Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

 SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN V THƯỜNG NIÊN

Lm. Nguyệt Giang

CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN-NĂM A

Is 58,7-10; 1Cr 2,1-5; Mt 5,13-16

SUY NIỆM 1: BẢN CHẤT VÀ SỨ MẠNG NGƯỜI KITÔ HỮU

Bằng hai hình ảnh muối và ánh sáng, Chúa Giêsu muốn nói đến bản chất và sứ mạng của người Kitô hữu.

1. Bản chất và sứ mạng của muối

Nếu bản chất của muối là phải mặn. Muối không mặn thì không còn là muối nữa, chỉ còn cách quăng xuống đường cho người ta giẫm đạp lên. Cũng vậy, bản chất của người Kitô hữu phải mang đậm chất mặn của tình yêu. Nếu ta không có tình yêu thì không còn là Kitô hữu nữa. Bởi lẽ "Thiên Chúa là Tình Yêu" (1Ga 4,7). Ngài đã dựng nên chúng ta giống hình ảnh Ngài, nên tự bản chất nơi ta phải mang chất tình yêu. Dĩ nhiên tình yêu ấy phải đặt trên nền tảng Tình Yêu như Chúa. "Yêu như Thầy đã yêu." (Ga 15,12).

Còn nếu sứ mạng của muối là giữ cho thức ăn khỏi hư thối và đem lại mùi vị thơm ngon cho thức ăn. Thì sứ mạng của người kitô hữu phải có nhiệm vụ ướp đời, ướp người khỏi những băng hoại của dối trá, hận thù, ganh tị, lường gạt, bất trung... Ngoài sứ mạng ngăn chặn cuộc sống khỏi những băng hoại, chúng ta còn phải là tác nhân đem lại hương vị ngọt ngào cho cuộc sống bằng những cử chỉ, lời nói, việc làm thắm đợm tình thương nhằm mang đến niềm vui, an bình và hạnh phúc cho tha nhân.

2. Bản chất và sứ mạng của đèn

Nếu bản chất của chiếc đèn là để thắp sáng, thì đức tin chính là bản chất của người kitô hữu. Vì chúng ta được gọi là "tín hữu". 

Còn nếu sứ mạng của chiếc đèn là chiếu giải ánh sáng cho mọi người nhìn thấy, thì sứ mạng của người kitô hữu là chiếu tỏa ánh sáng đức tin ấy cho mọi người nhìn thấy bằng những việc làm cụ thể. Vì "Đức tin không có việc làm là đức tin chết ". (Gc.2,17). Mà những việc làm cụ thể ấy chính là những việc lành. “Ánh sáng của anh em phải chiếu giải trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”.

Qua bí tích rửa tội, chúng ta được Chúa trao ban cho ánh sáng Đức tin và kêu mời chúng ta chiếu tỏ ánh sáng đó cho trần gian. 

Xin Chúa giúp chúng con luôn giữ được chất tình yêu của Chúa, để chúng con có thể ướp mặn cho đời và cho người, cụ thể là những thành viên trong gia đình con khỏi những băng hoại do tội lỗi gây nên. Đồng thời xin Chúa cũng ban thêm chất Đức Tin nơi mỗi chúng con, hầu chúng con có thể can đảm thắp lên ngọn lữa đức tin ấy bằng những hành động bác ái cụ thể cho tha nhân, để qua đó mà mọi người nhận ra Chúa và ngợi ca danh Người. 

 

SUY NIỆM 2:

Câu chuyện:

Để phân biệt sự khác nhau giữa hiểu biết và giác ngộ, người ta kể lại câu chuyện sau:

Tại một nơi tu hành nọ, sau một thời gian học hỏi và tu luyên, một môn đệ mới lên tiếng hỏi vị tôn sư rằng:

Thưa Thầy, làm thế nào để phân biệt được sự hiểu biết và giác ngộ?

Vị thầy mỉm cười rồi ôn tồn giải thích cho học trò:

Sự hiểu biết giống như “ánh sáng”. Nó tựa như cây đèn cháy sáng để giúp con nhìn thấy con đường để đi. Còn khi con đã giác ngộ rồi, thì chính con lại là cây đèn cháy sáng để con dẫn đường cho những người khác bước đi.

Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu cũng đề cập đến hai hình ảnh quen thuộc đó là ánh sáng và muối đất. Qua hai hình ảnh này, Chúa muốn mời gọi các môn đệ cũng như chúng ta cũng hãy trở nên giác ngộ, nghĩa là hãy trở nên ánh sáng để soi chiếu cho mọi người nhận ra Chúa qua ta và cũng hãy trở nên muối đất để ướp mặn trần gian qua những lối sống sau đây: Khiêm nhường, yêu thương, vị tha.

1. Hãy học lối sống khiêm nhường như ánh sáng và muối đất

Ai trong chúng ta cũng biết muối vừa giữ cho thức ăn khỏi hư hoại vừa giúp cho thức ăn trở nên thơm ngon hơn. Không có muối thì cho dù là sơn hào hải vị, mâm cao cỗ đầy cũng nhạt nhẽo khó nuốt; ánh sáng vừa xua tan bóng đêm tăm tối vừa chiếu soi cho cảnh vật và con người. Không có ánh sáng thì đẹp như hoa hậu thì cũng xấu như bóng ma; cảnh vật thiên nhiên có đẹp đến đâu cũng tối đen như mực.

Cách đặc biệt, muối và ánh sáng đều hy sinh quên mình. Muối thì chấp nhận tan  biến hết để làm cho thức ăn thêm ngon và khỏi bị hư thối. Còn ánh sáng thì làm cho cảnh vật lung linh và con người thêm xinh đẹp. Nhưng không khi nào người ta khen muối mặn và cũng ít khi nào người ta nhớ đến ánh sáng mà chỉ nhờ đến những món ngon và khen ngợi người xinh cảnh đẹp. Cũng thế, những việc thiện việc lành chúng ta làm cũng chẳng ai để ý, tuy nhiên không vì thế mà ta đánh mất bản chất và sự vụ của mình. Với lối sống khiêm tốn như ánh sáng và muối mà Chúa mong muốn ta không cần để được thiên hạ khen ngợi, tôn vinh mà chỉ vì mong muốn hữu ích cho đời cho người và để danh Chúa được cả sáng mà thôi. Đó là bài học ánh sáng và muối nói với ta.

2. Hãy học lối sống yêu thương như ánh sáng và muối đất

Khi đề cập đến muối và ánh sáng là Chúa Giêsu muốn nói đến tình yêu. Nếu bản chất của muối là mặn, và đèn là ánh sáng thì bản chất của ta là tình yêu, bởi lẽ chúng ta được dựng nên giống hình ảnh TC là Tình Yêu. Chính bản chất tình yêu ấy thúc đẩy chúng ta làm những việc lành việc thiện. Cho nên cuối đoạn tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu nhắc nhở các môn đệ cũng như chúng ta: “Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời.” Cụ thể những việc lành ấy là: “Chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người không nơi nương tựa, cho kẻ mình trần áo mặc và không ngoảnh mặt làm ngơ đối với anh em cốt nhục.” theo như lời tiên tri Isaia đã nói trong bài đọc 1. Khi làm được những việc lành ấy, tin chắc ta sẽ được Chúa: “ lắng nghe và đáp lời ta cầu xin, sẽ làm cho ta được bừng sáng như hừng đông và Chúa cũng sẽ xua tan mọi bóng tối vây quanh đời ta”

3. Hãy học lối sống vị tha của ánh sáng và muối đất

Như đã nói, muối và ánh sáng có mặt trong đời này không phải vì mình mà vì những thứ khác. Vì thế, người tin vào Chúa cũng vậy, ta không sống ích kỉ cho riêng mình mà ta sống là vì ích lợi và hạnh phúc cho người khác. Do đó, thay vì chúng ta đặt ra câu hỏi: Tin Chúa theo Chúa tôi được gì? thì ngược lại ta hãy hỏi: Tôi làm gì cho Chúa, cho Giáo hội, cho gia đình, cho Họ đạo và cho quê hương đất nước của ta được tốt hơn, đẹp hơn, lành mạnh hơn?

Lạy Chúa, Chúa chính là Tình yêu và là nguồn phát sinh ánh sáng đích thực. Xin cho chúng con biết hiệp thông mật thiết với Chúa để chúng ta tiếp nhận được sức mạnh tình yêu và năng lượng ánh sáng của Chúa mà đủ sức nhiệt thành thi hành tốt sứ mạng của mình là làm chứng nhân cho Chúa qua lối sống khiêm nhường, yêu thương và vị tha như muối và ánh sáng. Amen.


SUY NIỆM 3: “MUỐI CHO ĐỜI, ÁNH SÁNG CHO TRẦN GIAN”

Có một câu chuyện vui kể rằng:

Một bà nội trợ kia vì muốn tiết kiệm nên quyết định… bớt muối trong các món ăn. Bà nghĩ: “Ăn nhạt cho tốt sức khỏe.”

Ngày đầu tiên, cả nhà ăn trong im lặng.

Ngày thứ hai, người chồng bắt đầu nhìn mâm cơm với ánh mắt xa xăm.

Ngày thứ ba, đứa con trai nhỏ mạnh dạn hỏi: “Mẹ ơi, hôm nay nhà mình có… quên nấu thức ăn không?”

Bà mẹ giật mình: “Sao con hỏi vậy?”

Cậu bé đáp: “Vì con ăn mà không thấy vị gì hết!”

Chỉ một chút muối thôi – rất nhỏ bé – nhưng thiếu nó, mọi thứ trở nên nhạt nhẽo.

Lời Chúa hôm nay, Đức Giêsu cũng nói với chúng ta: “Anh em là muối cho đời… Anh em là ánh sáng cho trần gian.”

Ngài không nói: “Anh em hãy cố gắng trở nên muối.” Ngài khẳng định: “Anh em là muối.” Đó là căn tính của người Kitô hữu.

1. Muối-nhỏ bé nhưng cần thiết

Muối không ai nhìn thấy trong món ăn, nhưng lại làm nên hương vị. Muối không phô trương, nhưng lại giữ cho thực phẩm khỏi hư thối.

Người Kitô hữu cũng vậy. Chúng ta không được mời gọi làm những điều vĩ đại để gây tiếng vang, nhưng làm cho đời bớt “nhạt” và bớt “hư”.

Một người cha trung thực giữa môi trường gian dối-đó là muối.

Một người mẹ âm thầm hy sinh vì gia đình-đó là muối.

Một bạn trẻ dám sống trong sạch giữa lối sống buông thả-đó là muối.

Muối tan đi để làm mặn.

Người Kitô hữu cũng phải biết “tan” đi, nghĩa là hy sinh, chịu thiệt thòi, quảng đại – để đời được tốt hơn.

Nhưng Chúa cũng cảnh báo: “Nếu muối nhạt đi, thì lấy gì ướp cho mặn lại?”

Muối nhạt là khi người Kitô hữu sống giống hệt thế gian:

- Gian dối như người khác

- Hận thù như người khác

- Thờ ơ như người khác

Khi đó, chúng ta không còn làm cho đời mặn mà nữa, mà chỉ hòa lẫn vào sự nhạt nhẽo chung quanh.

2. Ánh sáng-không thể che giấu

Đức Giêsu còn nói: “Anh em là ánh sáng cho trần gian.”

Ánh sáng có nhiệm vụ soi chiếu và xua tan bóng tối. Một ngọn đèn nhỏ giữa đêm tối cũng đủ làm thay đổi không gian.

Nhưng ánh sáng không có ích nếu bị úp thùng lại. Đức tin cũng vậy. Không thể chỉ sống trong nhà thờ, còn ra ngoài đời thì khác hẳn.

Ngôn sứ Isaia hôm nay cho chúng ta biết ánh sáng cụ thể là gì: “Chia cơm cho người đói, rước vào nhà người nghèo không nơi trú ngụ, thấy ai trần truồng thì cho áo mặc…”

Khi chúng ta sống bác ái như thế, Lời Chúa hứa: “Ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên như rạng đông.”

Ánh sáng Kitô giáo không phải là những bài diễn thuyết hùng hồn, mà là những hành động yêu thương rất cụ thể.

3. Nguồn gốc của muối và ánh sáng

Thánh Phaolô nói rằng ngài không dựa vào tài hùng biện, nhưng chỉ rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh.

Điều đó nhắc chúng ta: Muối và ánh sáng của người Kitô hữu không đến từ khả năng riêng, nhưng từ Đức Kitô.

Tự mình, chúng ta dễ nhạt và dễ tắt.

Ở lại với Chúa – qua cầu nguyện, Thánh lễ, Lời Chúa – chúng ta mới giữ được vị mặn và ánh sáng.

4. Sứ mạng giữa đời hôm nay

Thế giới hôm nay không thiếu ánh đèn điện, nhưng lại thiếu ánh sáng lương tâm.

Không thiếu tiện nghi, nhưng lại thiếu lòng nhân ái.

Không thiếu tiếng nói, nhưng lại thiếu sự thật.

Chúa không đòi chúng ta làm điều phi thường.

Ngài chỉ cần chúng ta sống đúng là Kitô hữu:

- Trung thực hơn một chút

- Nhẫn nại hơn một chút

- Bao dung hơn một chút

- Quảng đại hơn một chút

Chỉ cần như thế, chúng ta đã làm cho đời này bớt nhạt và bớt tối.

Khi rước lễ hôm nay, chúng ta đón nhận chính Đức Kitô – Muối mặn và Ánh Sáng thật.

Xin Ngài giữ cho chúng ta đừng trở thành muối nhạt.

Xin Ngài thắp lại nơi chúng ta ngọn đèn đức tin.

Để khi người ta nhìn vào đời sống chúng ta, họ không chỉ thấy một người có đạo, nhưng thấy ánh sáng của Thiên Chúa đang chiếu tỏa. Amen.

 

Thứ hai: Mc 6,53-56

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy mạnh dạn đến với Chúa; bởi Ngài là Đấng giàu lòng thương xót. Xin cho chúng ta biết đặt trọn niềm tin tưởng vào Chúa tình thương, đặc biệt là trong những khi bệnh tật đau khổ. Tin chắc Chúa sẽ đón nhận và chữa lành những vết thương nơi thân xác và tâm hồn của ta nếu chúng ta biết đặt trọn vẹn niềm tin vào Người.

Tin Mừng hôm nay vẽ lên bức tranh với 2 mảng màu đối lập sáng tối. Một bên là những mảng tối do bệnh tật về thể xác và đau khổ về tâm hồn gây ra bởi tội lỗi và ma quỷ. Một bên là mảng màu tươi sáng của đức tin.

Để bức tranh ấy trở nên tươi sáng và rực rỡ toàn vẹn rất cần đến bàn tay của người họa sĩ tài ba là Thiên Chúa pha chế vào đó những gam màu của tình thương và quyền năng. Đó là sứ điệp mà tin mừng của thánh Marcô hôm nay muốn nói với chúng ta.

Bức tranh cuộc đời của chúng ta cũng sẽ tươi đẹp bừng sáng lên niềm vui và hạnh phúc khi ta biết đặt trọn vẹn niềm tin vào lòng thương xót và quyền năng của Chúa; sẵn sàng mở lòng để cho Chúa chấm phá vào đời mình bằng những nét màu tươi sáng của tình thương và quyền năng Người. Tựa như dân chúng tại miền Giênêsarét đã đặt trọn vẹn niềm vào Chúa Giêsu được thể hiện qua những hành động cụ thể: “chạy khắp nơi tìm kiếm Chúa và biết Chúa đi đến đâu thì khiêng những người đau yếu đến với Chúa”, với hy vọng được nhìn thấy Chúa, được đụng chạm vào gấu áo Chúa và cũng mong được Chúa nhìn thấy họ mà cứu chữa. Nhờ vào đức tin có việc làm như thế mà nhiều người bệnh tật đau khổ đã được cứu chữa.

Xin cho chúng ta cũng biết đặt trọn niềm tin vào lòng thương xót và quyền năng của Chúa trong lúc màn đen vây kín. Tin chắc ánh sáng tình thương của Chúa sẽ xóa tan bóng tối tâm hồn và chữa lành vết thương thể xác. Có Chúa trong đời thì mọi tội lỗi, đau khổ, sự chết sẽ tan biến làm cho bức tranh đời ta được tươi sáng và xinh đẹp trở lại.

 

Thứ ba: Mc 7,1-13

Nhớ Thánh Cô-lát-ti-ca, trinh nữ

Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta tập chú vào việc thống nhất đời sống, nghĩa là làm cho lời nói và việc làm của ta luôn phù hợp với suy nghĩ và tâm tình bên trong.

