SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN II PHỤC SINH
Lm. Nguyệt Giang
CHÚA NHẬT II PHỤC SINH-NĂM A
KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT THIÊN CHÚA
Cv 2,42-47; 1Pr
1,3-9; Ga 20,19-31
SUY NIỆM 1:
Hàng năm Giáo Hội dành một ngày
Chúa nhật II Phục sinh để suy tôn Lòng Thương Xót Chúa. Tin Mừng hôm nay trình
thuật lại sự kiện Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với các tông đồ, nhất là đối với
Tôma để bày tỏ lòng thương xót của Người ngang qua các vết thương mà Người đã
mang lấy vì tội lỗi chúng ta. Xin Chúa phục sinh củng
cố lại niềm tin, trao ban bình an và sức mạnh của CTT, để chúng ta can đảm thực
thi sứ mạng lòng thương xót của Chúa cho mọi người, với mong muốn ai nấy đều được
đón nhận lời chúc phúc của Chúa phục sinh: “phúc cho những ai không thấy
mà tin”.
Theo lịch phụng vụ, Chúa Nhật II
Phục Sinh hằng năm được Giáo Hội dành để kính Lòng Thương Xót Chúa.
Vậy tại sao Giáo Hội lại chọn chính ngày này, chứ không phải một ngày nào khác
trong năm?
Thưa, có ba lý do chính:
Thứ nhất, do chính Chúa Giêsu mặc khải.
Ngày 22/02/1931, Chúa Giêsu hiện ra với nữ tu Faustina và bày
tỏ lòng thương xót của Người, đồng thời muốn GH thiết lập một lễ kính đặc biệt.
Người phán: “Ta ước muốn lễ kính Lòng Thương Xót của Ta được cử hành
vào Chúa Nhật II Phục Sinh.”
Chúa cũng dạy vẽ bức ảnh với dòng chữ: “Lạy Chúa Giêsu,
con tín thác vào Chúa.” Hai luồng sáng phát ra từ trái tim Chúa tượng
trưng cho máu và nước, dấu chỉ tình yêu cứu độ tuôn trào từ cạnh sườn
bị đâm thâu trên thập giá.
Thứ hai, do Giáo Hội chính thức thiết lập.
Ngày 30/04/2000, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tôn
phong nữ tu Faustina lên bậc hiển thánh và chính thức thiết lập lễ kính Lòng
Thương Xót Chúa cho toàn thể Giáo Hội vào Chúa Nhật II Phục Sinh.
Qua đó, Giáo Hội mời gọi mọi người, nhất là những ai tội lỗi,
hãy tin tưởng chạy đến với lòng thương xót của Chúa, vì như lời Người đã
nói: “Không một linh hồn nào phải sợ đến gần Ta.”
Thứ ba, chính Lời Chúa hôm nay làm nổi bật lòng thương
xót.
- Trước hết, trong Tin Mừng, Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra với
các tông đồ đang sợ hãi và ban bình an cho các ông. Đó là món
quà của lòng thương xót: xoa dịu nỗi sợ, chữa lành tâm hồn.
- Thứ đến, với tông đồ Tôma, Chúa không trách móc nhưng đầy cảm
thông. Người kiên nhẫn hiện ra lần nữa, cho ông chạm vào vết thương để củng cố
đức tin. Đó là lòng thương xót dành cho người yếu đuối.
- Hơn nữa, những dấu đinh và cạnh sườn bị đâm thâu chính
là bằng chứng sống động của tình yêu thương xót: Chúa đã mang lấy tội lỗi nhân
loại, đổ đến giọt máu cuối cùng để cứu chuộc chúng ta.
- Và cao điểm là khi Chúa trao ban Thánh Thần và quyền tha
tội cho các tông đồ. Qua Bí tích Hòa Giải, lòng thương xót của Chúa tiếp
tục tuôn đổ trên nhân loại. Vì thế, có thể nói: tha thứ chính là đỉnh
cao của lòng thương xót.
Mừng lễ hôm nay, Chúa mời gọi mỗi người chúng ta:
- Hãy tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa
trong mọi hoàn cảnh;
- Hãy biết đón nhận ơn tha thứ;
- Và nhất là, hãy sống lòng thương xót bằng
cách yêu thương và tha thứ cho nhau.
Mừng lễ Lòng Chúa Thương Xót hôm nay, xin cho mỗi chúng ta
không chỉ là người đón nhận, mà còn biết trở thành "ống dẫn" lòng
thương xót của Chúa đến với tha nhân. Xin cho chúng ta biết sống bao dung, sẵn
sàng tha thứ và tận tình phục vụ anh chị em mình với niềm tín thác tuyệt đối
vào lòng Chúa xót thương, với lời nguyện xin: Lạy Chúa Giêsu,
con tín thác vào Chúa!
SUY NIỆM 2: BÀN TAY CỦA YÊU THƯƠNG
Truyện kể: Trong một tiết dạy vẽ, cô giáo bảo các em học
sinh lớp một vẽ điều gì đã làm các em thích nhất trong đời. Cô thầm nghĩ: “chắc
rồi các em cũng lại vẽ những gói quà, những ly kem hoặc những món đồ chơi, hay quyển
chuyện tranh nào đó…”. Thế nhưng cô hoàn toàn ngạc nhiên trước một bức
tranh lạ của em học sinh tên là Douglas: Bức tranh vẽ một bàn tay!
Nhưng đây là bàn tay của ai? Cả lớp bị cuốn hút bởi
hình ảnh đầy biểu tượng này. Một em đoán: “Đó là bàn tay bác nông dân”. Một em
khác cho rằng: “Bàn tay thon thả thế này phải là bàn tay của một bác sĩ giải phẩu”.
Cô giáo đợi cả lớp bớt xôn xao dần rồi mới hỏi tác giả. Douglas cười
ngượng ngịu: “Thưa cô, đó là bàn tay của cô ạ!”.
Cô giáo ngẫn ngơ. Cô nhớ lại những giờ ra chơi, cô thường
dùng bàn tay để dìu dắt Douglas bước ra sân, bởi em là một cô
bé khuyết tật, khuôn mặt không được xinh xắn như các bạn nhỏ khác,
gia cảnh em từ lâu rất nghèo. Cô chợt hiểu ra, tuy cô vẫn làm điều
tương tự ấy với các em khác, nhưng hóa ra đối với Douglas, bàn
tay cô lại mang một ý nghĩa sâu xa, một biểu tượng của tình yêu thương lớn
lao như vậy.
Nếu bàn tay của cô giáo là hình ảnh đẹp nhất trong
tâm hồn của em bé khuyết tật Douglas, thì Bàn Tay Chúa Giêsu phải
là hình ảnh tuyệt vời nhất đối với nhân loại. Bởi lẽ bàn tay ấy mang đầy
những vết tích của lòng thương xót. Cho nên mỗi lần hiện ra với các
tông đồ, đặc biệt với Tôma, Chúa Giêsu đều mời gọi các tông đồ xem kỉ
đôi bàn tay và cạnh sườn Người.
1. Đó là bàn tay mang vết tích vì
lòng yêu mến Chúa Cha.
Chúa Giêsu luôn hướng về Chúa Cha bằng một tình yêu mật thiết,
được thể hiện qua đôi bàn tay của cầu nguyện:
- Đôi bàn tay hướng về Cha trong tư thế cầu nguyện mỗi khi bắt
đầu ngày sống, xin Cha hướng dẫn và ban ơn giúp sức để những việc làm trong
ngày sống được hoàn thành tốt đẹp theo ý Cha.
- Đôi bàn tay hướng về Cha suốt đêm dài, mỗi khi quyết định
những việc làm quan trọng, để xin Cha ban ơn soi sáng suốt mà chọn lựa điều tốt
nhất, theo ý muốn của Cha.
- Đôi bàn tay từng cầm bánh và rượu đưa lên cao hướng về Chúa
Cha để chúc tụng, tạ ơn, hầu xin Cha chúc lành cho những lương thực hưởng dùng
cho nhân loại.
- Đôi bàn tay hướng lên trời, để kêu xin sự sống cho La-da-rô
đã chết 4 ngày được sống lại.
- Đôi bàn tay đã từng chấp lại trong nỗi hoang mang lo sợ, để
thiết tha khẩn cầu Chúa Cha cất khỏi chén đắng trong vườn dầu với tinh thần phó
thác.
- Bàn tay dang rộng trên thập giá đau đớn, gánh lấy tội nhân
mà vang xin Chúa Cha tha thứ cho những ai xúc phạm và giết hại mình.
2. Đó là bàn tay mang vết
tích vì yêu thương nhân loại.
- Đôi bàn tay Chúa Giêsu luôn hướng đến mọi người để cảm
thông chia sẻ và giúp đỡ bằng tình yêu hy sinh.
- Bắt đầu bằng đời sống lao động vất vả nơi gia đình Nazarét.
Bàn tay từng cầm cưa, búa, đục để làm mộc cùng với thánh Giuse lo của ăn cho
gia đình.
- Bàn tay sẵn sàng mở ra ban ơn tha thứ biết bao tội nhân biết
ăn năn sám hối như Maria Macdala, cho ngưuời phụ nữ ngoại tình, hay cho Giakêu…
- Bàn tay đã chữa lành biết bao người đau ốm, đặt tay
trên mắt người mù bẩm sinh, trên tai và lưỡi của người câm điếc, trên thịt da lỡ
lóet của người mắc bệnh hủi, trên trán giá lạnh của con gái Giai-rô, trên tay
nóng sốt của bà nhạc mẫu Phêrô….
- Bàn tay quyền thế đã truyền khiến giông tố và sóng gió yên
lặng, đã cầm roi xua đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi đến thờ, đã xua trừ ma quỷ,
đã chúc dữ cho những người biệt phái.
- Bàn tay bị đâm thủng, nơi ấy vẫn còn lỗ đinh được ghi lại
tình yêu Chúa dành muôn thế hệ.
- Bàn tay bị nộp cho lý hình, bị đóng đinh vào thập giá và phải
mang lấy thân xác nặng nề đau xé suốt ba giờ liền trên thập giá. Tất cả chỉ vì
tình yêu con người.
Khi mời gọi các tông đồ nhìn xem tay Chúa vừa để chứng thực
chính Người là Thiên Chúa giàu lòng thương xót; vừa để mời gọi các ông học lấy
bài học yêu thương “như Người đã yêu”.
Khi mời gọi các tông đồ nhìn vào đôi bàn tay của Chúa là để
nhắc nhở các ông không chỉ thi hành mệnh lệnh loan báo tin mừng trên môi miệng
mà còn phải thực hiện lời rao giảng trên đôi tay mở ra để giúp đỡ những người
bé nhỏ, nghèo nàn, yếu đau. An ủi những ai đau khổ, bất hạnh và vỗ về những ai
cô đơn, tội lỗi. Hàn gắn những gia đình bị rạng nứt và đổ vỡ.
Nhìn bàn tay Chúa để các tông đồ hiểu rằng việc truyền giáo sẽ
không bao giờ đạt kết quả, nếu thiếu đời sống cầu nguyện nên “hãy xin với
chủ ruộng” .
Đôi bàn tay giơ cao hướng về Chúa để xin ơn. Xin Chúa ban ơn
soi sáng, lòng nhiệt thành và sức mạnh cho những nhà truyền giáo. Xin Chúa đánh
đọng lòng người tiếp nhận tin mừng. Xin Chúa chúc lành cho công cuộc truyền
giáo.
Đôi bàn tay dang rộng hướng về tha nhân, bằng cách chấp nhận
chịu đâm thủng của những dấu đinh vất vả, hy sinh, đau khổ vì tình yêu.
Bàn tay yêu thương đó được minh chứng nơi cộng đoàn tín hữu đầu
tiên. Họ đồng tâm hướng đôi bàn tay lên Chúa bằng đời sống cầu nguyện, bằng lắng
nghe Lời Chúa và lời giảng dạy của các tông đồ, cùng hiệp thông trong nghi lễ bẻ
bánh.
