa chúc phúc và xứng đáng đón nhận phần thưởng nước trời.
Xin Chúa cho chúng
ta mùa chay biết gia tăng việc làm bác ái, nhất là biết lưu tâm giúp đỡ những
người nghèo về vật chất và khổ về tinh thần, cũng như siêng năng thực hành các
việc thờ phượng Chúa.
Suy niệm 2:
Ước muốn của người
kitô hữu chúng ta là gi? Nếu không phải là được hạnh phúc nước trời làm gia
nghiệp. Nhưng làm thế nào để đạt được điều mà chúng ta hằng mong ước đó? Lời Chúa
hôm nay sẽ chỉ dạy chúng ta.
Thánh Gioan đã định
nghĩa Thiên Chúa là “Tình Yêu”. Chúa Giêsu đi vào trần gian không
chỉ thể hiện tình yêu qua việc giúp đỡ mọi người, đặc biệt là những người nghèo
khổ bệnh tật,…mà còn vạch ra cho chúng ta con đường tình yêu qua cái “chết
cho người mình yêu”, để rồi mời gọi tất cả những ai muốn vào nước trời phải
đi vào con đường tình đó: “yêu như Chúa yêu”.
Sở dĩ chúng ta phải
yêu thương mọi người vì: (1) tất cả đều do Chúa dựng nên giống hình ảnh Chúa.
(2) Mọi người đều được Chúa Giêsu đổ máu để cứu chuộc. (3) Chính Chúa Giêsu
cũng đồng hoá Người với tất cả những ai bé nhỏ nghèo hèn nữa. Do vậy ai giúp
người, nhất là người nghèo khổ chính là giúp Chúa.
Chúng ta thường hay
phân biệt hai loại nghèo: (1) nghèo mà dễ thương là những người chí thú lo làm
ăn lương thiện, nhưng vì hoàn cảnh họ không khá lên được. (2) Loại nghèo khó
thương, là những ai suốt ngày chỉ lo cờ bạc, rượu chè, gian tham, lười biếng
không lo làm, nên sinh nghèo. Loại nghèo này đáng phải trừng phạt và loại trừ
mới đáng. Tuy nhiên với cái nhìn của Chúa thì hoàn toàn khác. Loại nghèo xem ra
khó thương, thì đó lại là loại nghèo đáng thương trước mặt Chúa, vì họ không
chỉ nghèo vật chất mà nghèo cả tinh thần và kiến thức. Do đó họ đáng cần được
yêu thương và giúp đỡ.
Mỗi người đều được
Chúa kêu mời hưởng hạnh phúc muôn đời. Do đó dù con người có xấu xa, tội lỗi
như thế nào đi nữa thì họ cũng là đối tượng được Chúa yêu thương và tôn trọng,
nên chúng ta không có quyền loại trừ. Nhưng ta phải làm gì để nói lên tình yêu
dành cho tha nhân?
Bài tin mừng hôm
nay gợi cho chúng ta ý thức nổ lực thực hành sống mười bốn mối yêu người.
- Thương xác bảy
mối: Cho kẻ đói
ăn, kẻ khác uống, rách rưới ăn mặc, viếng kẻ liệc cùng kẻ tù đày, cho khách đổ
nhờ, chuộc kẻ làm tôi, chôn xác kẻ chết…
- Thương linh hồn
bảy mối: Lấy lời lành
khuyên người, mở dạy kẻ mê muội, an ủi kẻ âu lo, răn bảo kẻ có tội, tha kẻ
khinh dễ ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cầu cho kẻ sống và kẻ chết.
Sống được như thế
là chúng ta đã chuẩn bị hành trang sẵn sàng cho ngày Con Người đến trong vinh
quang. Chắc chắn ngày ấy chúng ta sẽ đứng bên phải, thuộc hạng chiên ngoan,
xứng đáng được Chúa chúc phúc và thưởng vương quốc mà Người đã dọn sẵn cho.
Xin cho mùa chay
này chúng ta ý thức sống tình bác ái với tha nhân tích cực hơn bằng cái nhìn
ngay thẳng và trong sáng, bằng những cử chỉ thân tình, bằng những nụ cười quý
mến, bằng đôi chân ra đi đến với anh em, bằng đôi tay sẵn sàng mở rộng để chia
sẻ với anh chị em, nhất là những ai nghèo khổ. Nhờ thế chúng ta sẽ nên giống
Chúa và được Chúa chúc phúc lành cho chúng ta hôm nay và mai sau.
Suy niệm 3:
Điều kiện gì để ta
được Chúa ban thưởng nước trời?. Và tiêu chí nào làm cho ta vui mừng
trong ngày Chúa phán xét? Đó là điều mà Tin mừng hôm nay muốn nói đến. Xin cho
chúng ta biết để tâm lắng nghe và thi hành những điều kiện cần thiết như Chúa
muốn, nhờ đó ta mới đạt được những điều tốt đẹp mà Chúa muốn nơi ta.