Qua những lời khiển trách của Chúa Giêsu đối với thái độ và việc làm của những người Biệt phái và Luật sĩ trong bài Tin Mừng hôm nay, nhằm hướng chúng ta đến 2 vấn đề chính trong đời sống.

1. Cần phải trở về cái chính yếu hơn là chỉ chú trọng đến những điều phụ tùy.

Luật Chúa mới là những điều chính yếu và có giá trị bền vững; còn luật lệ của con người có tính nhất thời, nên nó có thể thay đổi qua thời gian và hoàn cảnh cuộc sống. Do đó cần phải tuân giữ luật Chúa hơn luật con người. Vì thế nếu có sự đòi buột chọn lựa, ta cần chọn giá trị ưu tiên là luật Chúa. Nhưng những người Pharisêu và Luật sĩ lại đề cao những  luật lệ tiền nhân mà quên đi việc trung thành tuân giữ luật Thiên Chúa.

2. Cần phải thống nhất giữa “cái là” và “cái làm”,

Nghĩa là giữa lời nói, việc làm bên ngoài sao cho phù hợp với tâm tình bên trong. 

Việc làm phải được định hướng bởi ý hướng và tâm tình bên trong. Nhưng những người Biệt phái và Luật sĩ lại chú trong đến những hình thức bên ngoài như việc rửa tay trước khi ăn mà quên đi tẩy rửa tâm hồn cho thanh sạch. Vì thế mà Chúa Giêsu khiển trách họ nặng nề: “dân này thờ kính ta bằng môi miệng nhưng lòng trí thì xa Ta, Ta muốn lòng nhân chúng không phải hy lễ”.

Có thể những lời khiển trách của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay cũng hướng đến chúng ta. Bởi lẽ ta thường quá chú trong đến hình thức mà quên đi tâm tình bên trong việc thờ phượng Chúa và trong cách tương quan với tha nhân trong đời sống.

Có thể chúng ta cũng chỉ chú trọng vào những nghi lễ, luật lệ, quy định trần thế mà bỏ qua những lề luật của Chúa truyền dạy, để rồi dễ dàng vi phạm luật Chúa cách dễ dàng.

Xin Chúa cho chúng ta biết chấn chỉnh lại đời sống và đặt lại những bậc thang giá trị ưu tiên trong đời sống; cũng như luôn biết thống nhất đời sống giữa lời nói, việc làm sao cho phù hợp với ý hướng bên trong tâm hồn.

 

Thứ tư: Mc 7,14-23

Đức Mẹ Lộ Đức-Ngày Quốc Tế Bệnh Nhân

Tin Mừng hôm nay trình thuật lại cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với những người Biệt phái và Luật sĩ về vấn đề sạch-dơ. Qua cuộc tranh luận này, Chúa Giêsu xác định cho ta biết về nguồn gốc của sạch dơ phát xuất từ đâu? và đâu mới là sự dơ bẩn đáng sợ nhất trong đời sống con người?

Chúng ta đang sống trong một thế giới báo động đỏ về nạn ô nhiễm môi trường. Các nhà lãnh đạo tâm huyết của thế giới đã kêu gọi liên kết với nhau nhằm tìm ra những giải pháp làm giảm đi nạn ngây ô nhiễm môi sinh.

Năm 2015 Đức cố giáo hoàng ĐGH Phanxicô trong thông điệp Laudato-si cũng cho thấy tác hại ghê gớm của nạn ô nhiễm môi trường và tha thiết kêu gọi mọi người chung tay bảo vệ ngôi nhà chung với mong muốn để lại cho thế hệ mai sau một bầu không khí trong lành.

Nạn ô nhiễm bên ngoài đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe và tính mạng của con người nên rất cần được gìn giữ và bảo vệ cho trong lành. Tuy nhiên nguy hiểm nhất vẫn là nạn ô nhiễm bên trong con người. Một khi tâm hồn con người bị ô nhiễm bởi ý hướng và tâm tình sai lạc sẽ gây ra biết bao nguy hại cho cuộc sống. Chúa Giêsu đã liệt kê ra 12 biểu hiện đáng sợ khi tâm hồn dơ bẩn... 

Do đó dơ bẩn bên trong con người mới chính là nguyên nhân đẩy con người đến chỗ không còn biết hành xử đạo đức và văn hóa nữa. Đưa đến tình trạng vức rác bừa bãi, xả thải nước công nghiệp độc hại ra môi trường vô tư; sản xuất vật tư nông nghiệp độc hại thoải mái; buôn bán thức ăn bẩn tràn lan…đưa đến tình trạng biến đổi khí hậu, bão lũ, động đất, nước biển dâng và xâm ngập mặn...nhất là bệnh tật bùng phát, làm cho đời sống con người phải điêu đứng khốn cùng!

Chính vì thế mà trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu xác nhận cho những người Biệt phái và Luật sĩ hiểu rằng: Những gì xuất phát từ bên trong mới gây nên những điều xấu xa và nguy hại. Nếu tâm trí lành mạnh sẽ dẫn đến hành động tốt đẹp, bằng ngược lại tâm trí đầy u tối và toan tính xấu xa sẽ đưa đến những việc làm đen tối, gây nguy hại cho con người và cuộc sống. Vì vậy, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy ý thức thanh tẩy tâm hồn hơn là chú tâm vào việc tẩy rửa bên ngoài chén đĩa. 

Xin Chúa thương thanh tẩy tâm hồn chúng ta khỏi những tính hư nết xấu và giúp chúng ta biết quy hướng về những việc làm có ích cho cộng đồng bằng một tình yêu trong sáng. Nhờ đó cuộc sống mới có được niềm vui và con người mới cảm thấy được hạnh phúc.

 

Suy niệm 2

Rửa tay là việc làm bình thường. Việc rửa tay thường mang 3 ý nghĩa.

- Tự nhiên: cho sạch, tẩy vi khuẩn trước khi ăn, để tránh được những bệnh truyền nhiễm.

- Văn hóa: Rửa tay là dấu chỉ nói lên ý nghĩa vô can hay vô tội trước một sự kiện biến cố nào đó xảy ra chung quanh chúng ta. Như trường hợp Philatô rửa tay, nhằm nói rằng mình vô can trước vụ án và cái chết của Chúa Giêsu.

Siêu nhiên, đức tin, tôn giáo: Đối với người Do thái rửa tay trước khi ăn là một nghi thức nói lên ý hướng tẩy rửa tâm hồn nên trong sạch. Hay trong bí tích rửa tội, đổ nước trên đầu thụ nhân là nhằm thanh tẩy tội lỗi trong tâm hồn.

Tuy nhiên những người Biệt phái và Luật sĩ rửa tay như là một thoái quen bắt buộc nên dần dà họ quên ý nghĩa chính yếu của tôn giáo hay thiêng liêng. Họ quá chú trọng đến hình thức bên ngoài để nhằm cho mọi người khen ngợi là đạo đức… mà quên đi cái cốt lõi là tẩy rửa tâm hồn vì lòng yêu mến Chúa. Chính vì thấy được sự sai lệnh của họ trong việc giữ luật nên Chúa Giêsu đã khiển trách họ rất nặng nề: “Dân này thờ kính ta bằng môi miệng, nhưng lòng trí thì xa Ta.”.

Có thể ngày hôm nay Chúa cũng khiển trách chúng ta vì lối sống đạo hình thức ấy. Nên những thực hành tôn thờ Chúa dần dà trở thành thói quen, chúng ta làm như cái máy rồi quên đi ý nghĩa của những việc đạo đức. 

Cũng như trong cách ứng xử với tha nhân, có thể chúng ta quá chú trọng đến hình thức mà quên đi lòng quý mến và trân trọng của ta dành cho tha nhân. Có khi những lời nói hay việc bác ái chúng ta chỉ là xáo ngữ cho vui tai hay nhằm mục đích cầu danh lợi bản thân ta hơn là vì lòng yêu mến chân thành dành cho nhau.

Xin Chúa giúp chúng ta can đảm sống thật với lòng mình trước Chúa, tha nhân và lương tâm; cũng như tuân giữ luật Chúa và Giáo hội bằng tấm lòng con tim yêu mến hơn là hình thức trói buộc.


LỄ ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC – NGÀY QUỐC TẾ BỆNH NHÂN
Is 66,10-14c; Ga 2,1-11

SUY NIỆM:

Hôm nay, trong ngày kính Đức Mẹ Lộ Đức và cũng là Ngày Quốc tế Bệnh Nhân, Lời Chúa mở ra trước mắt chúng ta hai hình ảnh rất đẹp:

- Hình ảnh người mẹ hiền ủi an con cái (Is 66).

- Hình ảnh Đức Maria tại tiệc cưới Cana, ân cần quan tâm đến nỗi thiếu thốn của gia đình trẻ (Ga 2).

Cả hai đều nói về một điều: Thiên Chúa là Đấng chữa lành và an ủi, và Đức Maria là người Mẹ gần gũi với những đau khổ của con người.

1. “Như mẹ hiền an ủi con thơ”

Ngôn sứ Isaia diễn tả Thiên Chúa như một người mẹ: “Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi.”

Đó không phải là hình ảnh xa vời, nhưng rất cụ thể và đầy cảm xúc. Người mẹ không chỉ chữa vết thương, mà còn ôm vào lòng, vuốt ve, vỗ về, sẻ chia nỗi đau.

Trong ngày Quốc tế Bệnh Nhân, chúng ta nghĩ đến biết bao người đang mang trong mình bệnh tật:

- Có người đau thể xác.

- Có người mệt mỏi tinh thần.

- Có người mang “căn bệnh cô đơn”.

Giữa những đau khổ ấy, Thiên Chúa không đứng xa. Ngài đến gần, như người mẹ cúi xuống bên giường con.

Lộ Đức là nơi hàng triệu người bệnh tìm đến. Không phải ai cũng được khỏi bệnh thể lý, nhưng rất nhiều người được chữa lành trong tâm hồn: được bình an, được nâng đỡ, được cảm nghiệm mình không bị bỏ rơi.

2. “Họ hết rượu rồi”

Trong Tin Mừng, Đức Maria nhận ra một điều rất nhỏ: “Họ hết rượu rồi.”

Không ai kêu xin. Không ai lớn tiếng than phiền. Nhưng Mẹ thấy.
Đức Maria nhạy cảm trước nỗi thiếu thốn của con người.

Ngày nay, “hết rượu” có thể là:

- Hết sức lực vì bệnh tật.

- Hết niềm vui vì thử thách kéo dài.

- Hết hy vọng vì bệnh nan y.

Mẹ vẫn thấy. Và Mẹ vẫn nói với Chúa Giêsu về chúng ta.

Đức Maria không tự mình làm phép lạ. Mẹ chỉ dẫn người ta đến với Chúa: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.”

Đó là con đường chữa lành đích thực. Phép lạ Cana không chỉ là nước hóa thành rượu, nhưng là biến thiếu thốn thành dư đầy, biến bế tắc thành hy vọng.

3. Chữa lành không chỉ là hết bệnh

Ngày Quốc tế Bệnh Nhân nhắc chúng ta: Chữa lành không luôn đồng nghĩa với khỏi bệnh.

Có những người không khỏi bệnh, nhưng họ được ơn:

- Chấp nhận bệnh tật trong bình an.

- Dâng đau khổ như của lễ.

- Làm chứng cho niềm tin giữa thử thách.

Đó cũng là một phép lạ.

Đức Mẹ Lộ Đức mời gọi chúng ta hoán cải, cầu nguyện và sám hối. Bởi căn bệnh sâu xa nhất của con người không chỉ là bệnh thể xác, mà là bệnh của tâm hồn: xa Chúa, mất niềm tin, thiếu tình yêu.

4. Sứ mạng của chúng ta

Hôm nay, Lời Chúa cũng chất vấn mỗi người trong chúng ta:

- Chúng ta có biết nhìn thấy “hết rượu rồi” nơi anh chị em mình không?

- Chúng ta có trở nên dấu chỉ an ủi cho người đau yếu không?

- Chúng ta có đủ kiên nhẫn để ngồi bên giường bệnh, lắng nghe và cầu nguyện không?

Mỗi người Kitô hữu được mời gọi trở thành “đôi tay dịu dàng của Thiên Chúa”.

Trong ngày lễ Đức Mẹ Lộ Đức, chúng ta hãy đặt nơi Mẹ:

- Những bệnh nhân trong họ đạo.

- Những người đang đau khổ trong gia đình.

- Và những yếu đuối của bản thân.

Xin Mẹ dạy chúng ta biết tin tưởng như trẻ thơ trong vòng tay mẹ hiền. Xin Mẹ dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu, Đấng duy nhất có thể biến nước lã cuộc đời thành rượu ngon của hy vọng. Và xin cho mỗi người, dù đang bệnh tật hay khỏe mạnh, luôn cảm nghiệm được điều này: Chúng ta không cô đơn trong đau khổ, vì có một Người Mẹ đang thấy, đang cầu thay và đang đồng hành với chúng ta.

 

SUY NIỆM  2:

Hôm nay, ngày GH kính nhớ Đức Mẹ Lộ Đức, nhắc nhở chúng ta cầu nguyện cách đặc biệt cho các bệnh nhân.

Trong phần kết của Tông Sắc Misericordiae Vultus, Đức cố giáo hoàng Phanxicô đã nhắc nhở các tín hữu: “Giờ đây, chúng ta hướng tâm trí về Người Mẹ của Lòng Thương Xót. Xin ánh mắt dịu hiền của Mẹ luôn dõi theo chúng ta trong suốt Năm Thánh này”. (Misericordiae Vultus, 24).

Hơn ai hết Đức Maria là người Mẹ yêu thương nhân loại chúng ta nhất, Mẹ hằng bên ta và dõi theo chúng ta trong từng bước đi trong suốt cuộc sống. Nhất là trong những lúc chúng ta gặp thử thách do bệnh tật thể xác và đau khổ trong tâm hồn gây nên, Mẹ không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Vì Mẹ Maria là Người Mẹ của Lòng Thương Xót, nên Mẹ sẽ sẵn sàng nâng đỡ và ra tay cứu giúp chúng ta là con cái mẹ như Mẹ đã từng cứu giúp gia đình tiệc cưới Cana năm xưa và những ai gặp phải những đau khổ xác hồn khi họ tìm đến với Đức Mẹ tại Lộ Đức ngày nay.

Xin cho chúng ta luôn biết kính mến, tin tưởng và phó thác cuộc đời mình vào trái tim từ ái của Mẹ Maria. Amen.

 

Thứ năm: Mc 7,24-30

Tin mừng hôm nay gợi lên cho chúng ta thấy một hình ảnh tuyệt đẹp về đức tính, cách ứng xử và một đức tin mạnh mẽ của một người phụ nữ ngoại giáo. Chính vì vậy mà lời cầu xin của bà đã được Chúa Giêsu nhậm lời. Xin cho chúng ta cũng biết bắt chước gương sáng của bà, để chúng ta xứng đáng được Chúa chúc lành.

Những ngày đầu năm, chúng ta hay nghe nhà đài phát lại bài hát: Em Trong Mắt Tôi (Tg. Nguyễn Đức Cường), với những ca từ rất đẹp:

Em đẹp không cần son phấn

Duyên thật xinh thật xinh rất hiền

Không quần Jean giày cao gót

Em chọn riêng mình em áo dài duyên dáng...

 Lời bài hát trên ca ngợi hình ảnh rất riêng và thật đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

Nét đẹp của người phụ nữ Á Đông cách chung và của người phụ nữ Việt Nam nói riêng, xưa nay thường được người đời quý trọng bởi những đức tính: Công-dung-ngôn- hạnh. Cách riêng "đức hạnh" vẫn là tiêu chí được cha ông chúng ta đặt lên hàng đầu. Bởi ai cũng yêu mến người phụ nữ biết chịu thương, chịu khó, khiêm tốn và kiên nhẫn...Nói như thế thì người phụ nữ ngoại giáo trong đoạn Tin mừng hôm nay thật tuyệt đẹp, vì bà ta đã có đầy đủ những đức tính ấy.

- Với tình thương của người mẹ dành cho đứa con mà mình đã đứt ruột sinh ra, chắc hẳn bà đã từng chạy thầy, chạy thuốc khắp nơi và tiêu tốn không ít tiền của, công sức để nhằm cứu chữa đứa con gái yêu quý của bà. Chính vì tình thương lớn lao mà bà ta không ngại vượt qua ranh giới của luật lệ cấm cách giữa người Do Thái và người ngoại để tìm đến với Chúa Giêsu là người Do Thái. 