Họ cũng dùng bàn tay hướng về anh em để chia sẻ trong tình
bác ái. Tự nguyện dâng cúng tài sản riêng làm của chung. Chấp nhận bán hết tài
sản để trợ giúp cho người túng thiếu. Họ cư xử với nhau như anh em một nhà.
Chính đời sống ấy lôi cuốn biết bao người xin gia nhập Kitô giáo.
Sứ mạng loan báo Tin mừng tình thuơng được Chúa phục sinh
trao ban cho các tông đồ, qua các tông đồ cho các kitô hữu đầu tiên và hôm nay
sứ mạng ấy Chúa trao lại cho mỗi người chúng ta.
Xin Chúa cho đôi bàn tay của chúng con luôn biết nắm
chặt lấy bàn tay Chúa bằng đời sống cầu nguyện để chúng con không cảm thấy mệt
mỏi khi thực thi sứ mạng của lòng thương xót Chúa qua những bổn phận hàng ngày.
SUY NIỆM 3: TÌNH
YÊU MẠNH HƠN MỌI VẾT THƯƠNG
Chúa Nhật II Phục Sinh được gọi là Chúa Nhật của Lòng Thương
Xót. Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy một hình ảnh rất đẹp: Chúa Giêsu Phục
Sinh hiện ra với các môn đệ, không phải để trách móc, nhưng để trao ban bình an
và lòng thương xót.
Ngài nói: “Bình an cho
anh em!” Không phải một lần, mà đến hai lần. Vì Ngài biết: tâm hồn con người
cần được chữa lành.
1. Sau cái chết đau thương của Thầy Giêsu, các môn đệ hoảng
loạn đóng kín cửa vì sợ người Do Thái. Họ đã từng mạnh mẽ, nhưng giờ đây lại yếu
đuối, thất vọng. Chúa không trách họ. Ngài đến và ban bình an. Điều này rất
quan trọng: Chúa không đến khi ta xứng đáng, mà đến khi ta cần Ngài nhất.
2. Tôma không tin. Ông muốn thấy và muốn chạm. Chúa
Giêsu đã làm một điều rất lạ, Ngài cho Tôma chạm vào chính vết thương của mình.
Ngài không che giấu, không né tránh. Vì chính những vết thương ấy lại trở thành
cửa ngõ củng cố đức tin cho Tôma và các môn đệ..
3. Có một câu chuyện tình rất cảm động: Một người
lính sau chiến tranh trở về với khuôn mặt đầy sẹo. Anh bị thương nặng, dung mạo
biến dạng. Anh không dám gặp lại người yêu, vì sợ cô sẽ thất vọng. Anh viết thư
nói rằng: “Em hãy quên anh đi. Anh không còn như xưa nữa.” Nhưng cô gái vẫn tìm
đến. Khi gặp anh, cô nhìn rất lâu vào khuôn mặt đầy sẹo ấy… rồi nhẹ nhàng nói:
“Em yêu anh không phải vì khuôn mặt của anh, mà vì chính con người anh. Những vết
sẹo này chỉ làm em yêu anh hơn, vì đó là dấu chứng anh đã hy sinh.”
4. Câu chuyện ấy giúp chúng ta hiểu Tin Mừng hôm nay sâu
sắc hơn: Chúa Giêsu Phục Sinh vẫn mang các vết thương. Ngài không xóa đi. Vì những
vết thương ấy là bằng chứng của tình yêu. Vết thương nơi tay, vết thương nơi cạnh
sườn. Đó là dấu tích của một tình yêu đã đi đến cùng. Và khi Tôma nhìn vào những
vết thương ấy, ông đã tin nên thốt lên: “Lạy
Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”
Như vậy: Chính lòng thương xót, được biểu lộ qua những vết
thương. Từ đó đã làm nảy sinh đức tin.
5. Nhiều khi chúng ta xấu hổ vì những vết thương của mình, trốn
tránh vì tội lỗi, khép kín vì quá khứ không đẹp…Nhưng hôm nay, Chúa nói: “Hãy
đem tất cả đến cho Thầy.” Vì Chúa không yêu chúng ta khi chúng ta hoàn hảo.
Chúa yêu chúng ta ngay cả trong những vết thương. Và không chỉ thế, Chúa còn
sai chúng ta đi: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy
cũng sai anh em.” Nghĩa là ai đã được xót thương, thì cũng phải biết xót
thương.
Nếu trong câu chuyện tình kia, cô gái yêu cả những vết sẹo của
người mình yêu, thì Thiên Chúa còn yêu chúng ta hơn thế gấp bội. Ngài không chỉ
chấp nhận vết thương của chúng ta, mà còn biến nó thành nơi phát sinh ân sủng.
Ước gì hôm nay, mỗi người chúng ta dám đến gần Chúa
hơn,
dám chạm vào lòng thương xót của Ngài, để rồi cũng có thể thưa như Tôma: “Lạy
Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Amen.
SUY NIỆM 4: LÒNG THƯƠNG XÓT – NGUỒN SỐNG MỚI
Hôm nay, Chúa Nhật II Phục Sinh, kính Lòng Thương Xót Thiên
Chúa, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm tình yêu bao dung của Chúa Giêsu Phục
Sinh, Đấng ban bình an, tha thứ và củng cố đức tin cho các môn đệ.
Trong thánh lễ này, xin Chúa thương chữa lành những yếu
đuối của chúng ta và giúp chúng ta biết sống lòng thương xót với mọi người.
1. Có một câu chuyện kể về một
chàng trai yêu một cô gái rất chân thành. Họ đã có những ngày tháng hạnh phúc,
nhưng rồi trong một phút nóng giận, anh đã buông ra những lời làm tổn thương cô
sâu sắc. Quá đau lòng, cô gái quyết định khép chặt trái tim mình. Cô cắt đứt mọi
liên lạc, không nghe máy, không trả lời tin nhắn. Cánh cửa nhà cô cũng như cánh
cửa lòng cô: Đã đóng kín.
Chàng trai hối hận muộn
màng, anh viết một lá thư đặt trước hiên nhà: “Anh không xin em quên lỗi của anh… anh chỉ xin em mở cửa, để anh được
yêu em lại từ đầu.”
Vài ngày sau, cánh cửa ấy mở
ra. Không phải vì chàng trai đã hoàn toàn xứng đáng, mà vì cô gái nhận ra mình
vẫn còn yêu.
Qủa thật, Chỉ có tình yêu mới
mạnh hơn tổn thương, và chỉ có tình yêu mới đủ sức mở ra những cánh cửa lòng đã
bị khóa chặt.
2. Câu chuyện tình yêu trên phản chiếu phần nào sứ điệp Tin Mừng
hôm nay. Chúng ta cũng thấy các môn đệ đang ở trong một căn phòng đóng kín. Tin
Mừng nói các ông sợ người Do Thái, nhưng sâu xa hơn, các ông đang đóng chặt cửa
lòng vì mặc cảm và thất vọng.
Các ông thất vọng về chính mình: Tại sao lúc Thầy cần nhất,
mình lại bỏ chạy? Tại sao mình lại chối Thầy? Những cánh cửa vô hình ấy là cánh
cửa của tội lỗi, của sự tự ti…đang giam cầm các ông trong sự ngạt thở.
Cộng đoàn thân mến, đôi khi chúng ta cũng giống như các môn đệ.
Không ít lần chúng ta tự nhốt mình sau những cánh cửa:
- Của mặc cảm: "Con tội lỗi quá, chắc Chúa đã bỏ con rồi."
- Của oán hận: "Họ làm con đau, con sẽ không bao giờ tha
thứ."\
- Của hoài nghi: "Con cầu nguyện mãi mà đời vẫn khổ,
Chúa ở đâu?"
Chúng ta cứ tưởng đóng cửa là để an toàn, nhưng thực ra, đó
là cách chúng ta tự cắt đứt nguồn sống. Một căn phòng đóng kín lâu ngày sẽ chỉ
còn sự tối tăm và mùi của sự chết.
3. Điều kỳ diệu đã xảy ra là: Chúa Giêsu không đứng ngoài gõ
cửa. Ngài là Đấng Phục Sinh, nên Ngài không lệ thuộc vào thời gian và không
gian, Ngài đã xuyên qua những cánh cửa khép kín. Ngài đi thẳng vào giữa nỗi sợ
hãi để chạm đến những tâm hồn đang rướm máu.
Ngài hiện đến không phải để trách móc: "Tại sao
các con bỏ Thầy?". Ngài chỉ nói: “Bình
an cho anh em!”. Đó chính là dung mạo của Lòng Thương Xót:
- Không lên án, nhưng chữa lành.
- Không nhắc lại quá khứ, nhưng mở ra tương lai.
- Ngài thổi hơi ban Thánh Thần để ban tặng sự sống mới ngay
trên chính những đổ vỡ.
4. Đặc biệt, Chúa hiện đến lần thứ hai chỉ vì một người là
Tôma. Ông là đại diện cho những người "cần thấy, cần chạm mới tin".
Chúa không khước từ ông, Ngài mời ông: "Hãy đặt ngón tay vào cạnh
sườn Ngài".
Điều chúng ta thắc mắc là tại sao Chúa Phục Sinh vẫn giữ lại
những vết sẹo? Thưa, bởi vì đó là dấu tích của tình yêu. Chúa không xóa đi quá
khứ đau thương, mà Ngài biến nó thành vinh quang. Khi Tôma chạm mắt vào vết
thương của Chúa, thì lạ lùng thay, chính vết thương trong lòng ông cũng được chữa
lành. Ông không chỉ tin Chúa sống lại, mà ông tin rằng: Chúa yêu ông ngay cả
trong sự cứng lòng của ông.
Sức mạnh tình yêu ấy cũng đã biến đổi các tín hữu thời giáo hội
sơ khai (như bài đọc 1): Họ bắt đầu sống hiệp thông, chia sẻ và vui mừng ngay cả
trong thử thách.
5. Thiên Chúa không đợi chúng ta hoàn hảo mới yêu thương.
Chính Tình Yêu Ngài làm chúng ta trở nên tốt hơn. Trong ngày lễ kính Lòng
Thương Xót Chúa hôm nay, chúng ta được mời gọi thực hiện ba bước:
- Mở cửa cho Chúa: Đừng giấu tội lỗi trong
bóng tối nữa. Hãy can đảm đến với Bí tích Hòa giải để được Ngài chạm vào và chữa
lành.
- Mở cửa cho nhau: Hãy kiên nhẫn và bao dung với
người thân, bạn bè, như Chúa đã kiên nhẫn với Tôma. Đừng để một phút nóng giận
làm chúng ta đóng sập cánh cửa với nhau mãi mãi.
- Trở thành khí cụ của Lòng
Thương Xót:
Một lời nói dịu dàng, một ánh mắt cảm thông có thể là chiếc chìa khóa mở lại cuộc
đời của một ai đó đang tuyệt vọng.
Lạy Chúa Phục Sinh, xin thổi luồng sinh khí mới vào
tâm hồn chúng con, để chúng con không còn sống trong sợ hãi, nhưng can đảm bước
đi trong ánh sáng của Lòng Thương Xót Chúa. Amen.
Thứ hai: Cv 4,23-31; Ga 3,1-8.
SUY NIỆM 1:
Tin Mừng hôm nay thuật lại cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Nicôđêmô. Qua
cuộc đối thoại này, Chúa giải thích cho ông Nicôđêmô hiểu được ý nghĩa của việc
“tái sinh”; đồng thời Chúa Giêsu cũng cho ông ta biết giá trị và mục đích của
việc “tái sinh” là để được làm con Chúa và được vào nước trời.
Xin cho chúng ta biết quý trọng những ơn ích Chúa ban trong ngày
lãnh nhận bí tích rửa tội mà sống xứng danh làm con Chúa.
Nếu phụng vụ lời Chúa trong tuần bát nhật phục sinh nhằm củng cố cho các
tín hữu mới tòng đạo xác tín niềm vững vàng vào sự phục sinh Chúa Giêsu; thì
phụng vụ lời Chúa tuần II phục sinh nhằm giúp các kitô hữu hiểu rõ hơn về giá
trị, ý nghĩa và mục đích của bí tích rửa tội mà sống niềm tin sao cho phù hợp
với ơn gọi của người kitô hữu.