Tin mừng hôm nay
vén mở quang cảnh trang nghiêm trong ngày phán xét của Thiên Chúa. Ngày ấy, Đức
Giêsu sẽ là Vua ngự đến trong vinh quang để xét xử muôn dân. Ngày ấy muôn dân
sẽ được tập họp hai bên tả hữu trước mặt Vua Giêsu để nghe xét xử và phán
quyết.
Tiêu chí xét xử
trong ngày đó sẽ không dựa trên chức quyền, giàu sang, kiến thức, màu da chủng
tộc hay tôn giáo…nhưng Vua Giêsu chỉ căn cứ trên tiêu chí duy nhất đó là việc
làm bác ái dành cho những người bé nhỏ và nghèo khổ. Bởi những người này là
hiện thân của Chúa Giêsu. Giúp đỡ họ là giúp đỡ chính Chúa Giêsu.
Phần thưởng mà Vua
Giêsu dành cho họ là được đến với Người và lãnh lấy phần thưởng là gia nghiệp
nước trời. Còn án phạt mà những người đã không thực thi tình bác ái đối với
những người bé mọn nhất là lui khỏi mặt Người và vào lửa muôn đời đã đốt sẵn cho
ma quỷ.
Thật hạnh phúc biết
mấy cho những ai được ở bên hữu Vua Giêsu vì họ đã được Chúa ghi nhận công đức
mà ban thưởng xứng đáng.
Trong mùa chay này,
xin Chúa cho chúng ta biế sống vị tha và cố gắng hy sinh tiết chế những nhu cầu
không cần thiết để góp phần vào chương trình mục vụ bác ái, giúp đỡ cho những
ai đang nghèo khổ.
Thứ ba: Is
55, 10-11; Mt 6, 7-15.
Suy niệm 1:
Trong hoàn cảnh bị
lưu đày bên Babylon. Dân Chúa phải sống trong tình trạng tủi nhục, đau khổ nên
lúc nào họ cũng trông chờ ngày Thiên Chúa ra tay giải thoát họ. Họ nhớ lại lời
Chúa hứa với cha ông họ và mong Ngài mau đến để thực hiện lời hứa.
Trong bố cảnh đó,
ngôn sứ Isaia đã lên tiếng chấn an họ hãy an tâm vì Thiên Chúa sẽ không thất
tín bao giờ.
Bằng hình ảnh mưa
móc làm cho đất phì nhiêu, làm cho hạt giống đâm chồi nẩy lộc sinh hoa kết trái
và đem lại cơm bánh cho con người. Isaia muốn nhấn mạnh đến hai đặc tính của
Lời Chúa.
1. Lời Chúa là lời
Chân lý vì thế Lời Chúa hứa với dân Ngài chắn chắn sẽ được thực hiện, vì“Cũng
như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời" thế nào thì lời Chúa
hứa sẽ không bao giờ bị rút lại.
2. Lời Chúa có sức
biến đổi tâm hồn và cuộc sống con người trở nên an vui và hạnh phúc, tựa như
mưa sa tưới gội "làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ
gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn" như vậy. Vì thế tiên
tri Isaia kêu gọi mọi người hãy tin tưởng vào Lời Chúa và hãy để cho Lời Chúa
biến đổi cuộc đời.
Còn bài tin mừng
hôm nay thì mời gọi chúng ta thực hiện Lời Chúa qua hai việc làm cụ thể đó là:
Cầu nguyện với lời kinh Lạy Cha và thực thi bác ái với nhau bằng việc tha thứ
cho nhau. Thực thi lời dạy của Chúa Giêsu dạy tin chắn cuộc đời chúng ta sẽ
tràn ngập niềm vui và hạnh phúc.
Xin cho chúng ta
trong Mùa chay này biết chuyên chăm cầu nguyện và tích cực sống tình bác ái
bằng việc tha thứ những lỗi lầm cho nhau nhằm góp phần xây dựng Họ đạo chúng ta
trở thành cộng đoàn hiệp nhất trong đức tin và đức ái vững mạnh theo thánh ý
của Chúa và ước mong của Gíao Hội.
Suy niệm 2:
Cầu nguyện là một
trong ba việc làm đạo đức quan trọng mà Giáo Hội nhắc nhở chúng ta thi hành
trong mùa chay thánh. Nhưng chúng ta đã cầu nguyện như thế nào? Có hợp với ý
muốn của Chúa chưa? Hãy lắng nghe lời Chúa dạy hôm nay, để điều chỉnh lại việc
cầu nguyện của chúng ta cho xứng hợp.
Thông thường khi
nói đến cầu nguyện, đa số chúng ta đều nghĩ đến xin ơn nọ ơn kia, it ai nghĩ
rằng cầu nguyện là tìm cách làm vinh danh Chúa và làm công việc của Chúa. Xin
những ích lợi vật chất cho mình, đành là một điều cần, nhưng nó còn mang tính
cách vị kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân mà không quan tâm đến ý muốn của Chúa. Vì thế
Chúa dạy cho các Tông đồ và chúng ta cách thức cầu nguyện sao cho phù hợp qua
lời kinh Lạy Cha.