- Với đức tính chịu khó bà đã không ngại vượt qua những con đường xa xôi về địa lý, với cái nắng mưa dãi dầu; nhất là chấp nhận vượt qua những rào cản ngăn cách về tôn giáo để tìm đến với Thầy Giêsu, với mong muốn một điều duy nhất là con mình được cứu chữa khỏi thần ô uế ám hại.

- Với lòng khiêm tốn, bà ta sẵn sàng đến trước mặt Chúa Giêsu và phục lạy Người với lời khấn xin Chúa Giêsu cứu chữa con bà. Lòng khiêm tốn ấy càng sâu thẳm khi nhìn nhận mình chẳng là gì trước mặt Chúa Giêsu. Với Chúa bà chỉ dám đặt mình ngang hàng với “chó con” thôi: “Thưa Thầy, đúng thế, nhưng các chó con cũng được ăn những mụn rơi dưới bàn ăn của con cái”.

- Lòng kiên nhẫn của bà thật đáng khâm phục. Mặc dầu trước sự khướt từ hầu như quyết liệt của Chúa Giêsu, vậy mà cũng không làm cho bà tự ái bỏ cuộc: “Hãy để con cái ăn no trước đã vì không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó.”; trái lại càng làm cho bà vững vàng hơn, kiên nhẫn hơn để kêu xin tới cùng.

- Nhưng trên hết vẫn là đức tin mạnh mẽ của người đàn bà ngoại giáo này. Chính vì niềm tin mạnh mẽ vào Chúa Giêsu của bà đã mở được cánh cửa của lòng thương xót Chúa. Và Người đã ra tay cứu chữa con bà, như chính lời Chúa Giêsu xác nhận:“Vì lời bà nói đó, bà hãy về, quỷ đã ra khỏi con bà rồi”.

Chiêm ngắm và suy gẫm về hình ảnh của người phụ nữ ngoại giáo tuyệt đẹp trong đoạn tin mừng hôm nay, ta vừa cảm động vừa thấy hổ thẹn trước Chúa. Bởi lẽ nhiều khi chúng ta lại không có được những đức tính quý giá và đức tin mạnh mẽ như người đàn bà ngoại giáo này.

Xin Chúa giúp chúng ta có được đức tin mạnh mẽ để trong mọi hoàn cảnh chúng ta luôn tin tưởng cậy trông và phó thác vào lòng thương xót Chúa trong tinh thần của người con Chúa. Đồng thời cũng cho chúng ta ý thức sống tốt những đức tính nhân bản cần thiết trong đời làm người.

 

Thứ sáu: Mc 7,31-37

Tin Mừng hôm nay thuật lại phép lạ Chúa Giêsu chữa cho người bị câm điếc được khỏi do tình thương và quyền năng của Người. Xin Chúa cũng dùng quyền năng và tình thương của Chúa mà cứu chữa chúng ta khỏi căn bệnh câm điếc tâm hồn.

Nghe và nói là 2 khả năng tuyệt vời mà Chúa thương ban cho con người. Nhờ nói được và nghe được mà mỗi chúng ta mới có thể dễ dàng sống hài hòa trong các mối tương quan với mọi người. Nhờ nghe được ta mới hiểu rõ ước muốn của tha nhân; và nhờ nói được ta mới dễ dàng diễn tả những tư tưởng của mình cho tha nhân hiểu.

Mất đi 2 khả năng này, con người như bị trói buộc trong các mối tương quan bình thường của một con người mang xã hội tính. Do đó sẽ dễ dàng dẫn đến trầm cảm, cô đơn và đau khổ. 

Việc Chúa Giêsu cứu chữa cho người bị câm điếc với một tiến trình tiệm tiến và có vẻ công phu theo như những gì mà bài Tin mừng hôm nay trình thuật, vừa nói lên tình yêu gần gủi và thân thiết của Chúa Giêsu; vừa cũng để diễn đạt quyền năng lớn lao và kín đáo mà Chúa Giêsu dành cho anh ta.

Xin Chúa cũng dùng quyền năng đầy tình thương Chúa cứu chữa chúng ta:

- Khỏi tình trạng câm tâm hồn:  để ta biết thốt lên những lời cảm thông, tha thứ, khích lệ nhau trong yêu thương; nhất là biết bắt chước người được Chúa chữa hôm nay mà hân hoan ca tụng quyền năng và lòng thương xót Chúa.  

- Khỏi tình trạng điếc thiêng liêng để chúng ta yêu thích lắng nghe những lời hay ý đẹp dành cho nhau, nhất là vui mừng lắng nghe Tin mừng tình yêu của Chúa: “Ephpheta, nghĩa là hãy mở ra”.

Hôm nay cũng là ngày GH kính nhớ Đức Mẹ Lộ Đức và cầu nguyện cách đặc biệt cho các bệnh nhân. Trong phần kết của Tông Sắc Misericordiae Vultus, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắc nhở các tín hữu: “Giờ đây, chúng ta hướng tâm trí về Người Mẹ của Lòng Thương Xót. Xin ánh mắt dịu hiền của Mẹ luôn dõi theo chúng ta trong suốt Năm Thánh này”. (Misericordiae Vultus, 24).

Hơn ai hết Đức Maria là người Mẹ yêu thương nhân loại chúng ta nhất, Mẹ hằng bên ta và dõi theo chúng ta trong từng bước đi trong suốt cuộc sống. Chắc hẳn trong những lúc chúng ta gặp thử thách do bệnh tật thể xác và đau khổ trong tâm hồn gây nên, Mẹ sẽ không bỏ rơi chúng ta. Bởi vì Mẹ Maria chính là Người Mẹ của Lòng Thương Xót, nên Mẹ sẽ sẵn sàng nâng đỡ và ra tay cứu giúp chúng ta như Mẹ đã từng cứu giúp cho những ai gặp phải những đau khổ xác hồn khi họ tìm đến với Đức Mẹ tại Lộ Đức.

Xin cho chúng ta luôn biết kính mến, tin tưởng và phó thác cuộc đời mình vào trái tim từ ái của Mẹ Maria. Amen.

 

Thứ bảy: Mc 8,1-10

Nhớ Thánh Sy-ri-lô, đan sĩ và Thánh Mê-tô-đi-ô, giám mục

Tin Mừng hôm nay thuật lại phép lạ Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều cho 4000 người ăn no nê, dư 7 thúng đầy, từ 7 chiếc bánh và vài con cá nhỏ. Phép lạ này được thực hiện phát xuất từ lòng thương xót của Chúa Giêsu.

Trước nhu cầu chính đáng của con người, Chúa Giêsu không thể làm ngơ. Trái lại, Ngài rất quan tâm với con tim giàu lòng thương xót. Nên Ngài đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều từ 7 chiếc bánh và vài con cá nhỏ do chính các tông đồ tiến dâng lên cho Chúa. Với số lượng ít ỏi này tưởng chứng như không thể làm gì được trước nhu cầu quá lớn của 4000 người đang trong tình trạng đói khát vì họ đã theo Chúa suốt 3 ngày đàng. Nhưng với Đức Giêsu thì mọi việc đều có thể vì Ngài là TC giàu lòng thương xót và đầy quyền năng. Điều quan trọng Ngài đòi buộc nơi con người là phải hết lòng cộng tác với Chúa với lòng tin tưởng. Chỉ với 7 chiế bánh và vài con cá nhỏ do sự cộng tác đắc lực của các tông đồ, Chúa Giêsu đã làm phép lạ hóa ra nhiều và đã nuôi sống 4000 người ăn no nê, còn dư lại 7 thúng đầy.

Dẫu rằng phép lạ hôm nay phát xuất từ lòng thương xót của Chúa. Ngài thấy tình cảnh đói khát của dân chúng, Ngài lên tiếng đề nghị cho họ ăn và Ngài làm phép lạ. Nhưng điều đáng chú ý nhất qua phép lạ hôm nay là sự góp phần tích cực với hết khả năng của các tông đồ, cho dẫu số lượng bánh và cá các ông đóng góp hết sức nhỏ bé.

Xin cho chúng ta biết quảng đại góp phần nhỏ bé của mình vào việc phục vụ lợi ích cho mọi người với lòng phó thác vào lòng thương xót của Chúa. Tin rằng Chúa sẽ thực hiện những điều lạ lùng vượt trên những điều mong đợi của chúng ta. 

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

 SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN IV THƯỜNG NIÊN

Lm. Nguyệt Giang

CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN-NĂM A

Xp 2,3;3.12-13; 1Cr 1, 26-31; Mt 5,1-12a

Suy niệm 1: 

Những ngày đầu năm, chúng ta thường cầu chúc cho nhau sức khỏe, thành công, gia đình hạnh phúc. Điều đó cho thấy: hạnh phúc là khát vọng sâu xa nhất của con người.

Nhưng hạnh phúc không phải cứ cầu là có, ước là thành. Có người cả đời đuổi theo hạnh phúc mà vẫn cảm thấy trống rỗng.

Chuyện kể rằng: một chú mèo con hỏi mèo mẹ: “Hạnh phúc ở đâu?”

Mẹ trả lời: “Ở ngay chiếc đuôi xinh xắn của con đó!”

Thế là mèo con cứ xoay tròn tìm bắt chiếc đuôi mình, nhưng càng cố bắt thì càng không được.

Cuối cùng, mẹ mèo mới nói: “Con chỉ cần tự tin bước về phía trước, hạnh phúc sẽ tự theo con.”

Câu chuyện trên giúp ta hiểu rằng: hạnh phúc không phải là thứ ta nắm bắt bằng cách quay cuồng tìm kiếm cho riêng mình. Hạnh phúc sẽ theo ta một khi ta biết bước đi đúng hướng.

Xã hội hôm nay, người ta thường định nghĩa hạnh phúc bằng những con số 1,2,3,4,5 : một vợ đẹp, hai con ngoan, nhà 3 tầng nhà, xe bốn bánh, và du dịch năm châu… Nhưng thực tế cho thấy: khi có đủ tất cả những điều ấy, người ta vẫn cảm thấy bất an.

Ai đó đã nói rất đúng: Tiền bạc có thể mua được giường, nhưng không mua được giấc ngủ; mua được thuốc men, nhưng không mua được sức khỏe; mua được căn nhà, nhưng không mua được mái ấm; mua được cây thập giá, nhưng không mua được Đấng Cứu Chuộc; mua được của lễ, nhưng không mua được thiên đàng.

Vậy thì hạnh phúc đích thật ở đâu?

Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho chúng ta biết muốn có hạnh phúc thật thì phải dấn thân đi vào con đường Tám Mối Phúc Thật: “Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó…Phúc cho ai hiền lành…Phúc cho ai sầu khổ…Phúc cho ai khao khát nên công chính…Phúc cho ai xót thương người…Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch…Phúc cho ai xây dựng hòa bình…Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính…”

Những lời dạy này của Chúa, thoạt nghe hình như như đi ngược lại với suy nghĩ tự nhiên của con người. Ai lại cho nghèo là phúc? Ai lại cho bị bách hại là hạnh phúc?...

Nhưng nếu để ý kĩ một chút, ta nhận ra rằng mỗi mối phúc đều có hai vế:

Vế thứ nhất là gieo – vế thứ hai là gặt. Vế thứ nhất là hy sinh – vế thứ hai là hạnh phúc. Vế thứ nhất là “mình vì người khác” – vế thứ hai là “Thiên Chúa vì mình”. Điều quan trọng là: tất cả phải “vì Nước Trời”, “vì lẽ công chính”, “vì Chúa và vì tha nhân”. Nếu không vì ấy, thì nghèo chỉ là thiếu thốn; và đau khổ chỉ là bất hạnh. Còn nếu vì tình yêu, vì Chúa, vì người khác..., thì đó mới là con đường dẫn đến hạnh phúc đích thật.

Như vậy, sống nghèo không phải là hà tiện, mà là biết chia sẻ.

Hiền lành không phải là yếu đuối, mà là mạnh mẽ trong tình yêu.

Sầu khổ không phải là bi quan, mà là biết rung cảm trước nỗi đau của người khác.

Xây dựng hòa bình không phải là né tránh, mà là dám tháo gỡ hiểu lầm và nối kết yêu thương.

Nhìn vào thực tế cuộc sống, ta nhận thấy có ba hạng người:

- Hạng người thứ nhất: không gieo mà đòi gặt, không sống yêu thương mà mong được yêu thương.

- Hạng người thứ hai: muốn gieo điều xấu mà đòi gặt điều tốt; thích gây đau khổ mà mong được hưởng hạnh phúc.

- Hạng người thứ ba: luôn biết kiên trì gieo điều tốt, sẵn sàng hy sinh phục vụ, nên họ gặt được bình an và niềm vui tâm hồn.

Thánh Phaolô nói thật chí lý khi nói: “Ai gieo gì thì sẽ gặt nấy.” Đó cũng chính là lời xác quyết  Chúa Giêsu: “Anh em đong bằng đấu nào thì sẽ được đong lại bằng đấu ấy.”

Chuyện kể rằng: Trong một buổi hội thảo về hạnh phúc, mỗi người được ban tổ chức phát cho một quả bóng và đề nghị ghi tên mình đó rồi đồng loạt tung quả bóng lên. Ngay lập tức, ban tổ chức yêu cầu mỗi người hãy nhanh chóng tìm lại quả bóng ghi tên mình trong trăm ngàn quả bóng được. Thế là mọi người chen lấn tìm kiếm nhưng không sao tìm được. Tuy nhiên khi ban tổ chức đề nghị mỗi người cầm một quả bóng bất kỳ và rồi trao lại cho đúng người có tên trên đó, thì chỉ trong vài phút, ai nấy đều nhận lại đúng quả bóng của chính mình.

Trò chơi ấy giúp ta nhận ra rằng: Hạnh phúc của ta được nằm trong tay người khác. Vì thế, chỉ khi ta làm cho người khác hạnh phúc, thì chính ta sẽ nhận lại được hạnh phúc.

- Ý tưởng ấy được đã ngôn sứ Xôphônia nói đến trong bài đọc 1: những người nghèo hèn, khiêm nhường, họ sẽ được Chúa chở che.

- Còn Thánh Phaolô thì nhắc nhở rằng: Thiên Chúa thì chọn những gì yếu hèn trước mắt thế gian để làm nên những điều cao trọng.

- Còn Chúa Giêsu Ngài không chỉ dạy chân lý ấy mà Ngài còn là mẫu gương sống động cho con đường thực thi Tám Mối Phúc ấy.

Người đã trở nên nghèo, hiền lành, khiêm nhường và luôn chạnh lòng thương trước nỗi đau nhân loại. Người hằng khao khát công lý. Người có trái tim trong sạch không vương tội lỗi. Người thiết lập hòa bình bằng chính máu mình. Và Người chấp nhận bị bách hại, chịu chết trên thập giá vì yêu thương nhân loại chúng ta nên Ngài đã phục sinh vinh quang.

Con đường Tám Mối Phúc không phải là lý thuyết, mà là con đường Đức Giêsu đã đi và đã đạt tới vinh quang Phục Sinh. Các thánh tử đạo Việt Nam cũng đã bước theo con đường ấy và hôm nay đang hưởng hạnh phúc Nước Trời.

Mỗi khi gặp nhau, chúng ta vẫn cầu chúc nhau sức khỏe, thành đạt..., đó là những điều tốt. Nhưng hôm nay, Lời Chúa mời gọi chúng ta hướng đến một lời chúc sâu xa hơn: “Chúc nhau sống tinh thần Tám Mối Phúc”.

Để mong rằng chúng ta đừng đong cho nhau những “đấu” ghen ghét, oán hờn, ích kỷ. Nhưng hãy đong cho nhau những đấu yêu thương, cảm thông, quảng đại và hy sinh. Và hãy xác tín mạnh mẽ rằng: Một khi ta can đảm bước đi trên con đường của Đức Giêsu, con đường khiêm hạ, nghèo khó, hiến thân vì tha nhân thì tin rằng hạnh phúc đích thật sẽ âm thầm bước theo ta, như chiếc đuôi theo chú mèo nhỏ trong câu chuyện trên.

Xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết siêng năng gieo trồng những hạt giống yêu thương hàng ngày, để rồi không chỉ chúng ta gặt được bình an hôm nay, mà còn đạt tới hạnh phúc viên mãn trong Nước Trời mai sau. Amen.


Suy niệm 2:

Lời Chúa hôm nay xoay quanh một nghịch lý: điều thế gian cho là yếu hèn, nhỏ bé, nghèo khó… lại chính là con đường dẫn đến hạnh phúc thật.