Nicôđêmô, thủ lãnh người Do Thái, có địa vị, có học thức
cao và là thành phần trong công nghị, được mọi người kính nể.
Nghe những lời giảng dạy và chứng kiến những phép lạ Chúa Giêsu làm, ông cảm
phục, tin nhận Chúa Giêsu là tôn sư đến từ Thiên Chúa. Tuy nhiên vì có
nhiều điều không hiểu nên trong đêm khuya ông không ngần ngại tìm đến để gặp
Chúa Giêsu để xin Người giải đáp.
Nghe những lời giảng hay, chứng kiến nhiều phép lạ nếu để vui tai, thích
mắt thì chẳng ích lợi gì nếu bản thân chúng ta không thay đổi trở nên tốt
hơn. Giảng dạy và phép lạ chỉ là phương tiện, nước trời mới là đích điểm.
Nhưng làm thế nào để đạt được nước trời?
Trong cuộc đàm đạo với Nicôđêmô, Chúa Giêsu đã chỉ cho ông cách thức rất
cụ thể để vào nước trời đó là phải “tái sinh”. Nicôđimô, chỉ hiểu tái sinh
theo nghĩa xác thịt, theo cách thức tự nhiên nên ngây ngô thốt lên: “Một người
đã già rồi, làm sao có thể sinh ra được? chẳng lẽ người đó có thể trở vào lòng
mẹ lần thứ hai để sinh ra sao?”. Chứng tỏ ông không hiểu việc tái sinh theo
nghĩa siêu nhiên mà Chúa Giêsu đề cập đến : “Tái sinh
bởi nước và Thần Khí”.
Để là người, chúng ta phải được sinh ra bởi cha mẹ. Các ngài đã truyền cho
chúng ta sự sống tự nhiên. Để trở nên người, chúng ta phải được hướng dẫn
giáo dục nhờ gia đình và xã hội. Nhưng để trở thành người con Chúa, chúng
ta phải được sinh lại trong Chúa Thánh Thần nhờ bí tích rửa tội. Qua bí tích
rửa tội Chúng ta được Chúa ban cho sự sống siêu nhiên.
Như thế, để làm người và nên người, chúng ta phải được sinh ra theo lối tự
nhiên bởi cha mẹ. Nhưng để là người con Chúa, chúng ta phải được sinh ra theo
lối siêu nhiên bởi nước và Thánh Thần qua bí tích rửa tội. Nhờ tái sinh
qua bí tích rửa tội, chúng ta được Chúa tha thứ tội lỗi, được làm Con Chúa,
được gia nhập vào Hội Thánh, được trở nên tạo vật mới mặc lấy Đức Kitô và được
kêu mời trở nên ánh sáng giữa trần đời.
Chúa Giêsu đã chết để tiêu diệt sự chết và sống lại để phục hồi sự sống
cho chúng ta. Vì thế chúng ta được Chúa kêu mời chết đi cho con người cũ bất
tòan, tội lỗi để sống con người mới hoàn hảo nhờ được tái sinh trong Chúa.
Xin cho chúng ta biết ý thức gìn giữ và phát huy ơn trọng đại làm con
Chúa trong ngày lãnh nhận bí tích rửa tội. Biết chừa bỏ tội
lỗi, tính hư nết xấu mà sống con người mới thánh thiện tốt lành, trở nên ánh
sáng tin mừng phục sinh soi chiếu vào trần đời còn nhiều bóng tối, hầu
xứng đáng được vào Nước Chúa.
SUY NIỆM 2:
Ta có thể chia phần phụng vụ Lời Chúa hôm nay 2
phần:
1. Cầu
nguyện-nguồn sức mạnh của Hội Thánh
Bài đọc
Công vụ cho thấy các Tông đồ vừa trải qua bách hại. Thay vì sợ hãi hay tìm cách
trốn tránh, các ngài quy tụ lại để cầu nguyện. Lời cầu nguyện của cộng
đoàn thật mạnh mẽ: không xin thoát khỏi gian nan, nhưng xin được can đảm
loan báo Lời Chúa.
Và kết quả
thật rõ ràng: “Họ được đầy Thánh Thần và mạnh dạn nói Lời Thiên Chúa.”
Hội Thánh
không lớn lên nhờ quyền lực hay phương tiện, nhưng nhờ cầu nguyện và Thánh
Thần.
Trong đời
sống hôm nay, nhiều khi ta dễ nản chí trước khó khăn: mục vụ khó, con người
khó, hoàn cảnh khó… Nhưng Lời Chúa mời gọi:
- Đừng vội than phiền nhưng hãy quy tụ và
cầu nguyện.
- Đừng xin
Chúa cất khó khăn nhưng hãy xin ơn can đảm vượt qua.
2. “Phải
sinh lại”-điều kiện để thấy Nước Thiên Chúa
Tin Mừng
kể chuyện ông Nicôđêmô, một người đạo đức, có địa vị, nhưng vẫn thao thức đi
tìm Chúa Giêsu trong đêm tối.
Chúa Giêsu
nói một điều gây ngỡ ngàng: “Không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa nếu
không được sinh lại.”
Nicôđêmô
không hiểu, vì ông nghĩ theo nghĩa tự nhiên. Nhưng Chúa Giêsu nói về một sự
sinh lại “bởi nước và Thánh Thần.”
Đây là một
cuộc biến đổi từ bên trong:
Không chỉ là sống đạo bề ngoài. Nhưng là một con người mới sống theo Thần Khí,
không theo xác thịt
Hình ảnh “gió muốn thổi đâu thì thổi” cho thấy:
Thánh Thần hoạt động cách tự do, âm thầm nhưng mạnh mẽ. Ai sống theo Thánh Thần
sẽ: không bị trói buộc bởi ích kỷ; không sống theo tính toán nhỏ nhen, nhưng
biết mở lòng cho điều Chúa muốn.
Hai bài
đọc gặp nhau ở một điểm rất sâu sắc: Thánh
Thần chính là nguồn sức sống mới.
- Các Tông
đồ cầu nguyện, được đầy Thánh Thần, trở nên can đảm.
- Người
tín hữu “sinh lại”, nhờ Thánh Thần, trở nên con người mới.
Vì thế,
câu hỏi đặt ra cho mỗi người chúng ta là:
- Tôi có
thật sự cầu nguyện để xin Thánh Thần hướng dẫn không?
- Tôi có dám
để mình được “sinh lại”, nghĩa là thay đổi cách nghĩ, cách sống không?
- Hay tôi
vẫn chỉ giữ đạo như một thói quen bên ngoài?
Mùa Phục
Sinh không chỉ là mừng Chúa sống lại, nhưng còn là lời mời gọi mỗi người chúng
ta:
- Hãy để Thánh Thần làm cho ta được sinh lại
mỗi ngày.
- Hãy cầu nguyện để có can đảm sống và loan báo
Tin Mừng.
Xin Chúa cho chúng ta, như các Tông đồ xưa, biết tìm đến
với Chúa trong cầu nguyện, để rồi được biến đổi và trở nên những chứng nhân
sống động của Đức Kitô Phục Sinh.
Thứ ba: Cv 4,32-37; Ga 3,7b-15.
Nhớ Thánh Ca-ta-ri-na Si-ê-na trinh nữ, tiến sĩ Hội Thánh
SUY NIỆM 1:
Xây dựng Họ đạo trở thành một cộng đoàn hiệp thông là một trong những tiêu
chí mà GH luôn hướng đến. Điều này đã được HĐGM VN nhấn mạnh đến trong thư mục
vụ năm 2015, “Tân phúc âm đời sống Giáo xứ”.
Nhưng làm thế nào để xây dựng Họ Đạo trở thành một cộng đoàn hiệp thông?
Thư mục vụ 2015 mời gọi chúng ta hãy chiêm ngắm và noi gương đời sống cộng
đoàn tín hữu thời GH ban đầu được sách CVTĐ hôm nói đến. Đó là một cộng đoàn
tín hữu không những hiệp thông bên ngoài: “…đối với họ, mọi sự đều là
của chung”, nhưng trên hết là bên trong “một lòng một ý”. Qủa
là cộng đoàn tín hữu tuyệt đẹp, đáng mơ ước!
Vậy nhờ vào đâu mà cộng đoàn GH non trẻ làm được điều kỳ diệu ấy?
Có phải nhờ tài năng lãnh đạo của các tông đồ không? Chắc chắn là không.
Vì các tông đồ đa phần là những người bình dân học vụ, kiến thức và kinh nghiệm
lãnh đạo non nớt.
Có phải nhờ vào tình trạng dân trí cao và hiểu biết giáo lý sâu rộng
không? Chắn chắn là trình độ hiểu biết về giáo lý, kinh thánh cũng như kiến
thức khoa học của các kitô hữu bấy không sánh được như ngày nay…
Có phải nhờ vào nền kinh tế phát triển phồn vinh và đời sống vật chất dân
chúng bấy giờ dư đầy không? Chắn chắn là không!
Vậy nhờ đâu?
Thưa nhờ sức mạnh của đức tin.
Tin vào quyền năng của Thiên Chúa nên họ không ngại từ bỏ ý riêng để cùng
tùng phục ý Chúa.
Tin vào cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô do các tông đồ làm chứng nên
họ đã vượt lên những ích lợi vật chất đời này mà mưu tìm giá trị vĩnh cửu mai
sau.
Tin vào uy tín và thế giá của các tông đồ nên họ sẵn sàng gom góp của cải
mình có đem đến đặt dưới chân các tông đồ làm của chung.
Trên hết là vì họ tin vào tình yêu chân thành của nhau và xem nhau như là
anh em một nhà nên mong muốn “không ai phải thiếu thốn điều gì”.
Đã có thời nhiều quốc gia, nhiều triết thuyết muốn xây dựng xã hội thành
một cộng đoàn hiệp thông như cộng đoàn của các Kitô hữu đầu tiên, nhưng đều
thất bại. Bởi lẽ sự hiệp thông ấy không đến từ sức mạnh con người, nhưng đến từ
sức mạnh bởi ơn trên. Chính vì thế mà trong bài Tin mừng hôm qua Chúa Giêsu xác
quyết mạnh mẽ với Nicôđêmô: “…không ai có thể thấy nước Thiên Chúa , nếu
không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên”.(Ga 3, 3). Chính nhờ ơn ban của
Thiên Chúa và sức mạnh biến đổi của Chúa Thánh Thần, con người mới có thể tin
nhận vào Chúa Giêsu, Đấng từ trời xuống, nhờ đó mà được sống muôn đời như lời
Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô trong bài Tin mừng hôm nay .
Như thế để xây dựng Họ đạo thành một cộng đoàn hiệp thông theo mô hình của
các kitô hữu ban đầu, cần phải có đức tin: Tin vào Thiên Chúa quyền năng, tin
vào uy tín và thế giá của GH cũng như tin vào sự chân thành của nhau. Mà đức
tin là một ân ban từ trên cao và từ bên trong. Vì thế chúng ta tha
thiết xin Chúa củng cố niềm tin nơi mỗi người chúng ta. Nhờ
đó chúng ta mới có thể xây dựng Họ đạo trở thành một cộng đoàn hiệp thông như
cộng đoàn các tín hữu ban đầu.
SUY NIỆM 2:
Qua cuộc đàm đạo với Nicôđêmô trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu xác
nhận cho biết về nguồn gốc và vai trò của Người trong việc cứu độ con người.
- Trước hết Chúa Giêsu minh chứng về nguồn gốc của Người.
Nguồn gốc của Người đến từ trời cao, nên Người biết và thấy hết những điều
kiện cần thiết để được sự sống đời đời. Điều kiện cần thiết ấy chính là “phải
được sinh lại bởi ơn trên”. Bởi vậy
trước khi lên trời, Chúa Giêsu đã truyền dạy các tông đồ đi loan báoTin Mừng và
rửa tội cho muôn dân: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ,
loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép Rửa, sẽ được cứu
độ; còn ai không tin sẽ bị kết án…” (Mc 16, 15-16).