Phân tích kinh lạy
cha, ta thấy gồm có bảy điều nguyện xin và được chia ra làm hai phần rõ rệt:
- Phần thứ nhất: gồm ba điều
nguyện ước hướng về Chúa:
Xin cho Thánh danh
Thiên Chúa được thiên hạ nhận biết, mến yêu và phụng sự.
Xin cho Nước Cha
tức là uy quyền của Chúa hay là Giáo Hội Ngài thành lập được lan rộng khắp nơi,
được thống trị trong cả thế giới nhất là trong các linh hồn.
Xin cho thánh ý Cha
được mọi người ở dưới đất tuân phục cách hoàn hảo cũng như các thánh ở trên
trời hằng tuân phục.
- Phần thứ hai: gồm bốn lời
nguyện xin:
Nguyện xin cho nhu
cầu vật chất và tinh thần cho chính bản thân ta và cho mọi người.
Xin Chúa cho ta có
đủ của ăn, để nuôi sống phần xác hằng ngày.
Xin Chúa tha nợ là
tội cho ta vì đã làm mất lòng Chúa. Với điều kiện là ta cũng phải tha thứ cho
những ai xúc phạm đến ta.
Xin Chúa đừng để
chúng ta sa chước những cám dỗ.
Xin Chúa cứu chúng
ta khỏi mọi sự dữ, tai ương, hoạn nạn ở trần gian này.
Những lời nguyện
xin ở trên phải luôn luôn được nuôi dưỡng bằng những tâm tình tin cậy, yêu mến
của người con đối với người Cha. Nên người cầu nguyện phải coi Thiên Chúa là
Cha, một người Cha trên hết các người Cha.
Sau khi dạy kinh
lạy cha, Chúa Giêsu đặc biệt nhấn mạnh đến việc tha thứ. Đây là vấn đế khó.
Mình xin Chúa tha nợ (tội) cho mình thì dể, nhưng mình tha nợ (lỗi) cho người
khác quả là không dể. Sở dĩ khó bởi vì chúng ta xem trọng mình hơn Chúa. Nếu
suy nghĩ kỉ chúng ta thấy rằng: chúng ta xúc phạm đến Chúa là Đấng Chí Thánh,
là Đấng Tạo Dựng… thì nặng nề biết dường nào. Ngược lại người khác xúc phạm đến
ta chỉ là thụ tạo thì có đáng gì. Như thế ta nợ Chúa quá nặng, người khác nợ ta
thì quá nhẹ. Chúa lại lấy cái nợ nhẹ ra để làm điều kiện tha nợ nặng cho chúng
ta quả là ân huệ lớn lao cho ta rồi. Nếu ta không chấp nhận đúng là ta quá dại
khờ.
Hơn nữa chẳng những
Chúa không tha tội cho ta mà Chúa cũng không nhận lời cầu xin và lễ dâng của ta
nữa. Chính Chúa đã nói rõ: “Khi đi dâng lễ mà nhớ mình có chuyện bất
hoà với anh em, thì hãy để của lễ đó mà về làm hòa với anh em đã, rồi hãy trở
lại dâng của lễ sau”.
Hằng ngày, chúng ta
vẫn đọc kinh lạy cha, chúng ta thờ lạy Chúa, chúng ta tôn vinh Chúa, chúng ta
cầu xin những ơn hồn xác, điều đó tốt lắm. Riêng việc cầu xin ơn tha thứ cho
nhau là điều rất cần nhưng chúng ta lại hay quên.
Xin Chúa giúp ta ít
là trong mùa chay này biết sẵn sàng quảng đại tha thứ cho những ai đã đang và
sẽ làm cho chúng ta đau lòng, nhờ đó ta mới xứng đáng được Chúa tha thứ và đón
nhận dồi dào phúc lành của Người.
Thứ tư: Gn
3, 1-10; Lc 11, 29-32
Mặc dù được nghe
rất nhiều lời giảng dạy và chứng kiến không ít những phép lạ Chúa Giêsu làm.
Nhưng người Do Thái thời Chúa Giêsu vẫn cứng lòng, không ăn năn hoán cải. Tin
Mừng hôm nay, Chúa Giêsu quở trách họ rất nặng lời.
Xin đừng để chúng
ta đi vào vết xe đỗ như người Do Thái xưa. Nhưng cho chúng ta biết khiêm tốn
đón nhận Lời Chúa và Giáo huấn của Giáo hội chỉ dạy mà hoán cải đời sống mỗi
ngày nên tốt hơn.