Ngôn sứ Xôphônia mời gọi: “Hãy tìm kiếm Đức Chúa, hỡi tất cả những ai nghèo hèn trên mặt đất… hãy tìm kiếm đức công chính, tìm kiếm đức khiêm nhường.” Và Thiên Chúa hứa sẽ để lại giữa dân Người “một dân nghèo hèn và bé nhỏ”, một dân biết cậy dựa vào danh Chúa.

Thánh Phaolô thì nhắc nhở cộng đoàn Côrintô: trong số anh em được kêu gọi, đâu có mấy ai khôn ngoan, quyền thế hay giàu sang theo tiêu chuẩn thế gian. Thiên Chúa đã chọn những gì yếu hèn để làm hổ thẹn kẻ mạnh, hầu không một phàm nhân nào có thể tự hào trước mặt Người.

Và cao điểm là bài Tin Mừng với Tám Mối Phúc Thật.

Khi nghe Đức Giêsu công bố:

“Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó…

Phúc cho ai hiền lành…

Phúc cho ai sầu khổ…

Phúc cho ai bị bách hại…”

Chúng ta có thể tự hỏi: đây có thật là hạnh phúc không? Vì theo suy nghĩ tự nhiên, nghèo đâu phải là phúc; sầu khổ đâu phải là vui; bị bách hại đâu phải là điều đáng mong chờ.

Nhưng Đức Giêsu không nói về thứ hạnh phúc chóng qua, dựa trên cảm xúc hay hoàn cảnh bên ngoài. Người nói về hạnh phúc của Nước Trời – hạnh phúc bắt nguồn từ mối tương quan đúng đắn với Thiên Chúa và với tha nhân.

“Tâm hồn nghèo khó” không chỉ là thiếu thốn vật chất, nhưng là ý thức mình cần Chúa, không cậy dựa vào tiền bạc, địa vị hay tài năng. Người nghèo trong tinh thần là người biết mở lòng đón nhận và biết chia sẻ.

“Hiền lành” không phải là nhu nhược, nhưng là sức mạnh của người làm chủ được chính mình, không dùng bạo lực để đáp trả bạo lực.

“Sầu khổ” ở đây là trái tim biết rung động trước tội lỗi của mình và nỗi đau của người khác.

“Khao khát nên công chính” là không bằng lòng với sự tầm thường, nhưng luôn thao thức sống đẹp lòng Chúa.

“Xót thương người” là biết tha thứ, cảm thông, nâng đỡ.

“Tâm hồn trong sạch” là sống chân thật, không giả dối.

“Xây dựng hòa bình” là dám nối lại những nhịp cầu bị gãy, dám tha thứ và hòa giải.

“Bị bách hại vì lẽ công chính” là trung thành với sự thật và với Chúa, dù phải trả giá.

Điểm chung của Tám Mối Phúc là: tất cả đều mang chiều kích “vì Chúa” và “vì người khác”. Nếu nghèo mà chỉ vì bất lực hay lười biếng, đó không phải là phúc. Nhưng nếu nghèo vì biết chia sẻ và tín thác vào Chúa, đó là phúc. Nếu chịu thiệt thòi vì tình yêu và vì lẽ công chính, đó là con đường dẫn đến Nước Trời.

Thiên Chúa không xây dựng Nước Trời bằng quyền lực, nhưng bằng sự khiêm hạ. Không bằng giàu sang, nhưng bằng lòng tín thác. Không bằng sức mạnh của vũ khí, nhưng bằng sức mạnh của tình yêu.

Chính Đức Giêsu là hiện thân trọn vẹn của Tám Mối Phúc:

Người nghèo nơi máng cỏ Bêlem.

Người hiền lành và khiêm nhường trong lòng.

Người chạnh lòng thương trước đám đông lầm than.

Người khao khát thực thi thánh ý Chúa Cha.

Người giàu lòng xót thương với tội nhân.

Người có trái tim tinh tuyền.

Người đem lại bình an.

Và cuối cùng, Người bị bách hại và chịu chết trên thập giá.

Thập giá – theo cái nhìn thế gian – là thất bại. Nhưng theo kế hoạch của Thiên Chúa, đó lại là chiến thắng vinh quang.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta xét lại tiêu chuẩn hạnh phúc của mình. Ta đang tìm kiếm điều gì? Ta có đang đo lường giá trị cuộc đời theo thước đo của thế gian, hay theo thước đo của Tin Mừng?

Tám Mối Phúc không phải là một bản văn để đọc cho đẹp, nhưng là chương trình sống mỗi ngày. Trong gia đình, trong họ đạo, nơi công việc, chúng ta được mời gọi sống hiền lành hơn một chút, xót thương hơn một chút, trong sạch hơn một chút, xây dựng hòa bình hơn một chút.

Có thể con đường đó không dễ dàng, nhưng đó là con đường chắc chắn dẫn đến hạnh phúc thật – hạnh phúc không ai có thể lấy mất.

Xin Chúa cho chúng ta biết trở nên “những người nghèo của Chúa”, biết cậy dựa vào Người và sống tinh thần Tám Mối Phúc giữa đời thường, để ngay hôm nay chúng ta đã nếm được bình an của Nước Trời và mai sau được hưởng hạnh phúc viên mãn bên Chúa. Amen.


Suy niệm 3: LỄ THIẾU NHI-HẠNH PHÚC BẮT ĐẦU TỪ TRÁI TIM BIẾT YÊU THƯƠNG

Các con thiếu nhi thân mến,

Có một lần, trong lớp học kia, cô giáo nói với các bạn nhỏ: “Ngày mai các con hãy mang đến lớp một thứ làm cho mình hạnh phúc nhất.”

Hôm sau, bạn thì mang theo chiếc xe đồ chơi mới, bạn khác mang con búp bê xinh đẹp, có bạn mang theo hộp bánh thật ngon. Ai cũng vui vẻ khoe món đồ của mình.

Nhưng có một bạn tên Minh đến lớp tay không.

Cô giáo hỏi: Minh, con không mang gì sao?

Minh vui vẻ và nói: Thưa cô, hôm qua con thấy bà cụ bán vé số bị ngã. Con đã đỡ bà dậy và đưa bà qua đường. Bà cười và khen con ngoan. Lúc đó con thấy rất vui. Con không mang theo được nụ cười của bà, nhưng con mang niềm vui đó trong tim con hôm nay vào lớp.

Cả lớp im lặng. Cô giáo mỉm cười và nói: Minh đã mang đến lớp điều quý nhất: một trái tim biết yêu thương.

Các con thấy không? Đồ chơi có thể vui một lúc, nhưng niềm vui khi làm điều tốt cho người khác thì ở lại rất lâu trong lòng.

1. Chúa Giêsu chỉ con đường hạnh phúc

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy chúng ta con đường dẫn đến hạnh phúc thật. Chúa nói:

- Phúc cho ai hiền lành.

- Phúc cho ai xót thương người.

- Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch.

- Phúc cho ai xây dựng hòa bình…

Nghe có vẻ lạ phải không các con? Vì chúng ta thường nghĩ rằng: phải giàu có mới hạnh phúc, phải mạnh hơn người khác mới vui.

Nhưng Chúa Giêsu dạy: hạnh phúc thật bắt đầu từ trái tim.

2. Sống Tám Mối Phúc trong đời thiếu nhi

Các con có thể sống Tám Mối Phúc mỗi ngày:

- Hiền lành: không đánh bạn, không nói lời làm người khác buồn.

- Xót thương: thấy bạn khóc thì an ủi, thấy bạn té thì đỡ dậy.

- Tâm hồn trong sạch: không nói dối, không gian tham, không chửi thề nói tục, không quay cóp bài.

- Xây dựng hòa bình: biết xin lỗi khi làm sai, biết làm hòa khi giận nhau.

- Tâm hồn nghèo khó: biết chia sẻ kẹo bánh, đồ chơi cho bạn.

Những việc nhỏ như vậy chính là con đường dẫn đến hạnh phúc lâu bền do Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta.

3. Ai cho đi sẽ nhận lại

Các con thử nhớ lại xem: khi mình chia sẻ bánh cho bạn, mình có buồn không? Hay là thấy vui hơn?

Khi mình giúp ba mẹ một việc nhỏ, trong lòng có ấm áp không?

Hạnh phúc giống như ngọn nến. Khi thắp sáng cho người khác, ngọn nến của mình không bị tắt, mà còn sáng hơn.

4. Noi gương Chúa Giêsu

Chúa Giêsu là người sống Tám Mối Phúc cách trọn vẹn nhất.

Chúa hiền lành.

Chúa yêu thương mọi người.

Chúa tha thứ.

Chúa đem lại bình an.

Dù bị người ta làm hại, Chúa vẫn yêu thương. Và cuối cùng, Chúa đã sống lại vinh quang.

Đi theo Chúa có thể không dễ, nhưng chắc chắn sẽ dẫn đến hạnh phúc thật – hạnh phúc ở trong tim, không ai lấy mất được.

Các con thiếu nhi thân mến,

Tuần này, mỗi bạn hãy chọn một việc tốt để làm:

Giúp ba mẹ một việc nhỏ.

Chia sẻ một việc bác ái với một bạn trong lớp.

Nói một lời xin lỗi ai đó mà mình xúc phạm.

Cầu nguyện cho người nào đó đang buồn.

Khi các con làm như thế, các con sẽ khám phá ra rằng: hạnh phúc không nằm ở đồ chơi hay điểm số, nhưng nằm trong trái tim biết yêu thương.

Xin Chúa Giêsu chúc lành cho các con, để các con luôn là những thiếu nhi ngoan ngoãn, hiền lành và đầy niềm vui. Amen.

 

Suy niệm 4:

Thiên Chúa không bao giờ đem đến cho ta những quả ngọt sẵn có mà Ngài lại ban cho ta những hạt giống và muốn ta gieo trồng chăm sóc, thì mới mong thu hoạch được hoa thơm trái ngọt. Thực tế cho thấy, muốn ăn cam thì hãy trồng cam, muốn ăn cơm thì phải gieo hạt lúa. Hạnh phúc cũng vậy, muốn có hạnh phúc thì ta phải ra sức gieo trồng và siêng năng chăm sóc hạt mầm hạnh phúc.

Nhìn vào thực tế, chúng ta nhận thấy có 3 hạng người sau đây:

- Hạng thức nhất: không trồng cây mà đòi hái trái, không gieo mà đòi thu hoạch… Hạng người nầy tượng trưng cho những ai không chịu gieo trồng hạnh phúc cho mình, cho người mà lại ngồi không mong chờ và đòi hưởng hạnh phúc.

- Hạng thứ hai: chỉ toàn trồng cây xấu mà đòi hái trái tốt, trồng những cây hoang dại mà đòi hỏi thu hoạch những trái ngon ngọt. Hạng nầy tượng trưng cho những người làm điều ác, hay gây đau khổ cho người khác mà lại đòi hưởng phúc lành.

- Hạng thứ ba: biết nỗ lực trồng cây tốt nên thu hoạch được nhiều trái tốt, siêng năng gieo giống tốt nên gặt được hoa màu tốt tươi. Hạng nầy tượng trưng cho những người dám hy sinh phục vụ người khác, mư cầu mang lại niềm vui cho tha nhân nên sẽ được gặt hái nhiều hoa trái hạnh phúc trong cuộc sống.

Như thế, phúc hay họa nằm trong tay của mỗi người chúng ta, và do chính ta định đoạt. Ai muốn hạnh phúc hãy chấp nhận hy sinh phục vụ vì mưu cầu hạnh phúc cho người khác; trái lại, sẽ là bất hạnh nếu ai đó chỉ toàn gây đau thương khốn khổ cho tha nhân mình.

Thánh Phaolô đã từng nhắc đến quy luật nầy như sau: “Ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống đó.” Còn Chúa Giê-su thì nói: “Ai đong bằng đấu nào thì sẽ được đong trả lại bằng đấu ấy.” Nếu chúng ta đong cho người khác một đấu thóc thì cuộc đời sẽ đong lại đấu thóc khác cho ta; trái lại, nếu chúng ta đong cát, sỏi… cho người khác, thì ta phải đành nhận lại được cát đá mà thôi.

* Để minh họa cho chân lý trên người ta kể lại câu chuyện sau đây:

Trong một buổi hội thảo về hạnh phúc gồm 50 người tham dự. Diễn giả khởi đầu bằng một hoạt động tập thể. Ông đưa cho mỗi người một quả bóng và yêu cầu họ viết tên của mình lên trái bóng bằng cây bút lông. Sau đó, số quả bóng ấy được thu hết lại trong một cái giỏ rồi được đưa sang một phòng khác.

Rồi 50 người này lại được tập trung sang phòng chứa bóng và được yêu cầu hãy tìm quả bóng có ghi tên mình trong thời hạn 5 phút. Mọi người đều lao vào giỏ xô đẩy nhau để tìm kiếm quả bóng mang tên mình và căn phòng trở nên hỗn loạn, khi hết 5 phút mà ít có người tìm được quả bóng mang tên mình.

Lúc này, vị diễn giả mới yêu cầu mỗi người tự nhặt lên một quả bóng bất kỳ rồi tìm chuyển cho người có tên ghi trên quả bóng ấy. Và chỉ trong vòng 5 phút sau, ai nấy đều đã có được quả bóng tên mình.

Bấy giờ, vị diễn giả mới dẫn vào đề tài về hạnh phúc: Trong cuộc sống, mỗi người đều hối hả đi tìm hạnh phúc của mình, nhưng thực ra lại không biết chúng nằm ở đâu. Hạnh phúc của chúng ta nằm xen lẫn với hạnh phúc của người khác. Hãy tìm cách làm cho người bên cạnh chúng ta có được hạnh phúc, rồi ta cũng sẽ có được hạnh phúc cho do người khác mang lại.

Hãy cứ cho đi rồi sẽ được nhận lại vì Chúa đã nói: “Vậy anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy." (Lc 6,38).

Xin Chúa giúp chúng ta trong năm mới này đừng bao giờ đong “những đấu ghen ghét, oán hờn” cho tha nhân để khỏi bị đong lại bằng những đấu oán hờn, nhưng biết sẵn sàng đong cho mọi người những đấu hạnh phúc thật đầy, nhờ đó, Thiên Chúa sẽ đong lại cho ta những đấu hạnh phúc dư đầy.

Ước mong hạnh phúc đích thực của Chúa luôn ngự trị trong tâm hồn của mỗi người chúng ta, nhờ đó mà ân sủng và bình an của Chúa cũng được lan tỏa khắp nơi đến với mọi người nhờ vào những cố gắng gieo trồng hạnh phúc của mỗi người trong chúng ta. (St).


Suy niệm 5: “HẠNH PHÚC THEO THƯỚC ĐO CỦA NƯỚC TRỜI”

Ai trong chúng ta cũng khao khát hạnh phúc. Người ta học hành, làm việc, phấn đấu, tích lũy… cũng chỉ mong có một cuộc sống hạnh phúc. Nhưng vấn đề là: hạnh phúc theo tiêu chuẩn nào?

Thế gian có thước đo riêng của mình: giàu có, quyền lực, danh vọng, thành đạt. Nhưng Lời Chúa hôm nay lại đưa ra một thước đo hoàn toàn khác, thước đo của Nước Trời.

1. Thiên Chúa chọn điều nhỏ bé

Bài đọc 1: Ngôn sứ Xôphônia nói rằng Thiên Chúa sẽ để lại giữa dân Người “một dân nghèo hèn và bé nhỏ”, một dân biết nương tựa vào Danh Chúa.

Bài đọc 2-Thánh Phaolô cũng khẳng định: Thiên Chúa đã chọn những gì yếu hèn, những gì không đáng kể trước mắt thế gian để làm nên điều cao trọng, để không ai có thể tự hào trước mặt Người.

Như thế, ngay từ Cựu Ước đến Tân Ước, Thiên Chúa không hành động theo tiêu chuẩn của thế gian. Người không xây dựng Nước Trời bằng quyền lực, nhưng bằng sự khiêm hạ; không bằng sức mạnh trần thế, nhưng bằng lòng tín thác.

2. Tám Mối Phúc-bản hiến chương hạnh phúc

Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu công bố Tám Mối Phúc Thật. Đây chính là bản hiến chương của Nước Trời.

“Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó…

Phúc cho ai hiền lành…

Phúc cho ai sầu khổ…

Phúc cho ai bị bách hại…”

Thoạt nghe, ta thấy như nghịch lý. Nghèo mà phúc? Sầu khổ mà phúc? Bị bách hại mà phúc?

Nhưng Đức Giêsu không nói đến hạnh phúc chóng qua dựa trên cảm xúc hay hoàn cảnh. Người nói đến hạnh phúc sâu xa bắt nguồn từ mối tương quan với Thiên Chúa.

- Tâm hồn nghèo khó là biết mình cần Chúa, không cậy dựa vào của cải hay địa vị.