- Tiếp đến Chúa Giêsu cho biết vai trò của Người trong việc cứu độ.
Với hình
ảnh con rắn đồng được treo trong sa mạc thời Mô-sê đã cứu chữa những người bị
rắn lữa cắn khỏi chết, nhờ tin nhận và nhìn lên rắn đồng, Chúa Giêsu mời gọi
Nicôđêmô hãytin vào Ngài để được cứu độ.
Nếu xưa
kia nguyên tổ đã nghe lời cám dỗ của ma quỷ, đưa tay hái trái cấm trên cây mà
ăn để rồi nhận lấy án tử, thì nay với cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, Thánh Giá trở
thành cây quả phúc, Chúa Giêsu trở nên trái chín thơm lành, mang lại sự
sống trường sinh cho những ai tin tưởng nhìn lên Ngài và can đảm ăn lấy Ngài.
Tin tưởng
nhìn lên Ngài và ăn lấy Ngài, đồng nghĩa với việc chấp nhận đồng thân, đồng
phận, và đồng tử với Chúa Giêsu trên con đường khổ giá.
Như thế để
được sự sống đời đời ngoài điều kiện được sinh lại bởi ơn trên nhờ tác động của
Chúa Thánh Thần, chúng ta còn phải can đảm dấn bước theo Chúa Giêsu trên con
đường thập giá, qua việc chấp nhận những thử thách, gian nan, khốn khó ở
đời này với lòng tin tưởng vào mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Chúa
Giêsu.
Xin Chúa
cho mỗi người chúng ta trong mùa phục sinh này, biết ý thức sống trọn vẹn
ơn tái sinh làm con Chúa, dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần; nhất là
luôn can đảm chấp nhận vác thập giá mình, bước
theo Chúa Giêsu trong niềm xác tín: “Nếu chúng ta cùng chết với Ðức Kitô, chúng ta cũng
sẽ cùng sống với Người…” (Rm 6,8).
SUY NIỆM 3: THÁNH CATARINA-SIENA SỐNG TINH THẦN LỜI CHÚA
- Trong bài đọc I, sách Công vụ Tông đồ trình bày cho chúng ta một hình ảnh thật đẹp về
đời sống của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi: "Cộng đoàn tín hữu đông
đảo chỉ có một lòng một ý; không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng,
nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung." (Cv 4,32)
Đó là đời sống hiệp nhất, chia sẻ, yêu
thương nhau, một cộng đoàn được Chúa Thánh Thần thúc đẩy sống trong tình
bác ái huynh đệ.
- Bài Tin Mừng Thánh Gioan trình thuật cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với ông
Nicôđêmô về sự tái sinh trong Thánh Thần. Người nói: "Nếu
ai không được sinh ra bởi nước và Thánh Thần, thì không thể vào Nước Thiên
Chúa."
Qua đó, Chúa mời gọi chúng ta hãy sống bằng sức mạnh đổi mới từ trên cao;
đừng dựa vào khả năng tự nhiên của con người, nhưng hãy nương tựa vào ân
sủng và quyền năng của Thánh Thần, để bước vào sự sống thần linh.
- Thánh Catarina Siena chính là chứng nhân sống động của Lời Chúa hôm nay:
+ Một lòng một ý với Hội Thánh: Catarina, dù sống trong
thời kỳ Giáo Hội bị chia rẽ sâu sắc (cuộc Đại Ly Giáo), vẫn luôn một lòng gắn
bó với Giáo Hội, hết lòng cầu nguyện, viết thư, can đảm khuyên bảo cả giáo dân
lẫn giáo sĩ, và thậm chí can đảm khuyên Đức Giáo hoàng trở về Rôma để duy trì
sự hiệp nhất.
+ Sống tinh thần nghèo khó và chia sẻ: Thánh nhân chọn
đời sống đơn sơ, khiêm tốn, luôn chia sẻ những gì mình có cho người nghèo, chăm
sóc bệnh nhân trong những giai đoạn dịch bệnh khủng khiếp.
+ Tái sinh trong Thánh Thần: Catarina không sống theo
tinh thần thế gian. Ngay từ nhỏ, ngài đã được Thánh Thần dẫn dắt, sống mật
thiết với Chúa Kitô qua cầu nguyện, ăn chay, hy sinh, và yêu mến tha nhân đến
tận cùng.
+ Vượt trên lối sống cũ để bước vào sự sống mới: Ngài tin
rằng chính nhờ ơn Thánh Thần mà linh hồn được tái sinh, được lớn lên trong đức
tin và lòng yêu mến, bất chấp những khốn khó và hiểu lầm.
- Mẫu gương đời sống của thánh nhân mời gọi chúng ta:
+ Hãy để Thánh Thần đổi mới: Đừng sống theo thói quen cũ,
theo kiểu thế gian, mà hãy mở lòng cho ơn Thánh Thần canh tân, đổi mới tâm hồn
mình mỗi ngày.
+ Sống hiệp nhất và chia sẻ: Trong gia đình, họ đạo, xã
hội, ta hãy thực hành "một lòng một ý", sống tinh thần yêu thương,
bác ái, và quảng đại chia sẻ như cộng đoàn tiên khởi và như Thánh Catarina
Siena.
+ Trung thành với Hội Thánh: Như Thánh Catarina, ta được
mời gọi yêu mến, cầu nguyện, và cộng tác xây dựng Hội Thánh dù trong những lúc
khó khăn nhất.
Xin Chúa ban Thánh Thần trên chúng con, để chúng con biết sống hiệp nhất,
yêu thương và đổi mới mỗi ngày theo gương Thánh Catarina Siena. Xin cho chúng
con biết đón nhận sự sống mới trong Chúa và can đảm trở nên chứng nhân hy vọng
giữa thế giới hôm nay. Amen.
SUY NIỆM 4:
Bài đọc
Công vụ Tông đồ cho ta một bức tranh rất đẹp về Hội Thánh sơ khai: “Cộng đoàn tín hữu đông đảo mà chỉ có một
lòng một ý… không ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng.”
Đây không
phải là một lý tưởng xa vời, nhưng là hoa trái cụ thể của Đức Kitô Phục Sinh. Khi con người gặp
Chúa Phục Sinh, họ không còn sống ích kỷ, nhưng biết mở lòng, biết chia sẻ,
biết sống cho nhau.
Sự hiệp
nhất không chỉ là đồng thuận bên ngoài, mà là hiệp nhất trong tình yêu.
- Sự chia
sẻ không chỉ là cho đi vật chất, mà là trao ban chính mình.
Hình ảnh
ông Barnaba bán ruộng đất, đặt tiền dưới chân các Tông đồ, cho thấy: người sống
trong ánh sáng Phục Sinh thì không còn
bị ràng buộc bởi của cải, nhưng tự do để yêu thương.
- Câu hỏi
cho mỗi người: Tôi có đang sống đức tin như một “cá nhân riêng lẻ”, hay như một
thành viên gắn bó trong cộng đoàn?
Trong Tin
Mừng, Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô một điều rất mạnh mẽ: “Anh em phải được sinh
lại.” Sinh lại không phải là trở về thể lý, mà là được đổi mới tận căn tâm hồn nhờ Thánh Thần.
- Sinh lại
là từ bỏ con người cũ: ích kỷ, hẹp hòi, khép kín.
- Sinh lại
là đón nhận con người mới: yêu thương, tha thứ, quảng đại.
Chúa Giêsu
ví Thánh Thần như gió: “Gió muốn thổi đâu thì thổi…” Nghĩa là
đời sống mới không phải do ta kiểm soát, nhưng là mở lòng để Thiên Chúa hoạt động.
Chúa Giêsu
nhắc đến hình ảnh con rắn đồng thời ông Môsê giương cao trong sa mạc: ai nhìn
lên thì được cứu sống. Cũng vậy, Người sẽ bị “giương cao” trên thập giá, để: “ai
tin vào Người thì được sống muôn đời.”
Như thế: Ơn cứu độ không đến từ sức riêng ta,
nhưng từ niềm tin vào Đức Kitô chịu
đóng đinh và phục sinh. Nhìn lên Thánh Giá không phải là nhìn vào
đau khổ, nhưng là nhìn vào tình yêu cứu
độ.
Lời Chúa
hôm nay mời gọi chúng ta 3 điều cụ thể:
1. Sống hiệp nhất: bỏ đi chia rẽ, ghen tị, ích kỷ.
2. Sống đổi mới: để Thánh
Thần biến đổi con người mình mỗi ngày.
3. Sống niềm tin: luôn
hướng nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh để được sức mạnh và hy vọng.
* Gương sáng của Thánh Catarina Siêna
Cuộc đời
Thánh Catarina Siêna là một minh chứng sống động: Một phụ nữ đơn sơ nhưng đầy
Thánh Thần, dám can đảm lên tiếng để canh tân Hội Thánh, sống kết hiệp sâu xa
với Chúa Kitô chịu đóng đinh.
Ngài cho
thấy: ai thực sự “được sinh lại trong
Thánh Thần” thì sẽ trở thành khí cụ của Thiên Chúa giữa trần gian.
Chúa Phục
Sinh không chỉ ban cho ta niềm vui, nhưng còn mời gọi ta: sống hiệp nhất, sống
đổi mới, và sống niềm tin mạnh mẽ vào tình yêu cứu độ của Người.
Xin Chúa cho mỗi chúng ta thực sự được “sinh lại”, để đời
sống Kitô hữu không chỉ là danh nghĩa, nhưng là một đời sống mới trong Thánh Thần và trong tình yêu. Amen.
Thứ tư: Cv 5,17-26; Ga 3,16-21
SUY NIỆM 1:
Cùng với GH chúng ta đang sống trong tuần của lòng thương xót Chúa.
Lòng thương xót của Thiên Chúa thể hiện qua suốt chiều dài lịch sử và rộng
khắp mọi nơi, mọi thời.
Lòng thương xót của Chúa cũng thể hiện qua muôn vàn cách thế với nhiều
hình thức khác nhau. Cụ thể phụng vụ lời Chúa hôm nay giúp chúng ta nhận ra một
vài cách thế của lòng thương xót Chúa:
- Bài đọc I cho biết: lòng thương xót Chúa được thể hiện qua sự quan phòng kỳ diệu bằng việc
giải thoát các tông đồ ra khỏi ngục tù trong đêm tối, nhờ vào sự hướng dẫn của
vị Thiên Sứ Chúa sai đến; cũng như qua sức mạnh hỗ trợ của dân chúng, khiến cho
các thượng tế phải dè chừng trước những hành động sai trái của họ.
- Còn bài Tin mừng, Chúa Giêsu cho Nicôđêmô biết về lòng thương xót vô bờ bến của Thiên Chúa
qua việc trao ban chính Người Con yêu dấu của Ngài “Thiên Chúa đã yêu
thương thế gian đến nỗi dã ban chính người con của Ngài là đức kitô. Để ai tin
vào người con ấy thì không phải chết nhưng sẽ được sống đời đời”.
Lòng thương xót của Chúa thật vô biên. Đáng lẽ vì phạm tội con người phải
nhận lấy đau khổ và án chết đời đời, nhưng vì lòng thương xót, Thiên Chúa
đã hy sinh chính con mình là Đức Giêsu. Để nhờ và qua Người Con ấy, con người
được cứu độ.
Thánh Gioan xác quyết: Đức Kitô chính là Ánh Sáng. Chúa đã đến thế gian nhằm xua tan bóng tối
của tội lỗi và sự chết. Vì thế từ nay ai tin nhận và bước theo Ánh Sáng ấy soi
dẫn thì sẽ không chết trong bóng đêm tội lỗi, nhưng sẽ đón nhận được sự sống
đời đời nhờ Ánh Sáng vinh quang của Thiên Chúa soi chiếu.