"Cảnh nào cảnh
chẳng đeo sầu, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ." (Truyện Kiều
- Nguyễn Du). Việc thay đổi con người không hệ tại ở hình thức bên ngoài,
nhưng trước hết là phải thay đổi tận cõi lòng, thay đổi não trạng và cái nhìn.
Dù có chứng kiến bao là phép lạ, dù có vỗ tay ca ngợi không ít những lời hay ý
đẹp của Chúa Giêsu, rốt cùng họ vẫn không tin. Như hết cách, Chúa Giêsu đành
phải thốt lên: “Thế hệ này là một thế hệ gian ác, chúng xin điềm lạ.
nhưng chúng sẽ không thấy được dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ông Gio-na”.
Như một cố gắng
cuối cùng, Chúa Giêsu đã dùng lại hai câu chuyện ngày xưa, hy vọng họ suy nghĩ
lại mà thay đổi não trạng.
Nhắc lại chuyện
Gio-na ngày xưa (bài đọc I), nhằm lưu ý họ rằng: Ngày xưa chỉ lời rao giảng
miễn cưỡng của Ngôn sứ Giona. Vậy mà cả thành Ninivê, từ vua đến dân, từ già
đến trẻ, từ người đến súc vật đều ăn chay, sám hối và khẩn xin sự tha thứ của
Chúa. Vậy mà hôm nay có Người còn hơn Giona. Đấng mà Giona loan báo đã đến và
rao giảng vậy mà họ lại không để tâm ăn năn hối cải. Thật đáng buồn!
Nhắc lại câu chuyện
nữ hoàng phương nam vượt đường xa vạn dặm, bất chấp khó khăn, tốn kém đến để
diện kiến vị vua khôn ngoan là Salômôn. Bà ta đã toại nguyện, hết lòng cảm phục
sự khôn ngoan của nhà vua. Nhưng ở đây còn trọng hơn vua Salômôn nữa, vì Người
chính là sự khôn ngoan của Thiên Chúa và là vua trên hết các vị vua. Thế mà họ
chẳng thèm nghe. Thật đau lòng!
Chính lòng tự mãn
và mù quáng đã làm hỏng hết mọi ơn phúc, vì thế không còn cách nào để tự chữa
mình được nữa.
Xin cho chúng ta
đừng như thế hệ Do Thái xưa mù quáng và tự mãn, nhưng trở nên giống dân thành
Ninivê và nữ hoàng phương nam mau mắn lắng nghe lời Chúa và quyết tâm ăn năn
sám hối; cũng như biết khiêm tốn nhận mình còn nhiều khiếm khuyết, thiếu sót,
tật xấu và tội lỗi, để theo sự khôn ngoan của Chúa hướng dẫn mà sửa đổi đời
sống mỗi ngày nên tốt hơn.
Thứ năm: Et
14, 1. 3-5.12-14; Mt 7,7-12
Suy niệm 1:
Lời Chúa hôm nay
khuyến khích chúng ta hãy kiên trì cầu nguyện với tất cả niềm tin tưởng vào
tình thương của Thiên Chúa là Cha.
Người xưa thường
nói: "Có chí thì nên; kiến tha lâu đầy tổ; góp gió thành bão; năng nhặt
chặt bị; ngồi lâu câu bền; thua keo này, bày keo khác…". Nhờ thế mà “dẫu
rằng chí thiển tài hèn, chịu khó nhẫn nại làm nên cơ đồ”…
Kinh nghiệm ở đời
cho biết: muốn thành công bất cứ việc gì, đều đòi buộc chúng ta cũng phải dầy
công vất vả. Người nông dân muốn có mùa vụ như ý thì phải chấp nhận một nắng
hai sương, mồ hôi nước mắt. Học sinh muốn trở thành bác sĩ, kỹ sư... phải miệt
mài đèn sách bao năm.
Kinh nghiệm ấy được
cha ông ta đúc kết thành câu châm ngôn : "Có công mài sắt có ngày nên
kim”. Câu châm ngôn này không chỉ đúng trong lãnh vực tự nhiên mà còn đúng cả
trong lãnh vực siêu nhiên nữa.
Sách sáng thế ghi
lại câu chuyện của tổ phụ Abraham khi cầu nguyện với TC. Để xin lòng khoan dung
của TC, Abraham đã mặc cả với Chúa trong kiên trì, mỗi lần cầu xin ông đều hạ
dần số người công chính trong thành Xơ-đôm xuống, với mong muốn xin Thiên Chúa
tha phạt cho toàn thể con dân trong thành. Tựa như một vị trạng sư, Abraham đã
lý luận “đôi co” và kiên nhẫn với Chúa về số phận người công chính chẳng lẽ
phải chịu chung số phận với người tội lỗi sao? Nhờ thế mà cuối cùng Thiên Chúa
cũng “đành chịu thua” trước sự kiên trì của ông. Bởi lẽ Thiên Chúa chính là
Đấng "chậm bất bình và đầy lòng khoan dung". (X. St 16,
18-33).