- Hiền lành là sức mạnh của người làm chủ được chính mình.

- Sầu khổ là trái tim biết đau trước tội lỗi và bất công.

- Khao khát công chính là thao thức sống đúng thánh ý Chúa.

- Xót thương người là biết tha thứ và cảm thông.

- Tâm hồn trong sạch là sống chân thật, không giả dối.

- Xây dựng hòa bình là dám nối lại những nhịp cầu gãy đổ.

- Bị bách hại vì lẽ công chính là trung thành với sự thật dù phải trả giá.

Mỗi mối phúc đều có hai chiều: một bên là hy sinh, một bên là phần thưởng; một bên là “vì Chúa và vì người khác”, một bên là “được Thiên Chúa chúc phúc”.

3. Đức Giêsu-hiện thân của Tám Mối Phúc

Tám Mối Phúc không phải là lý thuyết suông. Đức Giêsu đã sống trọn vẹn con đường ấy:

Người sinh ra trong cảnh nghèo. Người hiền lành và khiêm nhường. Người chạnh lòng thương trước đám đông lầm than. Người khao khát thực thi thánh ý Chúa Cha. Người giàu lòng xót thương. Người trong sạch tuyệt đối. Người đem lại bình an. Và cuối cùng, Người bị bách hại và chịu chết trên thập giá.

Theo cái nhìn thế gian, thập giá là thất bại. Nhưng trong kế hoạch của Thiên Chúa, đó lại là chiến thắng. Phục Sinh chính là lời xác nhận rằng con đường Tám Mối Phúc dẫn đến vinh quang thật.

4. Xét lại thước đo của chúng ta

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tự hỏi: Ta đang đo giá trị đời mình bằng điều gì? Ta tìm kiếm điều gì làm nên hạnh phúc?

Nếu chỉ dựa vào tiền bạc, danh vọng hay thành công, ta có thể đạt được nhiều thứ, nhưng vẫn cảm thấy trống rỗng. Chỉ khi sống theo thước đo của Nước Trời, ta mới có được bình an sâu xa mà không ai có thể lấy mất.

Sống Tám Mối Phúc không phải là làm những điều lớn lao, nhưng bắt đầu từ những việc rất cụ thể mỗi ngày: Hiền lành hơn một chút trong gia đình. Bao dung hơn một chút trong cộng đoàn. Chân thật hơn trong công việc. Biết tha thứ và xây dựng hòa bình thay vì nuôi dưỡng oán giận.

Con đường của Tám Mối Phúc có thể không hấp dẫn theo tiêu chuẩn thế gian, nhưng đó là con đường chắc chắn dẫn đến hạnh phúc thật.

Xin Chúa cho chúng ta biết trở nên “những người nghèo của Chúa”, biết tín thác vào Người và can đảm sống theo thước đo của Nước Trời, để ngay hôm nay chúng ta được hưởng bình an nội tâm và mai sau được hưởng hạnh phúc viên mãn bên Chúa. Amen.


Suy niệm 6:

CÂU CHUYỆN: CHIẾC CỐC SỨT VÀ BÌNH NƯỚC

Có một người nông dân mỗi ngày đều gánh hai chiếc thùng nước từ suối về nhà. Một chiếc thùng còn mới, nguyên vẹn; chiếc kia bị nứt một đường nhỏ bên hông.

Suốt hai năm trời, chiếc thùng nứt luôn cảm thấy buồn bã. Nó tự trách mình: “Anh thùng kia lúc nào cũng đầy nước khi về tới nhà. Còn tôi, nước chảy rỉ suốt dọc đường. Tôi thật vô dụng.”

Một ngày kia, chiếc thùng nứt lên tiếng xin lỗi ông chủ. Người nông dân mỉm cười và nói: “Con có để ý lối mòn từ suối về nhà không? Bên phía con, hoa nở rất đẹp. Còn phía bên kia thì khô cằn.

Ta đã gieo hạt giống dọc đường bên phía con. Mỗi ngày, chính những giọt nước rơi xuống từ vết nứt của con đã tưới mát và làm cho hoa nở. Nhờ con, ta có hoa tươi trang trí bàn ăn và dâng lên bàn thờ.”

Chiếc thùng nứt lặng đi. Nó nhận ra: chính chỗ yếu hèn của mình lại trở thành nguồn sự sống.

Theo cái nhìn thông thường, chiếc thùng nứt là biểu tượng của thất bại, khiếm khuyết, yếu đuối. Nhưng trong kế hoạch của người chủ, chính sự “thiếu sót” ấy lại mang đến hoa trái.

Tám Mối Phúc cũng là một nghịch lý như thế.

Thế gian thích chiếc thùng nguyên vẹn: giàu có, mạnh mẽ, nổi bật.

Còn Chúa Giêsu lại chúc phúc cho những “chiếc thùng nứt”: người nghèo, người hiền lành, người sầu khổ, người bị bách hại.

Không phải vì đau khổ tự nó là điều tốt. Nhưng vì khi con người biết tín thác vào Chúa giữa những giới hạn của mình, thì chính nơi đó, ân sủng bắt đầu nở hoa.

Người có tâm hồn nghèo khó là người biết mình không đủ, nên mở lòng đón nhận Chúa.

Người hiền lành là người không lấy sức mạnh để áp đảo người khác.

Người xót thương là người dám cúi xuống trước nỗi đau của tha nhân.

Người bị bách hại vì lẽ công chính là người chấp nhận “rò rỉ” danh dự, quyền lợi, thậm chí an toàn của mình, để sự thật và tình yêu được lớn lên.

Thập giá của Đức Giêsu cũng giống như “vết nứt” của chiếc thùng. Theo mắt người đời, đó là thất bại. Nhưng chính từ cạnh sườn bị đâm thâu ấy, ơn cứu độ tuôn trào cho nhân loại.

Vì thế, hạnh phúc Tin Mừng không hệ tại ở việc ta hoàn hảo, mạnh mẽ hay giàu có.
Hạnh phúc thật hệ tại ở việc ta thuộc về Chúa và để Chúa sử dụng cả những yếu đuối của mình cho một điều lớn lao hơn.

Có thể hôm nay chúng ta cảm thấy mình nhỏ bé, thiếu thốn, thiệt thòi. Nhưng nếu sống trong niềm tin và tình yêu, chính nơi đó hoa của Nước Trời đang âm thầm nở. Và một ngày kia, ta sẽ hiểu: Điều thế gian gọi là “vết nứt”. lại chính là con đường dẫn ta đến hạnh phúc thật.

Chúa đã chỉ cho chúng ta con đường dẫn đến hạnh phúc thật.  Xin cho chúng ta biết sống nghèo khó trong tâm hồn, hiền lành, xót thương và tích cực xây dựng hòa bình giữa đời thường.... Nhờ đó, ánh sáng của niềm vui Tin Mừng và hạnh phúc của Nước Trời được lan tỏa đến mọi người và mọi nơi. Amen.


Thứ hai: Ml 3,1-4; Dt 2,14-18; Lc 2,22-32

DÂNG CHÚA GIÊSU VÀO ĐỀN THÁNH (Làm Phép Và Kiệu Nến)

Suy niệm 1:

Cùng với GH, hôm nay chúng ta mừng kính lễ Chúa Giêsu dâng mình trong đền thánh. Sự kiện này tiên báo về của lễ tinh tuyền mà Người sẽ hiến dâng lên Chúa Cha trên thập giá sau này, để đền tội thay cho muôn dân.

Dâng thánh lễ hôm nay, chúng ta cảm tạ tình thương cứu độ cao quý mà Thiên Chúa dành cho chúng ta; đồng thời chúng ta cũng được mời gọi hiến dâng đời mình làm của lễ sống động dâng lên Thiên Chúa và phục vụ mọi người với niềm tin yêu và phó thác.

Phụng vụ lời Chúa hôm nay nhấn mạnh đến cách thế hiện diện của Thiên Chúa và điều kiện căn bản để ta đón nhận Người.

- Như chúng ta biết sau thời lưu đày ở Babylon, khoảng 515 trước công nguyên. Khi ấy đền thờ Giêrusalem đã được tái thiết xong, nhưng không đẹp và tráng lệ bằng đền thờ Giêrusalem trước đây, nên nhiều người tỏ ra hối tiếc. Nhiều vị tiên tri thời bấy giờ cho rằng: điều quan trọng không phải là đền thờ đó cao sang lộng lẫy, nhưng quan trọng là đền thờ ấy có được Chúa ngự đến hay không. Vì vậy mà tiên tri Malakhi đã loan báo về một viễn tượng tràn đầy hy vọng trong ngày mà Thiên Chúa sẽ thân hành đi vào đền thờ để viếng thăm dân Người, lời loan báo ấy như sau: “và bỗng nhiên Chúa Thượng mà các ngươi tìm kiếm, đi vào Thánh Điện của Người. Kìa, vị sứ giả của giao ước mà các ngươi đợi trông đang đến.”

Tiên tri Malakhi cũng cho biết ngày Chúa đến sẽ là ngày kinh hoàng : “Ai chịu nổi ngày Người đến? Ai đứng được khi Người xuất hiện?”. Vì ngày Chúa đến là ngày kinh hoàng, nên con người cần phải được thanh luyện và tẩy sạch mới có thể đứng vững trong ngày đó.

- Trong bài đọc 2, tác giả thư Do Thái tiếp tục mô tả cách thức hiện diện của Thiên Chúa: “Người sẽ mặc lấy xác phàm mà đến ở với con người. Người trở nên đồng thân, đồng phận và đồng tử với con người, ngõ hầu cảm thông, trợ giúp và xóa sạch tất cả tội lỗi của con người.”

Một câu hỏi đặt ra là tại sao Thiên Chúa phải hiện diện với thân phận con người như thế? Thưa, bởi lẽ nếu Thiên Chúa không phải là người thật thì Ngài không chết thật và do đó loài người không được cứu độ; còn nếu Thiên Chúa là người thật mà không phải là Thiên Chúa thì cái chết của Người cũng như bao người khác, không thể cứu chuộc được ai cả. Vì thế sự hiện diện của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu phải là Thiên Chúa thật và là người thật, ngoại trừ tội lỗi.

- Tiếp nối dòng tư tưởng ấy, bài Tin Mừng hôm nay cho biết cách thế để ta nhận ra Thiên Chúa làm người nơi Đức Giêsu.

Để nhận ra Thiên Chúa đi vào Đền thờ với thân phận là một Hài Nhi Giêsu thì cần phải có đời sống như cụ già Simêon: Sống đời công chính, luôn khát khao mong đợi Chúa đến, nhất là biết sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần; cũng như phải nêu gương bắt chước lối sống của cụ bà tiên tri Anna: “không rời khỏi đền thờ, đêm ngày chay tịnh và cầu nguyện. Vào giờ ấy, bà đã đến bên tán tạ Thiên Chúa và bà đã nói về Ngài cho mọi kẻ ngóng đợi phúc cứu chuộc của Giêrusalem.” (Lc 2, 37-38).

Thiên Chúa luôn hiện diện và đồng hành với chúng ta qua mọi nẻo đường của cuộc sống để nâng đỡ, chở che, ban ơn. Điều quan trọng là làm thế nào để nhận ra Người?

Xin cho chúng ta có được đời sống tốt lành, thánh thiện như cụ ông Simêon và như cụ bà Anna để ta có được cái tâm trong sáng và cái nhìn ngay chính thánh thiện mà nhận ra Chúa hiện diện trong mọi người cũng như qua biến cố của cuộc đời. Xin Chúa Thánh Thần thương thanh tẩy tâm hồn và đôi mắt của ta nên trinh trong, để cái nhìn của ta được ngời sáng. Nhờ đó mà ta dễ dàng nhận ra Chúa Giêsu nơi những người anh em bé nhỏ, nghèo nàn.

Suy niệm 2:

Hôm nay Giáo Hội mừng biến cố Đức Maria và thánh Giuse đem Hài Nhi Giêsu lên Đền Thánh để dâng cho Thiên Chúa theo luật Môsê. Một nghi thức đơn sơ của một gia đình nghèo, nhưng lại là một khoảnh khắc trọng đại trong lịch sử cứu độ: Thiên Chúa bước vào Đền Thờ của Người.

1. “Chúa mà các ngươi tìm kiếm sẽ đến Đền Thánh của Người” (Ml 3,1)

Ngôn sứ Malakhi loan báo một ngày Thiên Chúa sẽ đến thanh luyện dân Người như lửa luyện vàng. Lời tiên báo ấy được thực hiện cách âm thầm trong Tin Mừng hôm nay.

Không kèn trống, không vinh quang trần thế. Đấng Thánh được bồng trên tay một người mẹ trẻ. Đấng Tạo Hóa của Đền Thờ lại được đem vào Đền Thờ như một trẻ thơ.

Thiên Chúa đến không để kết án, nhưng để thanh luyện. Ngài thanh luyện bằng chính sự khiêm hạ và nghèo khó của mình. Ngài không phá hủy Đền Thờ bằng đá, nhưng khai mở một Đền Thờ mới là chính thân mình Ngài.

2. “Người đã nên giống anh em mình mọi đàng” (Dt 2,17)

Thư Do Thái giúp ta hiểu sâu hơn ý nghĩa biến cố này: Con Thiên Chúa đã chia sẻ thân phận con người, “để giải thoát những ai vì sợ chết mà sống trong cảnh nô lệ”.

Hài Nhi được dâng trong Đền Thánh hôm nay chính là vị Thượng Tế đầy lòng thương xót. Ngài không đứng xa con người, nhưng bước vào thân phận mong manh của chúng ta. Ngài đã nếm trải yếu đuối, đau khổ, thử thách, để có thể cảm thông và cứu giúp.

Lễ Dâng Chúa không chỉ là việc cha mẹ dâng con cho Thiên Chúa, mà còn là việc Thiên Chúa trao ban Con của Người cho nhân loại.

3. Ánh sáng cho muôn dân (Lc 2,32)

Giữa Đền Thờ đông đúc, chỉ có hai người già là cụ ông Simêon và cụ bà Anna nhận ra Đấng Cứu Độ. Điều đó cho thấy: muốn gặp Chúa, cần một trái tim biết chờ đợi và lắng nghe Thánh Thần.

Simêon bồng Hài Nhi trên tay và cất lên lời ca tuyệt đẹp: “Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi;
vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ…”

Ông nhận ra nơi Hài Nhi bé nhỏ chính là ánh sáng cho muôn dân, là vinh quang của Israel. Nhưng ánh sáng ấy lại là “dấu chỉ bị chống báng”, và một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Đức Maria.

Ngay từ đầu đời, bóng Thập Giá đã thấp thoáng. Dâng vào Đền Thờ cũng là khởi đầu cho hành trình tự hiến trọn vẹn trên đồi Canvê.

4. Lời Chúa mời gọi

Lễ hôm nay mời gọi chúng ta ba điều:

- Thứ nhất, biết dâng chính mình cho Chúa.

Như Đức Maria và thánh Giuse đã dâng Con mình, mỗi Kitô hữu cũng được mời gọi dâng đời mình cho Thiên Chúa mỗi ngày: dâng công việc, niềm vui, nỗi buồn, cả những hy sinh âm thầm.

- Thứ hai, trở nên ánh sáng.

Chúa Giêsu là Ánh Sáng muôn dân. Khi đón nhận Ngài, chúng ta cũng được mời gọi trở thành ánh sáng của yêu thương, tha thứ và hy vọng trong gia đình, họ đạo và xã hội.

- Thứ ba, biết chờ đợi Chúa với lòng trung tín.

Cụ ông Simêon và cụ bà Anna là hình ảnh của những tâm hồn kiên trì cầu nguyện. Giữa một thế giới ồn ào, người tín hữu cần giữ cho mình một nội tâm lặng lẽ, để nhận ra Chúa đang đến trong những điều rất bình thường.

Lễ Dâng Chúa vào đền thờ là lễ của ánh sáng và của sự dâng hiến.

Xin cho chúng ta biết mở lòng đón Chúa vào “đền thờ” tâm hồn mình.

Xin cho đời sống chúng ta cũng trở thành một lời “xin vâng” âm thầm, nhưng bền bỉ, để ánh sáng của Đức Kitô chiếu tỏa giữa trần gian hôm nay.

Suy niệm 3:

Có một câu chuyện kể về một cậu bé mù từ nhỏ, nhưng tâm hồn luôn tràn đầy niềm vui. Một buổi tối, người ta thấy cậu cầm một chiếc đèn lồng đi giữa công viên tối thẳm. Có người ngạc nhiên hỏi: “Cháu không nhìn thấy gì, vậy cầm đèn để làm gì?”