Nhưng khốn thay, thế gian lại sợ ánh sáng và thích bóng tối, bởi vì ánh
sáng phơi bày tội ác xấu xa của họ. Vì thế, mỗi chúng ta hãy can đảm bước vào
vùng ánh sáng chân lý, hãy mạnh dạn khướt từ bóng tối của đam mê dục vọng và sự
dữ. Nhờ đó ánh sáng của lòng thương xót Chúa mới được lan tỏa đến mọi người và
mọi nơi.
Xin ánh sáng Chúa Kitô phục sinh được thắp lên trong lòng của mỗi chúng ta,
để ta lan tỏa ánh sáng lòng thương xót Chúa đến những nơi còn sống trong bóng
tối tử thần với hy vọng mọi người tin nhận ánh sáng của lòng thương xót Chúa
mà được cứu độ..
SUY NIỆM 2:
Ánh sáng và bóng tối, thánh thiện và tôi lỗi, sống và chết... luôn tồn tại
song song nơi trần gian và ngay trong mỗi con người chúng ta. Muốn bước đi
trong ánh sáng chân lý để được sự sống đời đời, chúng ta cần phải đến cùng
Đức Giêsu, nguồn ánh sáng và là Đấng ban sự sống.
Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh Ánh Sáng để chỉ về
Người.
- Ánh sáng là thứ quan trọng và gần gũi với con người. Ánh sáng rất cần
thiết cho sự sống. Không có ánh sáng thì không có sự sống. Thảo mộc , súc vật
và con người nếu không có ánh sáng thì sẽ chết.
- Ánh sáng giúp cho con người thấy nhau, thấy được vẽ đẹp vũ trụ vạn vật,
phân biệt được màu sắc và cảnh vật.
- Trong lãnh vực siêu nhiên, Chúa Giêsu muốn nói đến sự cần thiết của Ngài
như ánh sáng không thể thiếu. Không có Người thì tạo vật không được tạo thành.
Không có Người không có ơn cứu rỗi. Không có Người không có sự sống đích thực
nơi con người.
Nhưng con người chúng ta lại sợ ánh sáng và ngại đến cùng ánh sáng bởi lẽ
ánh sáng phơi bày tội lỗi chúng ta trước mặt Chúa và mọi người, nên chúng ta
thích ở trong bóng tối hơn là bước đi trong ánh sáng.
Xin Chúa giúp chúng ta biết can đảm đẩy lui những bóng tối của
gian dối, bất công, chia rẽ hận thù và sự chết ra khỏi tâm hồn và môi
trường sống của ta.
Xin cho chúng ta luôn yêu thích tắm dội ánh sáng chân lý, tình thương
và sự sống của Chúa Giêsu vào cuộc đời ta.
SUY NIỆM 3:
Sống trong xã hội vàng thau lẫn lộn, con người không còn khả năng phân biệt
đúng sai, tốt xấu, thật giả…vì thế, hơn bao giờ hết con người ngày hôm nay cần
có ánh sáng thật soi đường, chỉ lối.
Chúa Kitô, ánh sáng thật, đến trần gian để soi đường chỉ lối. Xin cho
chúng ta tin nhận và sống theo sự hướng dẫn của Ngài.
Ánh sáng là chủ đề tài nổi bậc trong Tin Mừng:
Ngay những trang đầu của tin mừng, thánh Gioan đã cho biết Chúa Giêsu
chính là “Ánh Sáng, Ánh Sáng thật, Ánh
Sáng đến trần gian và chiếu soi mọi người”.
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tự xưng là Ánh Sáng thế gian và Ngài mời gọi
con người đi trong Ánh Sáng của Ngài.
Từ hai ngàn năm qua, Ngôi Lời Thiên Chúa đã chiếu ánh sáng Thiên Chúa vào
trần gian. Người mang lửa xuống trần gian. Người mong ước cho ngọn lửa ấy cháy
bừng lên, lan rộng ra. Nhưng nhìn vào tình hình thế giới hôm nay, ta thấy bóng
tối vẫn còn vây phủ con người.
Bóng tối chết chóc của chiến tranh, hận thù, của ô nhiễm môi trường,
của đói nghèo, áp bức, phân biệt chủng tộc, của nền văn hóa sự chết giết hại cả
những mầm mống sự sống.
Bóng tối tội lỗi. Tội lỗi vẫn tiếp tục lan tràn. Sự dữ nổi lên dưới nhiều
hình thức khác nhau. Nguy hiểm nhất là người ta đánh mất cảm thức về tội lỗi,
thản nhiên sống trong tội, sống chung với tội lỗi.
Bóng tối của hận thù ghen ghét. Trong thế giới văn minh mà con người hô
hào hôm nay, vẫn còn có những người say máu giết hại đồng bào của mình, gây nên
tội ác diệt chủng. Vẫn có những thế lực đen tối ngấm ngầm gây chia rẽ giữa các
quốc gia, dân tộc, giữa các cộng đoàn, hội thánh...
Sống trong xã hội tràn ngập bóng tối của sự chết, của tội lỗi và hận
thù…như thế, Chúa Giêsu không ngừng mời gọi chúng ta phải chiếu giãi trước
mặt mọi người.
“Các con là ánh sáng thế gian”. Ngày nhận lãnh bí tích rửa tội, Giáo Hội trao cho ta cây
nến sáng để nhắc nhớ chúng ta hãy gìn giữ ngọn nến ấy luôn cháy sáng mãi trong
suốt cuộc đời.
Cây nến phục sinh mà người kitô hữu chúng ta thắp lên trong đêm lễ phục
sinh nhắc nhở chúng ta nhiệm vụ mang ánh sáng Chúa Kitô chia sẻ cho mọi người
chung quanh.
Xin Chúa giúp chúng ta tẩy sạch mọi bóng tối tội lỗi, để thực sự được sinh
lại cùng với Đức Giê-su. Trở nên con cái sự sáng bằng đời sống tươi vui, an
hoà, khiêm nhường, nhịn nhục, yêu thương, đoàn kết đến cho anh em.
SUY NIỆM 4:
Tin Mừng hôm nay mở ra một câu nói được xem là cốt lõi của đức tin Kitô
giáo: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã
ban Con Một…” (Ga 3,16).
Tình yêu
của Thiên Chúa không phải là một ý tưởng trừu tượng, nhưng là một hành động cụ
thể: trao ban chính Con của Ngài.
Ngài không yêu theo kiểu giữ khoảng cách, nhưng yêu đến cùng, yêu đến hy sinh.
Và mục đích của tình yêu ấy không phải để lên án, nhưng để cứu độ: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian,
không phải để kết án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được
cứu độ.”
Đây là một
chân lý rất an ủi: Thiên Chúa không đứng về phía sự kết án, nhưng luôn đứng về
phía sự cứu chữa.
Tuy nhiên,
Tin Mừng cũng nói đến một thực tế đau lòng:
“Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta lại yêu thích bóng tối hơn ánh sáng.”
Ánh sáng
chính là Đức Kitô. Ngài đến để soi sáng, để chữa lành, để giải thoát. Nhưng con
người có tự do, và nhiều khi lại chọn bóng tối.
Bóng tối
là gì? Là tội lỗi, là gian dối, là lối sống khép kín, sợ ánh sáng vì sợ bị lộ
ra sự thật.
Ngược lại,
người sống trong sự thật thì không sợ
ánh sáng, vì họ tin rằng ánh sáng không tiêu diệt họ, nhưng thanh luyện
và biến đổi họ.
Đức tin
không chỉ là tin bằng lời nói, mà là dám
bước ra ánh sáng, sống minh bạch trước mặt Chúa và tha nhân.
Bài đọc I cho thấy một hình ảnh rất sống động: các Tông đồ bị bắt, bị giam, nhưng
được thiên thần giải thoát và tiếp tục ra giảng dạy công khai. Điều đáng chú ý
là: Họ không sợ hãi. Họ không im lặng. Họ không thỏa hiệp
Tại sao?
Vì họ đã gặp Đấng là Ánh Sáng.
Một khi đã sống trong ánh sáng, người ta không thể quay lại bóng tối. Ánh sáng
của Đức Kitô không chỉ soi chiếu, mà còn ban sức mạnh để làm chứng.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta xét lại đời sống:
- Tôi có
tin thật rằng Thiên Chúa yêu tôi đến
mức ban chính Con của Ngài không?
- Tôi đang
sống trong ánh sáng hay vẫn còn giữ những “góc tối” trong lòng?
- Tôi có
dám sống sự thật, dám làm chứng cho Chúa giữa đời không?
Đôi khi
chúng ta vẫn thích “nửa sáng nửa tối”: Đi lễ nhưng chưa bỏ tội. Tin Chúa nhưng
còn sợ thiệt thòi. Muốn theo Chúa nhưng chưa dám dứt khoát Lời Chúa hôm nay mời gọi: Hãy chọn ánh sáng,
chọn Đức Kitô, chọn sự thật.
Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước. Ánh sáng đã đến rồi. Vấn
đề không còn là Thiên Chúa có yêu hay không, mà là: chúng ta có dám bước ra ánh sáng hay không. Xin Chúa cho chúng ta
can đảm: bước ra khỏi bóng tối của tội lỗi, sống trong ánh sáng của sự thật, và
trở thành chứng nhân của tình yêu Thiên Chúa giữa đời.
Thứ năm: Cv 5,27-33; Ga 3,31-36
SUY NIỆM
1:
Cuộc sống
là một chuỗi những lựa chọn. Chọn đúng làm cho cuộc sống trở hạnh phúc. Chọn
lựa sai sẽ làm cho đời ta bất hạnh. Chọn lựa là quyền tự do căn bản của con
người. Chính quyền tự do ấy đã được Thiên Chúa ban tặng và Ngài luôn tôn trọng
quyền quyết định tự do của con người. Vì thế, con người phải chịu trách nhiệm
về sự lựa chọn của mình. Phụng vụ lời chúa hôm nay đặt ra cho các tông đồ và Nicôđêmô những
lựa chọn.
- Bài đọc I đặt ra
cho các tông đồ đứng trước giữa hai chọn lựa:
Chọn nghe
theo lời các Thượng Tế im lặng trước sự thật về sự kiện phục sinh của Chúa
Giêsu thì sẽ được an phận. Còn nếu lên tiếng rao giảng và làm chứng cho sự thật
ấy thì sẽ nguy hại đến bản thân. Nhưng nhờ vào sức mạnh của ơn Chúa Thánh
Thần thúc đẩy, các ngài đã mạnh mẽ chọn lựa đứng về sự thật: “Vâng lời Thiên Chúa hơn là
vâng lời người phàm”.
- Còn bài Tin Mừng hôm nay thì Chúa Giêsu lại đặt ra cho Nicôđêmô về
hai chọn lựa: tin hay không tin vào Ngài. Chúa Giêsu nói: “Ngài chính
là Đấng được Thiên Chúa sai đến, Ngài nói những lời của Thiên Chúa… ai
tin vào Ngài thì có sự sống đời đời. Còn ai không tin vào Ngài, thì sẽ không
được thấy sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên người ấy”.
Ta không biết sau đó ông đã chọn lựa thế nào, bởi Tin Mừng bỏ ngỏ. Điều này
khiến chúng ta lại phải nghĩ đến quyết định lựa chọn của mỗi người chúng ta.
- Đúng
vậy, chọn lựa luôn gắn liền với đời sống chúng ta. Nhìn lại cuộc sống thường
ngày, chúng ta thấy mình thích chọn lựa những gì xem ra nhẹ nhàng, dễ dãi,
không thích chọn gian khổ hy sinh; chúng ta thích chọn nghe những lời ngon ngọt
a dua; ngợi khen và chúc tụng hơn là những lời góp ý chân thành, bởi lời thật
thì đắng lòng.
Cũng thế,
chúng ta thường thích nói những lời của con người hơn là nói những lời của
Chúa, thích chọn lựa đứng về lợi ích nhóm hơn là đứng về những ai cô thế cô
thân. Chúng ta thường hay chọn im lặng trước dối trá hơn là bênh vực cho sự
thật và công lý, bởi lẽ theo khuynh hướng tự nhiên ai trong chúng ta cũng thích
chọn an phận hơn là tạo ra phiền phức cho bản thân khi phải sống và làm chứng
nhân cho Chúa.