Lòng kiên nhẫn cầu
nguyện của ông Môsen cũng vậy. Khi ông giang tay cầu nguyện thì dân Chúa thắng
thế. Còn khi ông mệt mỏi xuôi tay xuống thì quân A-ma-lếch thắng thế. (X. Xh
17, 8-13).
Thánh Phaolô trong
thư gửi Timôthêô cũng đã căn dặn là phải kiên nhẫn, trung tín cầu nguyện và
năng suy gẫm Lời Chúa trong Thánh Kinh.
Rồi đến dụ ngôn bà
góa trong Tin mừng. Bà đã nài nỉ xin vị thẩm phán xét xử công minh nỗi oan ức
cho bà. Mặc dù ông ta là vị thẩm phán bất lương, nhưng để tránh sự quấy rầy
phiền phức của bà, cuối cùng ông cũng phải xét xử để phân giải cho bà.
Cuộc trở lại của
thánh Augustinô luôn là một ví dụ điển hình, nói lên lòng kiên nhẫn trong việc
cầu nguyện của bà mẹ Mônica. Phải mất gần 20 năm trời, lời cầu xin của bà
Mônica mới được Chúa nhậm lời.
Đặc biệt bài đọc I
hôm nay cho chúng ta thấy mẫu gương cầu nguyện tuyệt vời của bà Esther. Nhờ
kiên tâm cầu nguyện với niềm tin tưởng vào Thiên Chúa quyền năng nên lời cầu
xin của bà đã được Thiên Chúa nhậm lời.
Hơn ai hết, Chúa
Giêsu biết được giá trị cao quý của việc cầu nguyện là cần thiết cho đời sống
chúng ta là thế nào, nên bài Tin mừng hôm nay, Người tha thiết kêu mời chúng ta
hãy kiên tâm cầu nguyện: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ
thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho.” (Lc 11, 9).
Xin cho chúng ta
nghe lời Chúa chỉ dạy mà siêng năng cầu nguyện và cầu nguyện kiên trì với lòng
tin tưởng vào Chúa là người Cha đầy lòng yêu thương chúng ta. Tin chắc Người sẽ
nhận lời mà ban cho chúng ta những điều thiện hảo nhất, hơn cả những gì chúng
ta cầu xin.
Suy niệm 2:
Cầu nguyện được ví
như hơi thở của linh hồn nên không thể thiếu được trong đời sống thiêng liêng
đức tin. Vì thế mà lời Chúa hôm nay nhắc chúng ta phải kiên trì cầu nguyện với
lòng tin tưởng cậy trông vào TC là Người cha đầy lòng yêu thương chúng ta.
Ba việc đạo đức
được nhắc nhiều trong mùa chay: ăn chay, bác ái, cầu nguyện. Phụng vụ lời Chúa
hôm nay nhấn mạnh đến khía cạnh cầu nguyện. Nhưng không phải dạy chúng ta về
nội dung, hình thức hay thái độ khi cầu nguyện, mà là tâm tình và tinh thần
phải có mỗi khi chúng ta cầu nguyện với Chúa.
- Tâm tình của cầu
nguyện phải là tâm thế của một người con trong tương quan với TC là Người Cha
rất giàu lòng yêu thương chúng ta. Khi cầu nguyện với tâm thế đó ta sẽ không
nản lòng nếu lời cầu xin của chúng ta không được Chúa nhậm lời; và ta cũng sẽ
không thấy khó chịu khi gặp phải những nghịch cảnh xảy đến trong cuộc sống, bởi
vì với tâm tình của một người con, chúng ta tin rằng mọi sự xảy đến với ta đều
là ân sủng do Chúa tặng ban. Và chỉ khi đặt mình vào tâm thế của người con
Chúa, ta mới có thể hiểu và cảm nhận được sâu sắc lời cầu xin của Chúa Giêsu
trong vườn cây dầu năm xưa, khi phải đối diện với đau khổ: “Lạy Cha,
nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này, Nhưng đừng theo ý Con, một xin
vâng ý Cha.” (Mt 26, 39).
- Tinh thần của
chúng ta phải có khi cầu nguyện là phải luôn tin tưởng cậy trông uy quyền và sự
khôn ngoan vô cùng của TC. TC là Đấng thấu suốt mọi bí ẩn nên Người biết chúng
ta cần gì và điều gì mới thật sự mang lại ích lợi cho chúng ta. Nên Tin mừng
hôm nay Chúa Giêsu khuyến khích chúng ta hãy kiên vững cầu nguyện: “Hãy
xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì bất cứ ai xin
thì sẽ nhận được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ cửa sẽ mở cho.”.