Cậu mỉm cười đáp: “Cháu cầm đèn không phải để soi cho mình, vì với cháu bóng tối hay ánh sáng cũng như nhau. Cháu cầm đèn để người khác thấy cháu mà không va vào cháu, và để họ cũng thấy đường mà đi.”

Hình ảnh ấy phần nào giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của ngày lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh hôm nay. Khi tham dự nghi thức làm phép nến và rước nến, chúng ta không chỉ cử hành một nghi thức đẹp, nhưng tuyên xưng một chân lý: Đức Giêsu là Ánh Sáng muôn dân. Nhưng ánh sáng ấy chiếu tỏa vào thế giới bằng cách nào?

Tin Mừng cho thấy một hành trình gồm ba bước.

1. Trước hết, ánh sáng khởi đi từ sự vâng phục âm thầm.

Đức Maria và thánh Giuse đưa Hài Nhi lên Đền Thánh để chu toàn Lề Luật. Các ngài dâng “một đôi chim gáy” . Đây là lễ vật của người nghèo. Không có gì rực rỡ, không có phép lạ phi thường. Nhưng chính trong sự đơn sơ và trung tín ấy, Thiên Chúa lại thực hiện chương trình cứu độ vĩ đại.

Thật vậy, Thiên Chúa không bắt đầu bằng những điều lớn lao, mà bằng một gia đình biết vâng phục. Sự thánh thiện của chúng ta cũng bắt đầu như thế: chu toàn bổn phận hằng ngày với lòng mến. Khi ta trung tín trong việc nhỏ, ta đang dọn sẵn đèn dầu để Chúa thắp sáng đời mình.

2. Thứ đến, ánh sáng bùng lên trong cuộc gặp gỡ của đức tin.

Đền Thờ hôm ấy có đông người qua lại, nhưng chỉ có cụ Simêon và bà Anna nhận ra Hài Nhi là Đấng Cứu Độ. Vì các ngài là những người biết chờ đợi và cầu nguyện. Các ngài không nhìn bằng con mắt thế gian mà nhìn bằng đôi mắt đức tin.

Cụ Simêon đã bồng Hài Nhi trên tay và thốt lên trong niềm vui khôn tả: “Lạy Chúa, giờ đây xin để tôi tớ này được an bình ra đi.” Gặp được Chúa, cụ cảm thấy trọn vẹn và viên mãn.

Nhiều khi chúng ta cũng đi lễ, đọc kinh, tham dự sinh hoạt đạo đức, nhưng lòng ta lại bận rộn đủ điều nên không thể gặp được Chúa. Một Kitô hữu không cầu nguyện giống như cây đèn hết dầu, dễ lụi tàn trước thử thách. Chỉ khi kiên nhẫn đợi chờ và mở lòng, chúng ta mới nhận ra ánh sáng của Chúa trong cuộc đời mình.

3. Cuối cùng, ánh sáng tỏa lan nhờ sự tự hiến.

Cụ Simêon tuyên xưng: “Đây là ánh sáng soi đường cho dân ngoại.” Nhưng để trở thành ánh sáng, Đức Giêsu sẽ phải đi trọn con đường thập giá.

Cây nến chỉ hoàn thành sứ mạng khi biết cháy và tan chảy. Nếu nó giữ nguyên hình thỏi sáp, nó sẽ không bao giờ chiếu sáng.

Lễ hôm nay cũng là ngày Giáo Hội cầu nguyện cho đời sống thánh hiến. Các tu sĩ là những người chọn “tiêu hao” cuộc đời mình cho Thiên Chúa và tha nhân. Tuy nhiên, mỗi người chúng ta, nhờ Bí tích Thánh Tẩy, cũng được mời gọi trở thành ánh sáng trong gia đình, nơi làm việc, giữa xã hội.

Sau thánh lễ này, chúng ta sẽ cầm cây nến được làm phép trở về nhà. Xin đừng để ánh sáng ấy chỉ là biểu tượng bên ngoài. Nhưng hãy để nó trở thành quyết tâm sống cụ thể, bằng cách:

- Bớt một lời cay cú để thắp lên một nụ cười.

- Bớt một chút ích kỷ để thắp lên sự cảm thông.

- Dâng cho Chúa cả những lo âu và thất bại để Ngài thanh luyện và biến đổi.

Xin Chúa Giêsu, Ánh Sáng Thật, giúp chúng ta biết sống vâng phục, kiên trì cầu nguyện và quảng đại hiến dâng. Nhờ đó, đời chúng ta cũng trở thành những ngọn nến nhỏ bé nhưng bền bỉ, chiếu sáng giữa đêm tối trần gian, cho đến ngày được gặp Ngài trong Đền Thờ vĩnh cửu trên trời. Amen.


Suy niệm 4:

Có một câu chuyện kể rằng: một cậu bé trong họ đạo đem biếu cha sở một món quà nhỏ được gói rất cẩn thận. Khi mở ra, cha thấy bên trong chỉ là một chiếc hộp trống rỗng. Cha sở mỉm cười hỏi: “Sao con tặng cha chiếc hộp không có gì vậy?”

Cậu bé hồn nhiên đáp: “Thưa cha, con đã thổi thật nhiều nụ hôn vào trong đó. Con không có gì quý giá để tặng, nhưng tất cả tình thương của con đều ở trong ấy.”

Từ đó, mỗi khi mệt mỏi hay buồn phiền, cha sở lại nhìn vào chiếc hộp tưởng như trống rỗng ấy và nhớ rằng: điều quý giá nhất không phải là vật chất, mà là tình yêu được trao ban.

Hôm nay, lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh, Đức Maria và thánh Giuse cũng mang đến một “món quà”. Bề ngoài, đó chỉ là một Hài Nhi bé nhỏ của một gia đình nghèo, kèm theo một lễ vật khiêm tốn là “một đôi chim gáy”. Nhưng thực ra, đó là món quà lớn nhất mà Thiên Chúa trao tặng cho nhân loại chúng ta, đó là chính Con Một yêu dấu của Người.

Thiên Chúa không ban cho chúng ta vàng bạc châu báu hay quyền lực, nhưng Người ban cho ta chính Con của Người. Và Hài Nhi ấy lớn lên để trở thành của lễ tinh tuyền, hiến dâng trọn hảo trên thập giá để cứu độ chúng ta.

- Lời ngôn sứ Malakhi này được ứng nghiệm: “Chúa mà các ngươi tìm kiếm sẽ bất ngờ vào Đền Thánh của Người.” Nhưng Ngài không đến trong uy nghi lẫm liệt, mà trong dáng vẻ mong manh của một trẻ thơ.

Đền Thờ hôm ấy đông người qua lại, nhưng chỉ có cụ Simêon và bà Anna nhận ra Hài Nhi là Đấng Cứu Độ. Vì các ngài là những người đang mong chờ, đang khao khát và mở lòng cho Thiên Chúa.

Cụ Simêon đã bồng Hài Nhi trên tay và thưa: “Lạy Chúa, giờ đây xin để tôi tớ này được an bình ra đi.” Cả đời cụ chờ đợi giây phút ấy, và khi gặp được Chúa, cụ cảm thấy đầy đủ và mãn nguyện.

Có lẽ nhiều khi chúng ta cũng giống những người trong Đền Thờ năm xưa: tất bật, lo toan, tìm kiếm thành công, sự an toàn hay tương lai cho con cái… nhưng lại quên tìm kiếm chính Chúa là nguồn bình an đích thật.

Chúa vẫn đến rất gần trong Thánh lễ, trong Lời Chúa, trong những biến cố thường ngày, nhưng nếu lòng ta khép kín, ta sẽ không nhận ra Ngài.

- Thư gửi tín hữu Do Thái nhắc rằng Đức Giêsu đã “nên giống anh em mình về mọi phương diện”, đã mang lấy thân phận con người để cứu độ chúng ta. Ngài được dâng vào Đền Thánh hôm nay, và cả cuộc đời Ngài sẽ là một lễ dâng liên lỉ cho đến đỉnh cao trên thập giá.

Lễ hôm nay cũng là ngày Giáo Hội cầu nguyện cho đời sống thánh hiến. Nhưng không chỉ các tu sĩ mới được mời gọi hiến dâng. Mỗi người chúng ta, qua Bí tích Thánh Tẩy, cũng đã được “dâng” cho Chúa.

Có thể chúng ta không có những việc lớn lao để dâng, nhưng chúng ta có thể dâng:

- Một ngày sống trung tín với bổn phận.

- Một hy sinh âm thầm trong gia đình.

- Một sự tha thứ khó khăn.

-  Một lời cầu nguyện chân thành.

Như chiếc hộp tưởng chừng trống rỗng nhưng đầy ắp yêu thương, Chúa không chờ đợi nơi chúng ta những điều rực rỡ bên ngoài, mà là một trái tim chân thành bên trong.

Ước gì khi chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu được dâng vào Đền Thánh, mỗi người chúng ta cũng biết dâng lại cho Chúa chính cuộc đời mình. Và khi thực sự gặp được Ngài, chúng ta sẽ tìm thấy bình an, thứ bình an mà thế gian không thể ban tặng. Amen.


Suy niệm 5:

Lễ Dâng Chúa vào Đền Thờ không đơn thuần là một nghi thức tôn giáo theo luật Môsê, mà là một cuộc gặp gỡ mang tính lịch sử. Tại Đền Thờ Giêrusalem năm ấy, Cựu Ước – đại diện bởi cụ già Simêon và bà ngôn sứ Anna – đã hội ngộ cùng Tân Ước nơi Hài Nhi Giêsu. Như vậy những lời hứa từ ngàn xưa nay trở thành hiện thực: Ánh Sáng vĩnh cửu đã bước vào ngôi nhà của nhân loại.

Sự kiện này muốn gửi đến chúng ta ba sứ điệp sâu sắc:

1. Sự vâng phục trong khiêm hạ

Chúa Giêsu là Đấng ban hành Lề Luật, nhưng Người lại chọn đặt mình dưới quyền của Lề Luật. Qua bàn tay của Đức Maria và Thánh Giuse, Người được dâng tiến với lễ vật của người nghèo – "một đôi chim gáy".

Sự vâng phục này không phải là yếu đuối, mà là sự tự hủy để "nên giống anh em mình mọi đàng", hầu có thể cảm thông và cứu độ chúng ta.

Khi nhìn vào Hài Nhi bé nhỏ, chúng ta được mời gọi tự vấn: Tôi có sẵn sàng vâng theo thánh ý Chúa qua những bổn phận nhỏ bé hằng ngày, hay vẫn đang tìm cách đặt cái tôi của mình lên trên hết?

2. Ánh Sáng soi dẫn và thanh tẩy

Lời ca của cụ già Simêon đã định nghĩa căn tính của Chúa Giêsu: "Ánh sáng soi đường cho dân ngoại". Ngọn nến chúng ta cầm trên tay hôm nay không chỉ là biểu tượng trang trí, mà là một lời tuyên xưng.

Nếu không có Chúa, đời ta dễ chìm vào bóng tối của ích kỷ và thất vọng. Ánh sáng của Người giúp ta nhìn rõ những "góc khuất" và những vết thương trong tâm hồn.

Như lời ngôn sứ Malakhi đã nói, Chúa đến để "tinh luyện như luyện vàng, luyện bạc". Ánh sáng của Người không chỉ để an ủi, sưởi ấm mà còn đòi hỏi chúng ta phải can đảm đổi mới, rũ bỏ những gì không thuộc về Ngài.

3. Hiến tế đầu đời và Hy tế Thập Giá

Cuộc dâng hiến hôm nay chính là hình bóng của cuộc khổ nạn trên đồi Canvê mai sau. Lời tiên báo về "lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn"  của cụ già Simion, cho thấy một chân lý: Dâng hiến cho Thiên Chúa luôn đi đôi với sự từ bỏ và hy sinh.

Mẹ Maria dâng Con mà không giữ lại cho riêng mình. Đó là cốt lõi của sự dâng hiến đích thực: Không phải là mất đi, mà là đặt tất cả vào tay Thiên Chúa để Ngài thánh hóa.

Ngày lễ hôm nay mời gọi mỗi chúng ta trở thành những "đền thờ di động" – biết nhận ra Chúa trong đời thường và lan tỏa hơi ấm của Ngài đến trong gia đình và nơi các cộng đoàn.

Lạy Chúa Giêsu, khi Chúa được dâng vào Đền Thờ, Chúa đã mang theo hy vọng cho toàn thế giới. Xin thắp sáng tâm hồn chúng con bằng ngọn lửa yêu mến, để chúng con không chỉ bước đi trong ánh sáng, mà còn trở thành ánh sáng cho anh chị em mình. Amen.


* Mùa thường niên: Mc 5,1-20

Giáo lý công giáo dạy ta biết rằng:  Ma quỷ là loài Thiên Thần. Nhưng vì không vâng phục Thiên Chúa nên đã bị phạt thành Satan hay Ma quỷ. Vì thế Satan hay ma quỷ được mệnh danh là “kẻ chống đối”.  Do không tài nào chống đối lại Thiên Chúa quyền năng nên ma quỷ quay sang hãm hại con người. Bởi lẽ con người là tạo vật được Chúa yêu thương bật nhất. 

Tin mừng hôm nay cho biết, tại vùng đất dân ngoại Ghê-ra-sa, đạo binh ma quỷ đang thống trị và dùng mọi thủ đoạn để hãm hại con người.

- Thủ đoạn thứ nhất: Hành hạ thân xác con người. 

Quỷ đã nhập vào một người làm cho anh ta phải điêu đứng khổ sở, mất hết nhân tính, phải sống cô độc trong mồ mả và trên núi đồi, tự làm hại bản thân bằng cách tru tréo và lấy đá đập vào mình…

- Thủ đoạn thứ hai: Xúi dục con người chống lại Thiên Chúa.

Ngay sau khi bị Chúa Giêsu trục xuất ra khỏi người bị nó ám hại, thì tứ khắc ma quỷ  quay sang cám dỗ về lòng tham mê của cải nơi con người. Chính lòng say mê của cải mà dân trong vùng ấy chống lại Chúa Giêsu, bằng cách xin Ngài rời khỏi vùng đất của họ. Bởi lẽ họ sợ rằng hôm nay thiệt hại đàn heo, tiếp theo ngày mai sẽ mất đi tài sản quý giá gì nữa? Vì vậy, họ quyết tâm xua đuổi Chúa Giêsu ra xa họ.

Ngày nay có lẽ ma quỷ ít khi trực tiếp nhập vào con người, làm cho họ phải điêu đứng khổ sở như ngày xưa. Nhưng chúng thường bày ra muôn ngàn cách để lôi kéo con người chống lại Thiên Chúa. Thúc đẩy con người hành động đến mất cả nhân tính như: giết người cướp của; tự do đồng tình luyến ái; nghiện ngập rượu chè, xì ke ma túy, hoang dâm… 

Hoặc có khi nó cám dỗ con người bằng những hình thức nhẹ nhàng, tưởng chừng như vô hại, nhưng nếu không tỉnh thức con người sẽ dễ dàng sập vào bẫy nó giăng. 

Chuyện dân gian kể rằng: có một người đàn ông nọ bị quỷ hiện lên chận đường. Quỷ bắt anh ta phải làm một trong ba điều sau đây: một là uống rượu thật say, hai là đốt nhà của mình, ba là giết chết vợ mình. Quá hoảng sợ, người đàn ông đành chọn uống rượu thật say, vì anh ta cho đó là việc làm ít nguy hại nhất. Nào ngờ, khi say rượu, anh ta mất hết lý trí nên nổi lửa đốt nhà mình. Bà vợ can ngăn, anh ta điên tiết giết luôn vợ mình. Rốt cuộc là anh ta đã làm cả ba việc mà tên quỷ đề ra.

Thủ đoạn của ma qủy là vô biên nếu không đề cao cảnh giác chúng ta sẽ dễ buông mình theo những lý lẽ xem ra rất hợp lý của chúng, tựa như câu chuyện sau:

Một tu sĩ kia rất có lòng đạo đức, ngày nào ông cũng thức dậy lúc 5 giờ sáng để đọc kinh thờ phượng Chúa. Xảy ra là có một hôm ông ngủ quên, thấy vậy, tướng quỷ Sa-tan đến đánh thức ông. Khi biết kẻ đánh thức mình là Sa-tan, tu sĩ tỏ dấu thắc mắc, ma quỷ liền nói với ông: “Tôi là ai, điều đó không quan trọng, việc tôi đánh thức ông là một điều tốt. Ông thấy không, ai làm việc lành đều là người tốt cả. Vậy tôi cũng là một người tốt”. Tu sĩ đáp: “Không bao giờ ma quỷ lại làm điều lành, vậy nhân danh Thiên Chúa, mi phải nói rõ vì lý do nào mi đánh thức ta?“ Bấy giờ ma quỷ buộc lòng phải nói thật: “Nếu ngày nào ông ngủ quên không đọc kinh sáng, thì khi thức dậy ông sẽ cảm thấy hối hận, khiêm tốn và quyết tâm sống đạo đức hơn. Còn ngày nào ông thức dậy sớm đọc kinh sáng, thì ông sẽ nghĩ mình đạo đức và không quyết tâm làm các việc lành khác”. Nói xong nó biến mất.