Xin Chúa
Giêsu Phục sinh ban dồi dào ơn khôn ngoan và sức mạnh của Chúa Thánh
Thần trên chúng ta, để chúng ta sáng suốt chọn lựa đúng ý Chúa muốn và can đảm
thực hiện cho những sự lựa chọn ấy vì biết rằng mình đã làm đẹp lòng
Chúa như các tông đồ xưa. Có như vậy ta mới xứng đáng đón nhận ơn cứu độ do
Chúa Giêsu phục sinh đem đến.
SUY NIỆM 2:
Bằng những hình ảnh đối lập: Cao và thấp, trời và đất, Chúa Giêsu muốn xác
định về thiên tính của Ngài và mời gọi chúng ta dấn bước theo Ngài với mong
muốn chúng ta có được sự sống đời đời.
Vì Ngài đến từ trên cao nên Ngài cao trọng hơn hết mọi người. Ngài được
Thiên Chúa sai đi nên Ngài là Người của Thiên Chúa. Ngài được Thiên Chúa yêu
thương trao ban thần khí vô ngần vô hạn và được Chúa Cha trao ban mọi sự trong
tay Ngài nên Ngài là Đấng khôn ngoan và là đầy uy quyền. Tất cả những lời Ngài
đã mạc khải cho Nicôđêmô biết xác nhận Ngài chính là Con Thiên Chúa và là Thiên
Chúa thật.
Vì ngài đến từ trời cao, là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa làm người, nên
Ngài thấy hết, biết hết mọi sự. Do đó, lời chứng của Ngài là chân thật, để ai
tin vào Ngài thì có được sự sống đời đời, còn kẻ nào không tin thì sẽ bị luận
phạt.
Là Thiên Chúa làm người và đã trải qua kiếp người bằng cái chết đau
thương, để rồi phục sinh vinh hiển trở về cùng Thiên Chúa, nên ai tin theo con
đường Ngài đã đi thì sẽ không sợ lạc đường về quê trời.
Chúa
Giêsu không chỉ vạch ra cho ta con đường đạt đến sự sống đời
đời, mà Ngài còn dấn thân tiến bước trên con đường ấy. Vì thế, chúng ta
hãy vững tin tiến bước theo Ngài. Đường dẫn về quê trời đã có, người dẫn đường
đã sẵn sàng, điều quan trọng còn lại là tùy thuộc vào mỗi chúng ta có dám dấn
thân bước theo hay không? Chúa không thể bắt ép ta bước đi trên con đường
ấy, nếu như ta không muốn.
Xin cho chúng ta biết ngước vọng lòng trí về quê trời vĩnh cửu mà ái mộ
những sự trên trời và sẵn sàng bước theo Chúa Giê-su đến cùng. Nhờ đó, ta mới
thoát khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa mà đón nhận ơn ban sự sống đời đời.
SUY NIỆM 3:
Trong bài đọc I, các Tông đồ bị điệu ra trước Thượng Hội Đồng và bị cấm không được rao
giảng về Đức Giêsu. Nhưng thánh Phêrô mạnh mẽ tuyên bố: “Phải vâng lời Thiên
Chúa hơn là vâng lời người phàm.”
Đây không
phải là sự chống đối, nhưng là một lựa
chọn đức tin. Các ông biết rõ: nếu im lặng, các ông sẽ an toàn; nhưng
nếu lên tiếng, các ông có thể phải trả giá bằng chính mạng sống. Tuy nhiên, các
ông vẫn chọn sự thật.
Điều này
đặt ra cho mỗi người chúng ta một câu hỏi:
- Tôi đang
sống theo ý Chúa hay theo áp lực của con người?
- Tôi có
dám làm chứng cho Chúa trong môi trường sống của mình không?
Tin Mừng theo Gioan hôm nay cho thấy sự đối lập rõ ràng: Người bởi đất thì nói chuyện dưới
đất. Còn Đức Giêsu là Đấng từ trời mà đến, nói lời của Thiên Chúa. Ngài không
chỉ nói về Thiên Chúa, mà chính Ngài là
mạc khải trọn vẹn của Thiên Chúa Cha. Ai đón nhận Ngài là đón nhận chính
Thiên Chúa; ai từ chối Ngài là khép lòng trước sự sống.
Đức tin
không chỉ là hiểu biết, mà là đón nhận
một con người, Đức Giêsu Kitô.
Lời Tin
Mừng kết thúc bằng một câu rất mạnh: “Ai tin vào Người Con thì được sự sống
đời đời; kẻ không tin thì không được thấy sự sống.” Đây không phải là lời
đe dọa, mà là một chân lý thiêng liêng:
Tin là mở lòng ra với ánh sáng. Không tin là tự đóng cửa trước ân sủng.
Thiên Chúa
luôn muốn cứu độ, nhưng Ngài tôn trọng tự do của con người. Chính lựa chọn của
ta quyết định hướng đi của đời mình.
Lời Chúa
hôm nay mời gọi chúng ta:
- Can đảm làm chứng cho Chúa, dù gặp khó
khăn hay bị hiểu lầm
- Gắn bó với Đức Giêsu, lắng nghe và
sống lời Ngài mỗi ngày
- Củng cố đức tin, vì chỉ trong Ngài, ta
mới có sự sống thật.
Giữa một thế giới còn nhiều tiếng nói trái ngược, xin cho
chúng ta biết chọn nghe tiếng Chúa. Xin ban cho chúng ta lòng can đảm của các
Tông đồ, để ta dám sống và làm chứng cho sự thật. Và xin củng cố đức tin nơi
ta, để ta luôn tin vào Chúa, nguồn sống đời đời. Amen.
SUY NIỆM 4: GIỮ LẤY BẢN SẮC CỦA MÌNH
Ngày nay, trên thế giới, người Việt Nam của chúng ta gần
như có mặt hầu hết nơi các quốc gia! Để gợi nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn của
mình, đã có nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo về nguồn gốc, văn hóa Việt!
Trong các buổi hội họp đó, gần như không thể quên, người
ta luôn nhắc nhớ nhau hãy giữ gìn bản sắc, văn hóa, truyền thống của dân tộc
Việt, cho dù hiện diện ở bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì!
Tại sao vậy? Thưa, con người chỉ có thể lớn lên cách quân
bình khi người ta còn giữ được bản chất, văn hóa, truyền thống của dân tộc
mình. Nếu không, họ là một người thiếu trưởng thành!
Là người Công Giáo, ngày chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa
Tội, chúng ta được trở thành Kitô hữu, tức là chúng ta mang trong mình hình ảnh
Đức Kitô. Nói cách khác, chúng ta thuộc về Đức Kitô. Vì thế, bổn phận của chúng
ta phải làm sao cho Đức Kitô được hiện tại hóa trong lời nói, hành động và cử
chỉ của chúng ta. Đồng thời, chúng ta cũng cần phải khước từ những gì không phù
hợp với bản chất của mình.
Hôm nay, vẫn trong trình thuật giữa Đức Giêsu và
Nicôđêmô, nhưng câu chuyện ngày càng đi sâu vào cốt lõi của vấn đề, đó là, Đức
Giêsu cho Nicôđêmô biết được bản chất của Ngài và những công việc Ngài làm do
được lãnh nhận từ Chúa Cha, Ngài nói: “Đấng được Thiên Chúa sai đi, thì
nói những lời của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô
hạn. Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người” (Ga
3, 34-35).
Với câu chuyện trên, qua Nicôđêmô, Đức Giêsu mở rộng ra
cho mọi người thấy được tầm quan trọng và giá trị cho những ai được hạnh phúc
thuộc về Đức Giêsu, đồng thời cũng mạc khải cho biết hậu quả của những kẻ không
tin: “Ai tin vào người Con, thì được sự sống đời dời; còn kẻ nào không
chịu tin vào người Con, thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên
Chúa đè nặng trên kẻ ấy” (Ga 3, 36).
Xin Chúa ban cho chúng ta biết luôn luôn ý thức mình
thuộc về Đức Kitô và phải có trách nhiệm làm cho Đức Kitô lớn lên và rạng ngời
ngang qua cuộc sống của chúng ta. Amen.
Thứ sáu: Cv 5,34-42; Ga 6,1-15
SUY NIỆM
1:
“Hãy tín
thác vào lòng thương xót Chúa”, đó là sứ
điệp mà Chúa Giêsu gửi đến nhân loại qua thánh nữ Faustina. Sứ điệp ấy càng
được xác tín qua phụng vụ lời Chúa hôm nay.
Bài đọc I
hôm nay cho biết: trong lúc mà các giới chức lãnh đạo tôn giáo triệu tập họp
hội đồng Do Thái để tìm cách tiêu diệt các tông đồ nhằm dập tắt đạo Giêsu. Thì
Chúa lại quan phòng cho một người Pharisêu tên là Gamaliên đứng ra giữa hội
đồng để phân tích thiệt hơn nếu ra tay giết hại các tông đồ.
Sau khi
ông nhắc lại các phong trào mang tính nhân loại thuần túy nổi lên trước đây
nhưng đến nay tất cả đều bị tan rã. Thì ngay sau đó ông xác tín rằng:“Còn
quả thật là do Thiên Chúa thì không thể nào phá hủy được, không khéo lại quý vị
lại thành những kẻ chống Thiên Chúa”. Nghe những lời đó nên họ chùng bước, chỉ quyết định đem các tông
đồ ra đánh đòn và cấm không cho nói đến danh Đức Giêsu nữa, rồi thả đi. Dẫu bị
đánh đập nhưng các tông đồ cảm thấy “lòng hân hoan bởi được coi là
xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu và tiếp tục rao giảng và loan báo tin
mừng tại tư gia và trong đền thờ”.
Còn bài
tin mừng thì tường thuật lại những hoạt động của Chúa Giêsu bên kia biển hồ
Ga-li-lê. Chiêm ngắm về tất cả những lời nói, cử chỉ, việc làm của Chúa Giêsu
được thể hiện trong bài tin mừng hôm nay, ta nhận thấy Chúa Giêsu không chỉ
quan tâm đến nhu cầu tâm linh mà còn cả nhu cầu vật chất của dân chúng nữa.
Với lòng thương xót trước sự bơ vơ và đói khát của đám đông dân
chúng theo Ngài nên Ngài đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi sống họ.
Như thế
lời Chúa hôm nay giúp chúng ta hiểu rằng một khi can đảm tín thác vào lòng
thương xót Chúa qua việc dấn bước theo và nghe Lời giảng dạy của Ngài
(bài tin mừng), cũng như hy sinh làm chứng cho tin mừng phục sinh của Ngài
(bài đọc I) thì Chúa không bỏ rơi bao giờ.
Xin cho
chúng ta luôn biết tín thác mạnh mẽ vào lòng thương xót của Chúa để can đảm
loan truyền tình thương của Ngài cho mọi nơi dẫu phải gặp nhiều thử
thách với niềm tin rằng: “có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại
chúng ta?”.
SUY NIỆM 2:
Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu đã làm phép lạ bánh hóa nhiều để nuôi đám
đông. Cho thấy Ngài quan tâm đến nhu cầu của thân xác của con người. Nhưng
Ngài không dừng lại ở việc thỏa mãn nhu cầu cơ bản là “đói cho ăn, khát cho
uống”. Cơm bánh chỉ là thứ lương thực mau qua dành cho thân xác, chứ không phải
là thứ lương thực đem lại sự sống đời đời. Do đó Ngài muốn ban cho con người
thứ lương thực trường tồn đem lại sự sống vĩnh cửu.
Để có được của ăn mau qua, nuôi dưỡng thân xác, con người phải ra công làm
việc vất vã “đổ mồ hôi sót con mắt ”, cũng như biết nhường cơm xẻ áo cho nhau.
Để có của ăn vĩnh cửu, nuôi dưỡng tinh thần và tâm linh, con người
chỉ cần làm hai việc: Đến với Chúa Giêsu và Tin vào Ngài.