Nhưng trong thực
tế, có những người vẫn cầu nguyện hoài mà sao không thấy Chúa nhận lời, tại sao
vậy? Thánh Giacôbê cho ta biết nguyên nhân: "Anh em không có, là
vì anh em không xin; anh em xin mà không được là vì anh em xin với tà ý, để
lãng phí trong việc hưởng lạc" (Gc 4, 2-3). Như vậy sở dĩ lời cầu
chúng ta không được Chúa nhậm lời là vì, thứ nhất không mang lại ích lợi thật
sự cho chúng ta, thứ hai có thể chúng ta chưa đủ kiên trì cầu nguyện trước sự
trì hoãn của Chúa. Do đó, khi cầu nguyện, chúng ta hãy ý thức điều chính yếu
chúng ta phải nhắm tới trước hết, đó là "Xin cho Ý Cha được thể
hiện dưới đất cũng như trên trời."
Xin Chúa cho chúng
ta biết siêng năng cầu nguyện hơn trong mùa chay thánh này với tất cả niềm tin
tưởng phó thác vào uy quyền và tình yêu quan phòng kỳ diệu của Chúa là Người
Cha rất nhân từ. Amen.
Thứ sáu: Ed
18, 21-28; Mt 5, 20-26
Suy niệm 1:
Giết người thì ở
đâu và thời nào cũng là tội nặng, vì chỉ có Chúa làm chủ sự sống mới có quyền
đó. Đó là công lý! Luật của Chúa trong tin mừng hôm nay còn vượt trên công lý
nữa. Công lý hay luật pháp buộc tội khi một người phạm tội. Còn Chúa, Chúa đi
xa hơn, Chúa ngăn chặn ngay từ nguyên nhân, nguồn gốc đưa đến tội giết người.
Xin cho mùa chay
này chúng ta biết giữ tâm hồn cũng như môi miệng cẩn trọng để khỏi sa vào tội
giết người không gươm.
Chúa nói “ai
giận anh em mình thì đáng bị tòa xét xử, ai mắng chửi anh em là đồ ngốc thì sẽ
bị lên án trước công nghị và ai mắng chửi anh em mình là khùng thì đáng lửa
trầm luân.”
Người xưa kết tội
khi người ấy ra tay giết anh em mình. Còn Chúa Giêsu lên án ngay từ đáy lòng kẻ
mắc tội lỗi ấy. Vì vậy, kẻ giết người thì thường bắt đầu từ chỗ ganh ghét, ghen
tỵ, giận dỗi. Và Chúa cấm ngay từ trong tư tưởng đó chứ không chờ đến khi sự việc
xảy ra. Chúa cấm từ trong trứng nước như vậy.
1. “Ai giận
anh em mình thì đáng bị xét xử”. Giận dỗi thì ai cũng dễ mắc lắm, bởi “dày
môi hay hờn, giận cá chém thớt”. Người ta chỉ giận người khác rồi mới nảy ra ý
định giết người đó. Khi ta giận ai là ta muốn cho người đó khuất mắt ta, ta
không muốn người đó hiện diện trên cõi đời này nữa. Cho nên giận như vậy thì
chẳng khác gì giết người không dao.
2. Thái độ thứ hai
được kể ngang hàng với tội sát nhân là tội khinh dể anh em mình. Chúa Giêsu
nói: “Ai bảo anh em mình là đố ngốc... là đáng bị lên án trước công
nghị.” Tại sao khinh bỉ người như thế mà cũng bị coi là giết người.
Thưa vì khinh khi như thế, ta thường kiếm cách sát phạt họ, làm hại thanh danh
họ mà không cần gươm giáo. Cho nên giết người ở đây là giết tinh thần, làm cho
người khác khốn khổ, tủi nhục, tuyệt vọng, chết dần chết mòn... Đó cũng là cách
giết chết nhân phẩm người anh em của ta rồi .
3. Chưa hết, Chúa
Giêsu nói: “Ai mắng anh em là đồ khùng... đáng lửa hỏa ngục.” Khi
ta mắng một người như vậy là ta đóng một vai trò quan án mà mình không có quyền
như thế. Ta mắng một người như thế là ta hạ thấp họ xuống ngang hàng với loài
vật rồi, không đáng là người nữa. Trong lòng chúng ta chất chứa những cay đắng,
giận dữ, ghen ghét và ta muốn đổ hết lên đầu người khác đó là cách ta lỗi đức
công bằng và phạm đến luật bác ái nên rất đáng sa hỏa ngục.
Hãy nhớ rằng khi
chúng ta phạm tội giết người từ trong tư tưởng, lời nói hay việc làm là chính
chúng ta cướp đi quyền của Thiên Chúa, phản bội lại tình thương của Thiên Chúa
nên đáng nhận lấy hình phạt là lửa địa ngục.
Chúng ta phải ăn
năn thống hối nhiều lắm vì đời chúng ta hằng gây sóng gió bằng lời ăn tiếng nói
làm đau khổ, làm tan nát bao nhiêu tâm hồn. Do bởi lời nói, chúng ta sẽ bị
Thiên Chúa xét xử ngày phán xét đó!