Để chống lại mưu mô của quỷ dữ, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta không ngừng chay tịnh, cầu nguyện nhất là sống theo Lời Chúa chỉ dạy.

Xin cho chúng ta biết chay tịnh cỏi lòng, chuyên chăm cầu nguyện. Nhất là biết dùng  Lời Chúa như là kim chỉ nam định hướng cuộc sống chúng ta.

 

 Thứ ba: 2Sm 18,9-10.14b.24-25a.30-19,3; Mc 5,21-13

Suy niệm 1:

Tình thương cứu độ của Chúa là phổ quát dành cho hết mọi người, không phân biệt màu da, chủng tộc hay tôn giáo. Tuy nhiên để đón nhận được tình thương và ơn cứu độ của Chúa đòi hỏi con người phải có đức tin.

Tin Mừng hôm nay thuật lại hai phép lạ của Chúa Giêsu: cứu sống con gái của vị thủ lãnh và chữa lành người đàn bà bị băng huyết 12 năm, nhờ lòng tin mạnh mẻ của họ.

Đức tin chính là thần dược chữa lành mọi bệnh tật con người.

Nhờ tin mà cô con gái vị thủ lãnh và người đàn bà bị băng huyết 12 năm được cứu chữa.

Đức Tin đem đến cho con người niềm hy vọng.

Hy vọng vào Chúa, nên vị thủ lãnh và người đàn bà bị băng huyết 12 năm đã không ngần ngại ra đi tìm đến và đụng chạm vào gấu áo của Chúa Giêsu. 

Hy vọng nơi Chúa, ông thủ lãnh đã không ngần ngại sấp mình nài nỉ xin Chúa đến cứu sống con gái ông. 

Nhờ lòng tin công khai và mạnh mẽ của viên thủ lãnh mà cô con gái ông được Chúa cứu sống.

Nhờ lòng tin chân thành, đơn sơ và kín đáo mà người đàn bà bị băng huyết 12 năm dài được Chúa chữa lành.

Tin chính là đặt hết niềm hy vọng" vào", "nơi" và "ở "Chúa. Trao cho Chúa mọi lắng lo, khốn khổ.

Con cái là món quà quý giá và là kho báu vô tận. Trong mắt cha mẹ.Con cái là tất cả. Mất con cái là mất tất cả.  Nhưng chính lúc xem ra mất tất cả đó, viên thủ lãnh đã có được niềm tin.

Bệnh tật luôn là nổi ám ảnh của con người. Bởi lẽ bệnh tật làm cho con người trở nên đau khổ, chan nản và tuyệt vọng. Nhưng chính lúc đau khổ và tuyệt vọng ấy, người đàn bà đã có được niềm tin âm thầm nhưng mạnh mẻ.

Chúng ta cũng vậy, niềm tin của chúng ta cần được trui rèn, để sau những thử thách đau thương, đức tin chúng ta được vững mạnh hơn. Không nhất thiết là được ơn, được phép lạ như người cha; hay như người đàn bà bị bệnh băng huyết trong bài tin mừng hôm nay. Điều quan trọng là trong mọi biến cố, chúng ta cần nhìn về phía bên kia điều Chúa muốn, để vững tin vào Chúa. Nhờ thế mà chính ta và những người chung quanh ta có thêm lòng tin cũng như gia tăng lòng cậy trông nơi Chúa.

Trên hành trình bước theo Chúa, niềm tin của chúng ta cũng phải đối diện với bao là thử thách. Xin cho chúng ta luôn kiên vững niềm tin vào Chúa và mạnh mẻ thể hiện niềm tin của mình như viên thủ lãnh và người đàn bà bị băng huyết.

Trong cuộc sống, chúng ta xin ơn Chúa rất nhiều, nhưng lại quên xin ơn rất quan trọng là ơn "Đức Tin". Chắc chắn đức tin chúng ta vẫn còn yếu kém. Chúng ta hãy tha thiết xin Chúa gia tăng Đức Tin cho chúng ta.

 

Suy niệm 2:

Lời Chúa hôm nay đặt trước mắt chúng ta hai khung cảnh đầy nước mắt: một người cha khóc con là vua Đavít, và một người cha van xin cho con là ông Giairô. Hai câu chuyện, hai hoàn cảnh, nhưng chung một điều: trái tim của người cha và nỗi đau trước sự chết.

1. Nỗi đau của vua Đavít – tình yêu pha lẫn yếu đuối

Absalom, đứa con phản nghịch đã nổi loạn chống lại chính vua cha. Thế nhưng khi nghe tin Absalom chết, Đavít không vui mừng vì kẻ phản loạn bị tiêu diệt, nhưng ông gào lên: “Absalom con ơi! Phải chi cha chết thay cho con!”

Đó là tiếng khóc của một người cha. Tình yêu phụ tử vượt lên trên lỗi lầm của đứa con. Nhưng nỗi đau ấy cũng cho thấy một bi kịch: Đavít yêu con, nhưng cách ông sống và cai trị trước đó (câu chuyện với Batseba, gia đình xáo trộn…) đã góp phần dẫn đến đổ vỡ. Tình yêu có đó, nhưng sự khôn ngoan và trách nhiệm đôi khi lại thiếu.

Câu chuyện nhắc chúng ta: Yêu thôi chưa đủ mà còn cần sống công chính và có trách nhiệm để không gieo những hậu quả đau thương cho thế hệ sau.

2. Đức Giêsu – Đấng chiến thắng sự chết

Tin Mừng kể hai phép lạ lồng vào nhau:

- Người phụ nữ băng huyết 12 năm

- Con gái ông Giairô 12 tuổi đã chết

Con số “12 năm” như nói đến một cuộc sống bị bào mòn, hy vọng cạn dần. Một người thì “hết tiền mà không hết bệnh”, một gia đình thì “hết hy vọng vì con đã chết”. Nhưng giữa sự tuyệt vọng ấy, có một điều chung là họ đều “tin”.

Người phụ nữ chỉ dám chạm nhẹ vào áo Đức Giêsu.

Ông Giairô nghe lời Chúa nói: “Đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”

Và kết quả:

- Người phụ nữ được chữa lành.

- Bé gái được trỗi dậy với lời đầy dịu dàng: “Talitha kum”-Này bé, Thầy truyền cho con: hãy trỗi dậy.”

Nếu Đavít bất lực trước cái chết của con, thì Đức Giêsu lại có quyền trên sự chết. Ngài không chỉ khóc thương mà Ngài ban sự sống.

3. Từ nỗi đau đến niềm hy vọng

Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta ba điều:

- Thứ nhất: Thiên Chúa hiểu nỗi đau của con người. Ngài không xa lạ với nước mắt của cha mẹ, của gia đình.

- Thứ hai: Đừng tuyệt vọng trước “những cái chết” trong đời mình. Đó có thể là:

- một mối tương quan nguội lạnh

- một đời sống thiêng liêng khô khan

- một hy vọng tưởng như tắt lịm

Chúa vẫn nói: “Đừng sợ, chỉ cần tin.”

- Thứ ba: Đức tin không cần ồn ào.

Chỉ một cái chạm nhẹ cũng đủ.

Chỉ một lời tín thác cũng đủ.

Chỉ một bước tiến về phía Chúa cũng đủ để sự sống bắt đầu lại.

Anh chịm thân mến,

Có những lúc chúng ta giống vua Đavít, yêu thương nhưng bất lực,
và có những lúc chúng ta cũng giống như ông Giairô, run rẩy giữa tuyệt vọng.

Xin Chúa cho chúng ta biết tin vào quyền năng của Chúa, tin rằng không có “cái chết” nào lớn hơn tình yêu của Ngài.

Xin hãy chạm vào những phần đang nguội lạnh trong tâm hồn chúng con, và nói với chúng con mỗi ngày: “Hãy trỗi dậy.” Amen.


 Thứ tư: 2Sm 24,2.9-17; Mc 6,1-6; Mc 6,1-6

Suy niệm 1:

Sau một thời gian thi hành sứ mạng loan báo Tin Mừng, Chúa Giêsu gây được nhiều tiếng vang và được đông đảo dân chúng đó đây ngưỡng mộ về giáo lý và những phép lạ Ngài làm.

Hôm nay khi trở về quê hương xứ sở để thi hành sứ vụ, thì Chúa Giêsu lại bị những người đồng hương Nazareth khướt từ và đối xử tệ bạt. Đâu là nguyên nhân dẫn đến thái độ loại trừ và cách hành xử tệ bạt như thế của dân làng Nazareth?

Xét cho cùng cũng bởi hai chữ “tại vì”.

-  Tại vì Chúa Giêsu không có bằng cấp cử nhân, tiến sĩ trong tay nên khi hành nghề giảng dạy thánh kinh, Giáo lý, hay giáo luật…nên đã bị làng Nazareth xem thường và phản đối. Phải chi Chúa Giêsu giảng dạy về kỷ thuật đóng bàn ghế, cất nhà… thì còn dễ chấp nhận.

- Tại vì Chúa Giêsu sinh ra và lớn lên trong một gia đình quá nghèo. Con của bác thợ mộc Giuse và cô Maria quê mùa, không nghề nghiệp trong tay, không của hồi môn nên làm sao có của dư của để. Gía như Chúa Giêsu là con của một đại gia, thì đâu nổi bị dân làng xúc phạm.

- Tại vì Chúa Giêsu không có bà con thân thuộc làm chức cao quyền trọng nên làm sao được ngưỡng mộ. Bà con họ hàng của Ngài chỉ là những người chân lấm tay bùn. Chẳng có ai giàu sang quyền quý. Gía như Chúa Giêsu là con ông cháu cha (CÔCC), thì tiếng vỗ tay, tét đùi tán thưởng của dân làng Nazareth sẽ vang dậy không ngừng trước những lời hay ý đẹp được thốt ra từ miệng Ngài hôm ấy rồi!

Tắt một lời, “tại vì” họ biết rất rõ về lý lịch trích ngang của Chúa Giêsu, một lý lịch được xếp vào “hạng tồi”.  Nên không lạ gì họ chối từ, không tin nhận Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế.

Ngày nay Chúa Giêsu vẫn tiếp tục bị coi thường, hất hủi, loại trừ nơi những người nghèo khổ, bệnh hoạn tật nguyền; nơi những người thấp cổ bé miệng, không có địa vị gì trong xã hội. Đặc biệt là trong thời đại toàn cầu hóa hôm nay, khi mà mọi thứ đều được đánh giá dựa trên đồng tiền, trên tiện nghi vật chất, thì Chúa Giêsu nơi những người nghèo hèn vẫn còn bị coi rẻ.

Khi mà người ta quá coi trọng địa vị bằng cấp, thì Chúa Giêsu nơi những người kém cõi ít học vẫn bị khinh thường.

Khi mà xã hội quá đề cao thân thế chức quyền, thì Chúa Giêsu nơi những người cô thân cô thế vẫn còn bị hất hủi chà đạp.

Đâu là những tiêu chuẩn tôi thường dựa vào để đánh giá người khác? Tôi có thường bị óc thành kiến, ác cảm chi phối mà đánh giá người khác một cách bất công không? Thái độ của tôi thế nào đối với những người nghèo khổ bệnh tật bất hạnh?

Ước gì Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta gạt bỏ cái nhìn hẹp hòi và trần tục, để mặc lấy cái nhìn đức tin, cái nhìn siêu nhiên: cái nhìn giúp ta nhận ra Chúa Kitô nơi những nghèo khổ, thấp hèn, bệnh tật, khổ đau… để biết tôn trọng và đón nhận họ như đón nhận chính Chúa. Amen.

 

Suy niệm 2:

Hai bài đọc hôm nay cho chúng ta thấy hai thái độ trái ngược: một bên là tự mãn và cứng lòng, một bên là khiêm tốn và sám hối.

1. Vua Đavít: Sai lầm vì cậy dựa vào sức mình

Trong bài đọc I, vua Đavít truyền kiểm tra dân số. Xem ra đó chỉ là một việc hành chính bình thường. Nhưng đằng sau hành động ấy là một tâm lý nguy hiểm: muốn biết mình mạnh đến đâu, muốn đo lường sức mạnh quân sự để tự tin vào quyền lực của mình.

Thiên Chúa không vui khi con người đặt niềm tin nơi số lượng, thế lực hay thành công của mình thay vì tin vào Ngài. Sau khi kiểm tra dân số, Đavít chợt tỉnh ngộ: “Con đã phạm tội nặng nề.” Ông nhận ra mình đã cậy dựa vào sức riêng.

Điều đáng quý nơi Đavít không phải là ông không sai lầm, mà là ông biết nhận lỗi và phó thác: “Con xin rơi vào tay Đức Chúa, vì lòng thương xót của Người thật lớn lao.”

Sai lầm có thể xảy ra với bất cứ ai, kể cả người được Chúa chọn. Nhưng điều quyết định là có dám khiêm tốn sám hối hay không.

2. Người Nazareth: Cứng lòng vì quá quen

Tin Mừng kể lại việc Chúa Giêsu trở về quê hương. Người giảng dạy khôn ngoan, làm nhiều phép lạ. Nhưng dân làng lại nói: “Ông này không phải là bác thợ mộc sao?”

Họ biết rõ thân thế của Người. Chính sự quen thuộc ấy làm họ khép lòng. Họ không chấp nhận một Đấng Cứu Thế “bình thường” như vậy.

Và Tin Mừng ghi một câu thật buồn: “Người không thể làm phép lạ nào tại đó… vì họ không tin.”

Không phải vì Chúa bất lực, nhưng vì lòng họ khép kín. Đức tin là cửa ngõ để ân sủng hoạt động. Khi con tim đóng lại, phép lạ cũng dừng lại.

3. Bài học cho chúng ta

Hai câu chuyện gợi cho chúng ta hai nguy cơ:

- Cậy dựa vào sức mình như Đavít lúc đầu.

- Coi thường điều quen thuộc như dân Nazareth.

Đôi khi chúng ta cũng thế. Ta quen Thánh lễ, quen Lời Chúa, quen các bí tích… đến mức không còn cảm nhận được sự linh thánh nữa. Ta có thể làm nhiều việc mục vụ, có nhiều thành công, nhưng lại quên rằng tất cả là hồng ân Chúa.

Vì thế lời Chúa hôm nay nhắc nhở ta:

- Khi thành công, hãy nhớ: mọi sự đến từ Chúa.

- Khi sai lỗi, hãy khiêm tốn sám hối như Đavít.

- Khi nghe Lời Chúa, đừng để sự quen thuộc làm ta dửng dưng.

Xin Chúa cho chúng ta một con tim biết tin tưởng khiêm tốn, để quyền năng và lòng thương xót của Người có thể hoạt động nơi cuộc đời mình.


Thứ năm: 1V 2,1-4.10-12; Mc 6,7-13

Nhớ Thánh A-ga-ta, trinh nữ, tử đạo.

Suy niệm 1:

Để thực hiện sứ mạng giải thoát con người khỏi những đau khổ về thể xác và tinh thần do trói buộc bởi ma quỷ, một mình Đức Giêsu là đủ, vì Ngài là Thiên Chúa quyền năng. Tuy nhiên, Chúa Giêsu lại không dùng cách thế đó. Trái lại Chúa mời gọi chúng ta cộng tác.

Cụ thể bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu chọn gọi 12 tông đồ, ban quyền trừ quỷ cho các ông và sai các ông từng hai người một đi rao giảng Tin Mừng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối.

Khi lãnh nhận bí tích rửa tội và thêm sức là chúng ta đã lãnh nhận quyền năng của Chúa và được mời gọi để chia sẻ sứ mạng loan báo Tin Mừng.

Sứ mạng thì to lớn nhưng phận người lại bé nhỏ. Thế nên, Chúa Giêsu ý thức chúng ta hãy cậy trông vào Chúa.

- Cậy trông vào Chúa, ta dễ sống tinh thần khó nghèo, sẵn sàng ra đi bất cứ nơi nào Chúa muốn. Cho dù bản thân không gạo, không tiền, không bao bị, không có đến hai áo.