Cái đói của thân xác không cồn cào bằng cái đói tinh thần.
Con người đói công bằng và hạnh phúc, đói yêu thương và kính trọng.
Con người khát niềm vui và bình an, cảm thông và sự thật.
Trong nơi sâu thẳm, con người đói khát Ai đó để mình yêu
mến tôn thờ.
Đức Giêsu mời ta hãy tin vào Ngài là Đấng được Thiên Chúa sai đến.
Hãy đến với Giêsu để bắt đầu được nếm thử tấm bánh của Ngài, vì chính Ngài
là Tình yêu, Sự thật và Bình an.
Xin cho chúng ta biết siêng năng đến với Chúa Giêsu với niềm tin yêu, để
chúng ta được chính Chúa nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và Bánh Thánh, là thứ lương
thực không hư nát và đem lại sự sống đời đời cho chúng ta.
SUY NIỆM
3:
Lời Chúa
hôm nay mời gọi chúng ta nhìn vào sự đối lập giữa cái nhìn nhân loại và quyền
năng Thiên Chúa thông qua hai câu chuyện: sự can thiệp của ông Gamaliên tại
Thượng Hội đồng và phép lạ hóa bánh ra nhiều.
1. Bài đọc I cho biết: Trong cơn giận dữ của Thượng Hội đồng đối với các Tông đồ, ông Gamaliên,
một bậc thầy luật pháp đã đưa ra một lời khuyên đầy khôn ngoan và tỉnh táo.
Gamaliên nhắc lại lịch sử về những kẻ tự xưng là thủ lĩnh nhưng rồi tan
rã. Ông đưa ra một nguyên tắc vàng: Cái gì đến từ loài người sẽ tự hủy diệt,
cái gì đến từ Thiên Chúa thì không ai có thể ngăn cản.
Các Tông đồ sau khi bị đánh đòn đã ra đi với tâm thế "hân hoan bởi được coi là
xứng đáng chịu sỉ nhục vì danh Đức Giêsu". Đây là nghịch lý của
Tin Mừng: Đau khổ không dập tắt được hy vọng, mà trái lại, nó minh chứng cho
sức mạnh Phục Sinh đang hoạt động trong họ.
2. Tin Mừng thuật lại phép lạ hóa bánh ra nhiều không chỉ là một minh chứng về quyền năng, mà
còn là bài học về sự cộng tác giữa con người và Thiên Chúa.
- Philípphê: Nhìn vào ngân
sách ("Hai trăm đồng bạc cũng không đủ").
- Anrê: Nhìn vào thực tế ít ỏi ("Năm chiếc bánh và hai con cá, nhưng bấy
nhiêu thì thấm vào đâu?").
- Chúa Giêsu không làm phép lạ từ hư vô. Người cần "năm chiếc bánh và hai con cá" của một em bé. Phép lạ bắt
đầu khi chúng ta dám trao đi những gì nhỏ bé nhất mình có.
Sự dư dật của Thiên Chúa: Sau khi mọi người ăn no nê, còn thu lại được 12 giỏ đầy.
Thiên Chúa không bao giờ ban cho vừa đủ theo kiểu tiết kiệm, Ngài luôn ban cho
một cách quảng đại và dư dật.
Sứ điệp lời Chúa hôm nay gửi đến ta 3
bài học:
1. Đừng sợ hãi trước những thử thách: Như các Tông đồ, khi đối diện với những cản trở trong
cuộc sống hay đức tin, hãy nhớ rằng nếu ta đang làm việc của Chúa, Ngài sẽ bảo
vệ và gìn giữ.
2. Đừng coi thường "năm chiếc bánh"
của mình: Có bao giờ bạn
cảm thấy tài năng, thời gian hay tiền bạc của mình quá ít ỏi để giúp đỡ người
khác? Đừng giữ lại cho riêng mình. Hãy trao nó vào tay Chúa, Ngài sẽ nhân nó
lên gấp bội để nuôi sống nhiều linh hồn.
3. Sống tinh thần Phục Sinh: Niềm vui của người Kitô hữu không phụ thuộc vào việc mọi
chuyện suôn sẻ, mà phụ thuộc vào việc ta có đang bước đi với Đấng Phục Sinh hay
không.
Xin Chúa cho ta biết tin tưởng vào quyền năng của Chúa hơn là những tính toán hạn
hẹp của bản thân. Xin giúp ta dám chia sẻ "năm chiếc bánh và hai con
cá" của cuộc đời mình cho anh chị em, để danh Chúa được cả sáng. Amen.
SUY NIỆM
4: PHÉP LẠ DO TÌNH THƯƠNG
Trong bài
hát “để gió cuốn đi” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, ngay ở đầu bản nhạc có
viết: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”.
Thật vậy,
trong cuộc sống, nếu ai ai cũng có tấm lòng, dù chỉ một chút thôi, thì chắc con
người sẽ sống với nhau trong cảnh hòa bình, ấm no và hạnh phúc! Nhưng tiếc
thay, xã hội ngày càng phát triển, nhiều người giàu có, nhưng cùng lúc, phát
sinh nạn phân biệt giàu nghèo rõ rệt hơn bao giờ hết! Vì vậy, vẫn còn đó chuyện
“nơi ăn không hết, chỗ lần không ra”.
Hôm nay,
Tin Mừng trình thuật việc Đức Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều. Khởi đi từ
lòng thương xót của Ngài: “Ngước mắt lên, Đức Giêsu nhìn thấy đông đảo
dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Philípphê: ‘Ta mua đâu ra
bánh cho họ ăn đây?’ (Ga 6, 5).
Tiếp theo
là tấm lòng quảng đại của một em bé: “Có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con
cá”, và, Đức Giêsu đã tiếp nhận tấm lòng nhỏ bé nhưng tinh thần lớn lao của em
để kết hợp với lòng thương xót của Ngài, Ngài làm nên chuyện phi thường là làm
phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều để nuôi dân chúng (x. Ga 6, 11).
Ai nấy đều
được no nê nhờ vào tấm lòng của vị Mục Tử Giêsu và sự quảng đại của em nhỏ.
Sứ điệp
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết chia cơm sẻ bánh cho nhau, tức là
sống với nhau trong tinh thần liên đới, trách nhiệm. Đạo Công Giáo không bao
giờ chấp nhận chuyện mạnh ai nấy sống. Sống như thế là ích kỷ, là chỉ biết đến
cái bụng mà không hề làm cho trái tim lớn lên trong tình yêu.
Bên cạnh
đó, chúng ta còn học được bài học tin tưởng, phó thác nơi Chúa, vì có Chúa là
có tất cả, không chỉ vậy, mà còn dồi dào. Hình ảnh các môn đệ “thu những miếng
thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai
thúng” có ý muốn nói và củng cố cho chúng ta về lòng tín thác nơi Thiên Chúa.
Lạy Chúa
Giêsu, xin ban cho chúng con biết sống quảng đại, biết nghĩ đến người khác hơn
là nghĩ đến bản thân mình. Biết sống tình bác ái huynh đệ để trở thành môn đệ
của Chúa đích thực. Xin cũng ban thêm đức tin cho chúng con, để chúng con luôn
vững tin vào quyền năng Chúa. Amen.
Ngọc Biển SSP
Thứ bảy: Cv 6,1-7; Ga 6,16-21
SUY NIỆM 1:
Các nhà xã hội học định nghĩa: “con người là con vật có xã hội tính”. Do
đó không ai là một hòn đảo. Chúng ta sống là sống với, sống cùng, sống cho,
sống vì, sống nhờ nhau… Nhờ đời sống cộng đồng mà con người được lớn lên, phát
triển và thành toàn hơn nhờ sự tương trợ lẫn nhau. Tuy nhiên cũng vì sống
chung mà cuộc sống chúng ta gặp phải không ít khó khăn và thử thách.
- Bài đọc I hôm nay cho thấy có một vấn đề khó khăn được đặt ra trong đời
sống của cộng đoàn sơ khai. Đó là sự ghen tỵ, phân bì xảy ra, bởi lẽ có những
bà góa Do Thái gốc Hy Lạp chịu thiệt thòi bởi không được các tông đồ quan tâm
nhiều. Điều này có nguy cơ đưa đến sự chia rẽ, hận thù và trở thành gương
mù. Sáng suốt nhận ra nguy hại ấy nên các tông đồ đã tìm cách giải quyết.
Thay vì dùng quyền bính của mình để chống chế hoặc tìm cách loại trừ họ
ra khỏi cộng đoàn, thì trái lại các tông đồ lại biết khiêm tốn nhận ra sự
thiếu sót của mình vì đã không quan tâm chăm lo cho họ đủ. Để giải quyết cho
nhu cầu chính đáng ấy của mọi thành phần, các tông đồ đã đề nghị chọn thêm 7
phó tế nữa để phụ giúp các ngài phục vụ cho các bà góa, cho dẫu đây thành phần
không được xã hội đề cao lúc bấy giờ. Nhờ đó mà cuộc sống của cộng đoàn bấy giờ
trở nên hài hòa và êm đẹp.
- Bài Tin mừng hôm nay thì nêu lên những sóng gió mà các tông đồ gặp phải
khi xuống thuyền sang bờ bên kia biển hồ trong đêm tối. Trong bóng đêm ngoài
việc phải vất vả chống chọi với sóng to gió lớn, các ông còn phải đối mặt
với sự sợ hãi kinh hồn khi thấy Chúa Giêsu đi trên mặt biển đến với họ, vì
tưởng là ma. Nhưng nhờ lời trấn an của Chúa Giêsu: “Thầy đây mà, đừng
sợ!”, bấy giờ các ông mới tìm lại được sự bình an và con thuyền cũng được
cập bến an toàn.
- Cuộc đời ta của chúng ta cũng tựa như một cuộc hải trình vượt biển trần,
có lúc thuyền đời của ta cảm thấy bình yên, nhưng cũng có lúc bất an sợ hãi vì
sóng to gió lớn nổi lên. Tuy nhiên nếu chúng ta nhạy bén nhận ra Chúa cùng đồng
hành với chúng ta trong mọi cảnh huống, thì ta sẽ cảm thấy bình an cho dẫu phải
dối mặt với nhiều sóng gió cuộc đời.
Xin Chúa phục sinh luôn hiệp hành với chúng ta để bảo vệ, che chở và hướng
dẫn chúng ta đi đúng theo lối đường của Chúa, nhờ đó thuyền đời của ta mới
dễ dàng vượt thắng mọi sóng gió hiễm nguy mà đạt đến bến bờ của bình
an và hạnh phúc, nhờ vào sức mạnh của quyền năng Chúa.
SUY NIỆM 2:
Suy niệm về bài Tin Mừng hôm nay, ta nhận ra rằng:
- Các môn đệ chính là mỗi người chúng ta.
- Con thuyền là hình ảnh của Giáo Hội.
- Biển Hồ là hình ảnh trần gian.
- Đêm tối, bảo tố, gió mạnh là những thử thách do ma quỷ gây nên.
- Bờ bên kia là hạnh phúc nước trời mà con người cần vươn tới.
Cũng như
các môn đệ xưa, chúng ta đã bước vào con thuyền của Giáo Hội khi lãnh nhận
bí tích thánh tẩy. Cùng với con thuyền Giáo hội, chúng ta đang tiến bước trên
biển đời trần gian.
Giống như
con thuyền của các môn đệ bị những cơn sóng to, gió lớn đánh dữ dội, thì ở mọi
thời, mọi nơi Giáo Hội cách chung, cách riêng mỗi chúng ta cũng đương
đầu với những chống đối, những vu khống, bôi nhọ và loại trừ do thế lực ma quỷ
gây ra.