4. Tha thứ không
phải là điều dễ nhưng đó lại là điều kiện để tôn vinh Thiên Chúa một cách xứng
đáng: "Nếu ngươi đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ anh em
đang có điều bất bình với ngươi, hãy đặt của lễ trước bàn thờ, đi làm hoà với
người anh em trước, rồi hãy đến mà dâng của lễ." Tha thứ là
bắt đầu lại mối tương quan tốt đẹp với người anh em, theo gương Chúa đã tha thứ
và bắt đầu lại mãi với mỗi người chúng ta.
Lạy Chúa, xin dạy
chúng con biết yêu thương và tha thứ như Chúa đã từng yêu thương và tha thứ cho
chúng con. Amen.
Suy niệm 2:
Tin mừng hôm nay,
Chúa Giêsu đòi buộc các môn đệ phải công chính hơn các Kinh Sư và Biệt Phái thì
mới xứng đáng được vào nước trời.
Vậy mức độ công
chính mà Chúa Giêsu đòi hỏi là ở mức độ nào?
Để biết điều ấy,
trước tiên ta cần tìm hiểu sự công chính là gì?
Theo từ điển: Công
là công bằng và Chính là ngay thẳng.
Theo nghĩa thánh
kinh: Công chính là vâng nghe và làm theo ý Chúa. Vì thế mà tổ phụ Abraham, Đức
Maria và thánh cả Giuse…được gọi là đấng công chính.
Những Kinh sư và
Biệt phái được đánh giá là những người luôn nghe và tuân giữ lề luật của Thiên
Chúa một cách nghiêm ngặt. Nên họ luôn tự cho mình là những người công chính.
Nhưng sự công chính của họ chỉ được đánh giá qua những việc làm mang tính hình
thức chứ không phát xuất từ ý hướng chân chính, ngay thẳng. Nên mọi việc họ làm
là nhắm đến cho người ta thấy mà ngợi ca công đức của họ. Do đó nhiều lần Chúa
Giêsu đã không ngần ngại lên tiếng khiển trách họ rất nặng lời: “Khốn
cho các người, hỡi các Kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các người giống như
mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và
đủ mọi thứ ô uế.” (Mt 23, 27); “Khốn cho các người, hỡi các
kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các người nuốt hết tài sản của các bà góa,
lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ…” (Mt 23, 14). Họ không
thống nhất được đời sống. Lời nói không đi đôi với hành động nên có lần Chúa
Giêsu lưu ý dân chúng và các môn đệ về họ: "Các kinh sư và các
người Pharisêu ngồi trên tòa ông Môsê mà giảng dạy.Vậy, những gì họ nói thì anh
em hãy làm, hãy giữ; nhưng đừng theo hành động của họ mà làm, vì họ nói mà
không làm.” (Mt 23, 2-3).
Vậy công chính hơn
những Kinh sự và Biệt phái chính là ta phải biết thống nhất được đời sống,
nghĩa là tư tưởng, lời nói và việc làm phải thẳng ngay, không quanh co, khác
biệt nhau.
Để minh họa cho các
môn đệ hiểu được điều ấy, Chúa Giêsu đưa ra một vài ví dụ như luật giết người.
Tội giết người không chỉ bị kết án khi làm hại đến sự sống thể lý mà ngay trong
ước muốn, ý định và lời nói xúc phạm đến giá trị và nhân phẩm của tha nhân đã
bị xem là phạm tội giết người rồi.
Tương tự như thế
luật thờ phượng Chúa ngang qua việc dâng của lễ lên bàn thờ Chúa nhưng nếu
trong lòng còn nuôi hận thù, ghen ghét ai đó thì phải bỏ của lễ lại mà đi làm
hòa trước đã. Được như vậy thì việc dâng của lễ lên Chúa mới được Chúa đón
nhận.
Tóm lại để trở nên
công chính như Chúa muốn, ta cần phải tuân giữ những điều luật Chúa dạy với tất
cả ý hướng ngay lành, bằng một tình yêu chân chính. Làm được như thế ta mới
xứng danh là môn đệ Chúa và đáng được hưởng niềm vui nước trời.
Suy niệm: 3
Chúa Giêsu đã
từng xác quyết với các môn đệ rằng: “Các con đừng tưởng Ta đến để
huỷ bỏ lề luật hay các tiên tri: Ta không đến để huỷ bỏ, nhưng để kiện
toàn” (Mt 5, 17). Tin mừng hôm nay, nói đến việc Chúa Giêsu kiện toàn
luật giết người.
Nếu người xưa dạy
không được giết người. Ai ra tay giết người, sẽ bị luận phạt nơi tòa án. Còn
Chúa Giêsu thì lên án ngay cả khi ta phẩn nộ, chửi bới xúc phạm đến danh dự của
người khác. Bởi ta chửi người khác là “ngốc’, là “khùng” là tâm trí của ta đã
loại trừ người anh em mình ra khỏi cuộc đời mình và xem họ như là kẻ thù ta.