Có khi
những bóng tối, những vết đen đáng tiếc xảy ra trong Giáo Hội cách chung hay
những đau khổ, những thất bại và những bất hạnh xảy
đến cho bản thân, làm cho ta dao động, mất hướng sống. Khi đó là
lúc thuyền đời của ta đang đi trong đêm tối đức tin, đến
nỗi ta muốn buông xuôi tất cả. Quan trọng là Chúa Giêsu phục sinh không bỏ rơi chúng ta khi gặp
gian nan thử thách. Chính lúc đó, Chúa sẽ ra tay cứu giúp chúng
ta, không để cho sóng gió nhận chìm chúng ta vì “Ơn
Ta đủ cho con”. Ngài vẫn ở bên Giáo Hội. Ngài luôn đồng hành và
hiện diện bên mỗi người chúng ta. Ngài ban Chúa Thánh Thần hướng dẫn Giáo
Hội và ban ơn trợ giúp chúng ta đủ sức lướt thắng mọi
sóng to gió lớn và dìu bước chúng ta cập bến bình an,
nếu chúng ta biết tin tưởng cậy trông và phó thác vào Ngài.
Xin Chúa
phục sinh ban thêm lòng tin kiên vững nơi chúng
con, để dù trong bất cứ hoàn cảnh thử
thách nào, ngay cả những lúc bước đi trong đêm tối của đức tin, chúng
con vẫn an tâm tiến bước trên biển đời.
Xin Chúa
luôn hiện diện và đồng hành với chúng con, để đưa dẫn chúng con đạt tới bến bờ
bình an.
SUY NIỆM 3:
Hôm
nay, Phụng vụ đưa chúng ta đến với hai hình ảnh đối lập nhưng lại bổ trợ cho
nhau: Sự xáo trộn trong cộng đoàn sơ
khai và Cơn bão trên biển hồ.
Cả hai
đều mời gọi chúng ta nhìn vào cách Thiên Chúa hiện diện giữa những "cơn
sóng" của cuộc đời.
1. Bài đọc I: Trong cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên, một vấn đề thực tế đã nảy
sinh: Những người Do Thái theo văn hóa Hy Lạp phàn nàn vì các góa phụ của họ bị
bỏ rơi trong việc trợ giúp hàng ngày.
Giáo hội sơ khai không phải là một cộng đoàn "vô
trùng" hay hoàn hảo không tì vết. Ở đâu có con người, ở đó có giới hạn và
sự phân biệt đối xử vô tình.
Các Tông đồ không trốn tránh trách nhiệm cũng không ôm đồm tất
cả. Các ông thiết lập hàng Phó tế (bảy người được đầy rẫy Thánh Thần).
Việc này giúp các Tông đồ tập trung vào cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa, trong
khi việc bác ái vẫn được thực hiện chu đáo.
Sự hiệp nhất không có nghĩa là không có vấn đề, mà là cùng
nhau tìm giải pháp trong đức ái và sự tổ chức dưới ánh sáng của Chúa.
2. Tin Mừng: Bối cảnh là sau khi Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều,
Người lánh mặt lên núi, còn các môn đệ chèo thuyền sang phía bên kia biển hồ.
Các môn đệ đối diện với hai nỗi sợ: Bóng tối (trời đã
tối) và Sóng gió (biển động mạnh). Đây là hình ảnh ẩn dụ cho những giai
đoạn tăm tối trong cuộc đời mỗi người: khi ta cảm thấy cô đơn, khi công việc bế
tắc, hoặc khi đức tin chao đảo.
Chúa Giêsu đi trên mặt nước mà đến với họ. Đáng lẽ sự hiện diện
của Người phải mang lại an tâm ngay lập tức, nhưng các môn đệ lại "hoảng
sợ". Tại sao? Vì đôi khi trong nghịch cảnh, chúng ta quá tập trung vào
cơn bão mà không nhận ra cách Chúa đến với ta thường vượt quá logic thông thường.
"Thầy
đây, đừng sợ!" Câu nói này (Ego eimi - Chính là Ta đây) không
chỉ là lời trấn an, mà còn là sự khẳng định vinh quang Thiên Chúa. Khi các ông
sẵn lòng "đón Người vào thuyền", thì ngay lập tức thuyền đã
cập bến.
- Đón
Chúa vào "thuyền" cuộc đời: Có những lúc chúng ta cố gắng chèo
chống một mình trước những khó khăn của gia đình, công việc. Chúng ta mệt mỏi
vì "gió ngược". Hôm nay, Chúa nhắc bạn: Hãy để Người bước lên thuyền.
Có Chúa, hành trình dù còn sóng gió nhưng đích đến sẽ được đảm bảo.
- Phục
vụ trong khiêm nhường: Giống như bảy phó tế đầu tiên, chúng ta được gọi để
lấp đầy những rạn nứt trong cộng đoàn bằng sự phục vụ tận tâm, thay vì chỉ dừng
lại ở sự cằn nhằn hay phê phán.
Chúa
Giêsu Phục Sinh, giữa những cơn bão của cuộc đời và những lúc tâm hồn con tối
tăm, xin cho chúng ta nghe được tiếng Chúa vang lên: "Thầy đây, đừng
sợ!". Xin ban cho chúng ta sự can đảm để đón nhận Chúa vào mọi biến cố của
đời chúng ta, để nhờ sức mạnh của Ngài, con có thể vượt qua mọi nghịch cảnh và
cập bến bình an. Amen.
SUY NIỆM 4: ĐỪNG SỢ-THẦY ĐÂY.
Chiều đến các môn đệ xuống Biển Hồ, rồi xuống thuyền đi
về phía Ca-phác-na-um bên kia Biển Hồ. Trời đã tối mà Đức Giêsu còn chưa đến
với các ông. Biển động vì gió thổi mạnh. Khi đã chèo được chừng hai mươi lăm
hoặc ba mươi chặng đường, các ông thấy Đức Giêsu đi trên mặt Biển Hồ và đang
tới gần thuyền. Các ông hoảng sợ. (Ga.
6, 16-19)
Sau ngày làm phép lạ bánh hóa nhiều đáng ghi nhớ, các môn
đệ lại xuống thuyền vượt biển trở về Ca-phác-na-um. Còn Đức Giêsu ở lại cầu nguyện
tới khuya như thói quen mọi ngày. Các tông đồ vất vả chèo thuyền vượt bão biển.
Đó cũng là những kinh nghiệm thường xảy ra trong cuộc đời
chúng ta. Sau khi chúng ta được nuôi dưỡng bằng bánh hằng sống, sau những cảm
nghiệm sống đức tin mạnh mẽ, chúng ta lại cảm thấy cô đơn bắt tay vào công việc
chẳng thấy tiến bộ gì.
Bao nhiêu thắc mắc vùng dậy: tại sao Đức Giêsu không đến
với chúng ta, đồng hành với ta, nâng đỡ ta?
Cần phải nhận biết rằng Đức Giêsu muốn để chúng ta đi một
mình, vì chúng ta là tạo vật có trách nhiệm. Đức tin vào Người không san bằng
những khó khăn, không dẹp tan giông tố. Đức tin không nhổ sạch các chông gai,
trở ngại. Kitô hữu đừng lầm tưởng đạo Chúa Kitô là một đạo dễ dãi, một đạo xây
nhà trú ẩn khỏi mọi nỗi lo sợ chiến đấu.
Hơn nữa, nếu Đức Giêsu để các môn đệ đi một mình, chính
là chỉ cho ta biết phải lo hành động, phải tập bước, phải cố gắng tự làm một
mình, không lười biếng, ỷ nại vào Thiên Chúa. Đó là những thái độ quyết định và
giải đáp của con người có nhân bản.
Có thể chúng ta sợ thiếu vắng Đức Giêsu vì chúng ta đã
quá quen với những sự bao che của gia đình, của trường học và xã hội. Nay đã
đến thời tất cả các thể chế đó không còn nói gì đến Đức Giêsu nữa, nên chúng ta
bơ vơ lạc lõng không dám tự đi, không dám tiến lên, không dám tự động hành đạo.
Chúng ta sợ không thấy Đức Giêsu đứng chờ bên kia chướng ngại vật, sau cơn bão
tố nữa.
Tin Mừng cho chúng ta thấy lý do cần phải chúc tụng Thiên
Chúa vì biết rằng Thiên Chúa đã ban cho chúng ta có tự do và trách nhiệm để
chúng ta biết quyết định và thăng tiến.
Nhưng chúng ta phải biết luôn luôn cầu nguyện xin Chúa
nối kết, đồng hành và tiếp sức cho chúng ta tới bến bờ bên kia, cầu nguyện để
tăng thêm lòng trông cậy tin tưởng Ngài ở đó để ban sức mạnh cho chúng ta đạt
tới đích muôn đời.
C.G
SUY NIỆM 5: “THẦY ĐÂY ĐỪNG SỢ”
Ai đã từng chứng kiến cảnh biển động hay nhất là khi nó
dậy sóng mà vẫn ở ngoài khơi, thì mới thấy sự sợ hãi là dường nào!
Thật vậy, nếu chẳng may đi biển mà gặp phải bão tố, cảnh
biển gầm sóng thét, con người mới thấy giữa sự sống và cái chết chỉ cách nhau
bằng gang tấc!
Những lúc như thế, ta thấy mình quá nhỏ bé và mong manh
trước sự hùng vĩ của thiên nhiên… mạng sống của con người lúc này được ví
như: “Ngàn cân treo sợi tóc”; hay “chỉ mành treo chuông”.
Tin Mừng hôm nay cũng trình thuật việc các Tông đồ gặp
phải hiểm nguy khi đang lênh đênh trên biển.
Cuộc đi biển của các ông lần này không có Đức Giêsu hiện
diện, bởi lẽ Ngài đã đi trước một mình vì dân chúng đang muốn tôn Ngài lên làm
vua theo ý của họ.
Đang đi theo lộ trình và khi trời đã tối, họ bị trận
cuồng phong bất ngờ ập tới. Tuy các ông là những người có nhiều kinh nghiệm về
biển cả, họ là những tay nghề lão luyện trong giới thủy trình. Ấy vậy, khi sóng
gió nổi lên, họ cũng trở thành bé nhỏ và yếu ớt trước sức mạnh của cuồng phong.
Sự sợ hãi đó được cộng thêm với hình bóng của Đức Giêsu đi trước mặt thuyền mà
họ không biết… Vì thế, trong đầu các ông đang hốt hoảng, hoang mang, và ai nấy
đều run sợ, thì Đức Giêsu lên tiếng trấn an các ông: “Thầy đây đừng
sợ”.
Đọc lại bài Tin Mừng này trong thánh lễ hôm nay, Giáo Hội
mời gọi chúng ta ý thức rằng: cuộc đời lữ thứ trần gian của mỗi người như một
hành trình của các thuyền nhân đi biển. Sống lênh đênh trên biển, mới thấy mình
nhỏ nhoi. Đối diện với bão táp phong ba mới thấy mình bất lực, và được Chúa yêu
thương, hiện diện thì ngay lập tức được bình an.
Xét về góc độ luân lý, cho phép chúng ta liên đới với đời
sống đức tin của mình để nhận ra rằng: có những lúc trong cuộc đời, chúng ta
gặp không ít khó khăn, thử thách đến từ nhiều phía, nhất là do tội lỗi, ích kỷ,
kiêu ngạo gây nên. Những khó khăn đó được khởi đi từ lòng mến lạnh nhạt của
chúng ta với Chúa, làm cho đức tin bị hao mòn, lòng trông cậy bị lung lay.
Những lúc như thế, chúng ta hãy xin Chúa ban cho mình được bình an nhờ nhận ra
có Chúa hiện diện trong cuộc đời mình.
“Thầy đây, đừng sợ” chính là
điều mà chúng ta phải xác tín trong cuộc sống hiện tại của mình.
Lạy Chúa Giêsu, con thuyền của Giáo Hội luôn gặp phải
những sóng gió do ma quỷ gây nên. Con thuyền cuộc đời của chúng con cũng vậy.
Xin Chúa ban cho mỗi người chúng con biết khiêm tốn, tín thác vào Chúa để lời
Chúa nói với các Tông đồ khi xưa: “Thầy đây đừng sợ” cũng là niềm an ủi cho
chúng con hôm nay. Amen.
Ngọc Biển SS