Chúa Giêsu muốn
người môn đệ của Ngài phải sống hoàn thiện và nên công chính hơn các luật sĩ và
biệt phái. Bởi lẽ sự công chính không chỉ hệ tại ở những hành vi đạo đức bên
ngoài mà còn phải phát xuất từ trong tâm trí ngay chính nữa.
Lắm khi húng ta sống
như những luật sĩ và pharisêu chỉ chú trọng những việc đạo đức bên ngoài mà bỏ
qua tâm tình bên trong. Nên ta không thể hiệp thông với Chúa và với nhau đúng
nghĩa. Suy nghĩ, lời nói và việc làm bất nhất với nhau. Trong đời sống cộng
đoàn chúng ta cứ xử "bằng mặt nhưng không bằng lòng". Sống bên nhau
mà ta xem nhau như kẻ thù.
Vì thế, ta dễ dàng
buông ra những lời chua cay, thâm độc: ha nhục nhau bằng những lời chửi rủa tục
tằn; lòng luôn muốn điều ác cho nhau, sẵn sàng kiện cáo nhau trước tòa
đời...nguy hiểm là giết hại nhau.
Lời Chúa hôm nay
dạy chúng ta phải biết bao dung tha thứ. Tha thứ là cách chúng ta kiện toàn lề
luật và trở nên công chính trước mặt Chúa.
Chúa chỉ nhận lễ
dâng của ta khi ta biết làm hòa với anh em mình; Và Người chỉ tha thứ tội lỗi
cho ta một khi ta biết sẵn lòng tha thứ cho người khác.
Xin Chúa thương chữa
lành những vết thương lòng của ta và xin cho chúng ta có được lòng nhân từ của
Chúa, để chúng ta dễ dàng tha thứ những lầm lỗi, thiếu sót cho nhau. Nhờ thế ta
mới xứng đáng bước vào nước trời.
Ta nên hiểu rằng: “Người
xởi lởi trời gởi của cho, người so đo trời gò của lại”. Chắc chắn Chúa sẽ
không bao giờ chịu thua lòng quảng đại của chúng ta.
Thứ bảy: Đnl
26, 16-19; Mt 5, 43-48
Để xứng đáng là dân
thánh Thiên Chúa nhằm thừa hưởng vinh quang, thanh danh và huy hoàng hơn mọi
dân tộc, sách Đệ Nhị Luật trong bài đọc I đưa ra một số điều kiện như sau:
Phải chọn Chúa là
Thiên Chúa của đời mình.
Phải hết lòng tuân
giữ và đem ra thực hành các thánh chỉ, mệnh lệnh của Chúa.
Phải hết lòng tin
tưởng Thiên Chúa và bước đi trong đường lối của Ngài theo gương tổ phụ Abraham.
Còn bài tin mừng
hôm nay, Chúa Giêsu cũng đưa ra những tiêu chí để trở nên hoàn thiện, xứng đáng
làm môn đệ của Ngài:
1. Phải "yêu
thương địch thù và làm ơn cho những kẻ ghét các ngươi".
2. Hãy “cầu
nguyện cho những ai bắt bớ và nguyền rủa các ngươi".
Thực hiện những
tiêu chí mà Chúa Giêsu đòi hỏi không phải là điều dễ dàng. Khó nhưng không phải
là không thể, bởi lẽ chính Chúa Giêsu đã nêu gương cho chúng ta. Ngài đã yêu
thương đến tận cùng bằng cái chết để cho nhân loại được sống. Trên đỉnh cao thập
giá Ngài đã tha thứ cho những kẻ giết hại Người và cầu xin Chúa Cha tha thứ cho
chúng. "Xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng
làm."
Ngài còn hướng
chúng ta đến mẫu gương cội nguồn Tình yêu nơi Thiên Chúa. Một tình yêu dành cho
hết mọi loài và mọi người không phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo. Không
giới hạn giới tính nam hay nữ, hoàn cảnh giàu hay nghèo, tình trạng tốt hay
xấu… tất cả đều được Ngài yêu thương. Tình yêu của Ngài tựa như "mặt
trời mọc lên cho người lành kẻ dữ, và cho mưa xuống trên người liêm khiết cũng
như kẻ bất lương." Và mời gọi chúng ta noi theo gương Chúa để trở
nên hoàn thiện. Qua đó mọi người sẽ nhận biết chúng ta là môn đệ của Chúa Giêsu
vì chúng ta có lòng yêu thương nhau như Chúa yêu.
Qua bí tích rửa
tội, chúng ta được Thiên Chúa tuyển chọn trở nên dân Thánh và trở thành môn đệ
Chúa Giêsu.
Xin cho chúng ta biết sống theo tinh thần của Thiên Chúa là: bao dung tha thứ, quảng đại hy sinh cho hết mọi người. Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu, xin uốn lòng chúng con nên giống trái tim Chúa.