- Cậy trông vào Chúa, ta dễ dàng sống siêu thoát, bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Sẵn sàng đến và sẵn sàng ra đi mà không hề vương vấn, tiếc nối vì “tiền” và “tình”.

- Cậy trông vào Chúa, ta sẽ không kiêu căng tự mãn nhưng biết khiêm tốn đón nhận và hợp tác làm việc với anh em trong nhiệm cao quý là loan báo tin mừng.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con có được tinh thần khó nghèo đểcảm nhận được những thiếu thốn của tha nhân và đồng cảm với những cảnh đời bất hạnh.

Xin gìn giữ chúng con khỏi những ma lực của đồng tiền, những quyến rũ của vật chất, để trung thành và can đảm rao giảng sứ điệp ăn năn sám hối mà Chúa truyền dạy.

Xin cho chúng con biết khiêm tốn đón nhận và hợp tác tích cực với anh em trong việc truyền giáo, nhằm làm lành mạnh hóa đời sống các tâm hồn, ngõ hầu đẩy lùi sự dữ và khử trừ sự ô uế ra khỏi môi trường chúng con đang sống.

 

Suy niệm 2:

Lời Chúa hôm nay gợi lên hai hình ảnh: một vị vua sắp lìa đời và một vị Thầy sai các môn đệ lên đường. Cả hai đều hướng đến sự trung thành.

1. Trong bài đọc I, vua Đavít trước khi qua đời đã căn dặn Salômôn: “Con hãy mạnh mẽ, tỏ ra là người nam nhi. Hãy giữ mệnh lệnh của Đức Chúa… mà bước đi trong đường lối của Người.”

Điều Đavít để lại cho Salomon không phải là của cải hay quyền lực, nhưng là gia tài đức tin: lòng trung thành với Lề Luật Chúa. Vương quyền chỉ bền vững khi đặt nền trên sự vâng phục Thiên Chúa. Nếu xa rời đường lối Chúa, ngai vàng cũng sẽ lung lay.

Lời trăn trối ấy không chỉ dành cho Salômôn, mà cho mỗi chúng ta. Trước bao thay đổi của cuộc đời, điều giữ ta đứng vững không phải là khả năng hay địa vị, nhưng là sự gắn bó với Chúa.

2. Bài Tin Mừng cho thấy sai Nhóm Mười Hai đi rao giảng, Đức Giêsu trao cho các ông quyền trừ quỷ, chữa lành, nhưng đồng thời lại căn dặn:

- Không mang theo gì cho cuộc hành trình,

- Không hai áo,

- Không dựa vào tiền bạc hay bảo đảm vật chất.

Các môn đệ được sai đi với hai hành trang: quyền năng của Chúa và lòng tín thác. Họ phải sống nghèo, đơn sơ, phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa.

Điều đáng chú ý là: thành công của sứ vụ không hệ tại ở sự chuẩn bị bên ngoài, mà ở sự trung thành với Đấng sai mình. Khi họ vâng lời, “các ông đã ra đi rao giảng… trừ nhiều quỷ và chữa lành nhiều bệnh nhân.”

3. Hôm nay Giáo Hội kính nhớ Thánh A-ga-ta, một thiếu nữ trẻ trung nhưng kiên vững trong đức tin. Bị bắt bớ, tra tấn vì không chối bỏ Chúa Kitô, ngài vẫn trung thành cho đến chết.

Thánh nữ không có vũ khí, không có quyền lực, nhưng có một kho tàng lớn lao: lòng yêu mến Đức Kitô. Chính sự trung thành ấy đã làm nên chiến thắng của ngài.

Ngài sống đúng tinh thần Tin Mừng hôm nay: không bám víu vào điều gì ngoài Chúa, và sẵn sàng mất tất cả để giữ trọn niềm tin.

4.  Là linh mục, tu sĩ hay giáo dân, chúng ta cũng được sai đi mỗi ngày: trong gia đình, giáo xứ, xã hội.

- Ta có trung thành với lời Chúa trong những chọn lựa nhỏ bé hằng ngày không?

- Ta có dám sống đơn sơ, tín thác, hay vẫn tìm những bảo đảm trần thế?

- Khi gặp thử thách, ta có giữ vững đức tin như Thánh A-ga-ta?

Giữa một thế giới đề cao tiện nghi và quyền lực, Lời Chúa mời gọi ta sống khác: mạnh mẽ trong đức tin, nghèo khó trong tâm hồn, và trung thành đến cùng.

Xin Chúa cho chúng ta biết gìn giữ gia tài đức tin như Đavít nhắn nhủ, biết lên đường với tâm hồn phó thác như các Tông đồ, và biết yêu mến Chúa cách kiên trung như Thánh A-ga-ta. Amen.


Thứ sáu: Hc 47,2-11; Mc 6,14-29

Nhớ Thánh Phao-Lô Mi-ki và các bạn, tử đạo

Suy niệm 1:

Cái chết anh dũng của Gioan Tẩy Gỉa được Tin Mừng trình thuật hôm nay, cho thấy lòng người còn nhiều góc tối.

- Góc tối của đam mê dục vọng:  Đắm chìm trong dục vọng, vua Hêrôđê đã xem thường đạo lý luân thường nên đã cướp đi người vợ của anh mình. Đắm chìm trong đam mê, nhà vua chỉ còn biết buông mình theo những thú vui thấp hèn trong những tiệc tùng náo nhiệt, đầy rượu và thịt.

- Góc tối của hận thù ghen ghét: Không chịu nổi lời nhắc nhở của Gioan Tẩy Gỉa trước hành động vô luân của mình, bà Hêrôdia đã căm thù Gioan Tẩy Gỉa đến tận xương tủy. Nên khi cơ hội đến, bà lập tức mách bảo con gái xin vua cha cái đầu Gioan Tẩy Giả thay cho nửa giang sơn.

- Góc tối của nhác đảm sợ hãi: “Vẫn biết Gioan Tẩy Gỉa là người công chính thánh thiện; vua che chở ông. Khi nghe Gioan nói, nhà vua rất phân vân nhưng lại cứ thích nghe. Nhưng rồi lại không can đảm làm theo tiếng lương tâm của mình”. Vì sợ tiếng nói lương tâm, sợ nghe những lời chân lý, sợ mất uy tín với lời hứa bồng bột trước bá quan văn võ trong lúc ngà ngà… nên nhà vua đã đi đến quyết định ngông cuồng là ra lệnh chém đầu Gioan Tẩy Gỉa. 

- Góc tối của ngây ngô dại khờ: Salômê một cô con gái có tài mà không có đức. Cô đã dùng tài múa nhảy của mình thay vì phục vụ niềm vui và hạnh phúc cho đời cho người. Trái lại với sự ngây ngô dại khờ của mình, tài năng của cô đã bị lợi dụng để phục vụ cho văn hóa sự chết.

Xin cho ánh sáng chân lý của Chúa chiếu giãi vào mọi ngõ ngách của lòng người, hầu xua tan những góc tối nguy hại đang còn ẩn nấp đâu đó nơi cỏi lòng con người hôm nay.

Xin cho chúng ta dám can đảm sống và làm chứng cho ánh chân lý như Gioan Tẩy Gỉa dầu phải hy sinh mạng sống, để bảo vệ cho đạo lý luân thường và làm chứng cho nền văn hóa tình thương.

 

Suy niệm 2:

Lời Chúa hôm nay đặt trước mặt chúng ta hai hình ảnh tương phản: vua Đavít, người được Thiên Chúa yêu thương dù yếu đuối; và vua Hêrôđê, người có quyền lực nhưng lại yếu đuối trước đam mê và sĩ diện.

1. Đavít-con người yếu đuối nhưng biết thống hối

Sách Huấn Ca ca ngợi Đavít như vị vua anh hùng: đánh bại Gôliát, quy tụ dân tộc, sáng tác thánh vịnh chúc tụng Chúa. Nhưng điều làm Đavít vĩ đại không chỉ là chiến công, mà là tấm lòng biết quay về. Ông từng phạm tội nặng nề, nhưng đã khiêm tốn sám hối và phó thác nơi lòng thương xót Chúa.

Thiên Chúa không chọn Đavít vì ông hoàn hảo, mà vì ông có trái tim biết lắng nghe và biết trở về.

2. Hêrôđê-quyền lực nhưng thiếu bản lĩnh

Ngược lại, Tin Mừng kể câu chuyện đau lòng về cái chết của Gioan Tẩy Giả. Hêrôđê biết Gioan là người công chính. Ông kính nể và thích nghe Gioan giảng. Thế nhưng, chỉ vì một lời hứa bốc đồng trước mặt quan khách, vì sĩ diện và dục vọng, ông đã ra lệnh chém đầu Gioan.

Hêrôđê không hẳn là người xấu từ đầu. Ông có lúc rung động trước sự thật. Nhưng ông thiếu can đảm để bảo vệ điều đúng. Ông sợ mất thể diện hơn là sợ làm điều ác.

Bi kịch của Hêrôđê là nghe Lời Chúa nhưng không dám sống theo Lời Chúa.

3. Hai con đường-một chọn lựa

Đavít và Hêrôđê đều là những người có quyền lực. Một người trở thành vị vua theo lòng Chúa; người kia trở thành kẻ nhu nhược trước tội lỗi.

Sự khác biệt không nằm ở hoàn cảnh, mà ở thái độ nội tâm:

- Đavít khi sai thì biết sám hối.

- Hêrôđê biết điều đúng nhưng không dám làm.

Trong đời sống hôm nay, chúng ta có thể giống Đavít khi biết khiêm tốn nhận lỗi, hoặc giống Hêrôđê khi để lòng mình bị chi phối bởi sĩ diện, đam mê, dư luận.

Có khi chúng ta cũng “thích nghe” Lời Chúa, nhưng lại ngại thay đổi. Có khi chúng ta biết điều gì là đúng trong gia đình, họ đạo, cộng đoàn… nhưng lại chọn im lặng vì sợ mất lòng, sợ phiền phức.

4. Sống trung thành giữa thử thách

Gioan Tẩy Giả là chứng nhân của sự thật. Ngài chấp nhận mất mạng chứ không đánh mất chân lý. Cái chết của Gioan nhắc ta rằng: sống theo sự thật có thể phải trả giá, nhưng đó là con đường dẫn đến sự sống đời đời.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta:

- Hãy có trái tim thống hối như Đavít.

- Hãy có can đảm sống sự thật như Gioan.

- Đừng trở thành Hêrôđê – nghe điều tốt nhưng không dám làm điều tốt.

Xin Chúa cho chúng ta đừng chỉ xúc động trước Lời Chúa, nhưng biết biến Lời ấy thành hành động cụ thể trong đời sống hằng ngày. Amen.


Suy niệm 3:

Lời Chúa hôm nay gợi lên hai khuôn mặt đặc biệt: 

1. Vua Đavít, được ca tụng về lòng trung thành và tài năng; 

2. Gioan Tẩy Giả, vị ngôn sứ anh dũng nói lên sự thật dẫu cho đầu rơi máu đỗ.

Hai con người, hai hoàn cảnh khác nhau, nhưng cùng gặp nhau ở một điểm: can đảm sống trọn vẹn cho Thiên Chúa.

- Bài đọc sách Huấn Ca ca ngợi Đavít như người anh hùng của dân tộc. Ông chiến thắng quân thù, đàn hát chúc tụng Chúa, tổ chức phụng tự và làm rạng danh Thiên Chúa giữa dân Israel. Điều làm nên sự vĩ đại của Đavít không chỉ là chiến công, mà là trái tim biết yêu mến và tôn vinh Thiên Chúa. Dù có những yếu đuối, ông vẫn biết thống hối và trở về. Vì thế, đời ông trở thành bài ca ngợi khen Thiên Chúa.

- Bài Tin Mừng lại kể một câu chuyện buồn: cái chết của Gioan Tẩy Giả. Gioan không làm phép lạ, không cầm gươm giáo, chỉ có một “vũ khí” duy nhất là sự thật. Ông dám nói với vua Hêrôđê: “Ngài không được phép lấy vợ của anh mình.” Lời nói ấy khiến ông phải vào tù và cuối cùng mất mạng. Một bữa tiệc linh đình, một điệu múa làm vui lòng nhà vua, một lời hứa bốc đồng… và cái đầu của vị ngôn sứ trở thành món quà trên mâm.

Thật chua xót: giữa tiếng nhạc và rượu chè, sự thật bị bóp nghẹt; giữa ánh đèn cung điện, một chứng nhân ánh sáng bị dập tắt. Nhưng thực ra, ai mới là người chiến thắng? Hêrôđê tuy nắm quyền sinh sát, nhưng sống trong dằn vặt và sợ hãi. Còn Gioan, dù bị chém đầu, vẫn đứng vững trong chân lý. Ông mất mạng sống, nhưng giữ được linh hồn.

- Hôm nay, Giáo Hội còn nhắc đến Thánh Phaolô Miki và các bạn tử đạo Nhật Bản. Các ngài cũng như Gioan Tẩy Giả: không thỏa hiệp, không chối Chúa, dù phải chịu đóng đinh và hành hình cách tàn khốc. Các ngài chọn trung thành thay vì an toàn.

Lời Chúa mời gọi chúng ta nhìn lại đời mình. Trong cuộc sống hằng ngày, nhiều khi chúng ta không bị đe dọa bằng gươm giáo, nhưng bị cám dỗ bằng sự thỏa hiệp: thỏa hiệp với gian dối, với bất công, với những điều sai trái chỉ để được yên thân. Chúng ta có dám nói và sống sự thật như Gioan không? Hay chúng ta chọn im lặng vì sợ mất lòng, sợ thiệt thòi?

Gioan Tẩy Giả nhắc chúng ta rằng: làm môn đệ Đức Kitô không chỉ là nghe Lời Chúa, mà còn là sống và bảo vệ sự thật, dù phải trả giá. Đavít dạy ta biết ca tụng Chúa bằng cả đời sống. Các thánh tử đạo dạy ta trung thành đến cùng.

Xin Chúa cho chúng ta một trái tim yêu mến Chúa như Đavít, một lòng can đảm bảo vệ chân lý như Gioan, và một đức tin kiên vững như Thánh Phaolô Miki và các bạn. Để giữa thế gian nhiều thỏa hiệp, chúng ta vẫn là chứng nhân trung thành của Tin Mừng.


Thứ bảy: 1V 3,4-13;  Mc 6,30-34

Suy niệm 1:

Ðức thánh giáo hoàng Gioan Phao-lô II khẳng định: “Lòng Thương Xót là tên gọi thứ hai của tình thương". (Thông điệp Thiên Chúa giàu lòng thương xót, số 7). 

Đức Giêsu là hiện thân của Thiên Chúa làm người. Vì thế Ngài chính là hiện thân của Lòng Thương Xót Thiên Chúa. Lòng Thương Xót đó được Chúa Giêsu thể hiện cách cụ qua bài Tin Mừng hôm nay, bằng cách:

- Quan tâm đến các tông đồ: Sau cuộc hành trình truyền giáo vất vả, các Tông đồ trở về lòng đầy hứng khởi, thuật lại cho Chúa Giêsu nghe những thành quả vàng son mà các ông đã gặt hái được. 

Ngoài việc lắng nghe và đồng cảm với những thành quả ấy của các môn đệ, Chúa Giêsu còn nhìn thấy điều cần thiết và quan trọng hơn đối với các tông đồ ở đây lúc này, đó là nghỉ ngơi.

Nghỉ ngơi để lấy lại sức, để nhìn lại những việc đã làm, để sống thân tình với Chúa và với nhau… Đây là nhu cầu chính đáng và rất bổ ích nhằm quân bình lại cuộc sống. Nên Ngài khuyên các ông: “Các con hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một chút.” (Mc 6,31). Với sự quan tâm này cho biết: Chúa Giêsu coi trọng con người hơn công việc.

- Quan tâm đến dân chúng: Mặc dù Đức Giêsu muốn cùng các Tông đồ đã tách biệt khỏi đám đông ồn ào, tìm nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi đôi chút. Nhưng khi thấy dân chúng tấp nập tuôn đến, “Ngài chạnh lòng thương vì họ đang bơ vơ như đàn chiên không có người chăn”. Ngài quên cả mệt nhọc, sẵn sàng hy sinh thời giờ nghỉ ngơi để ban phát lời hằng sống cũng như đáp ứng những nhu cầu chính đáng của họ. Hành động này cho biết: Đức Giêsu không nghĩ đến mình, Ngài chỉ quan tâm đến người khác.

Mỗi người chúng ta có đời sống riêng tư, được sắp xếp theo ngăn nắp, hợp lý, chúng ta có quyền bảo vệ sự quân bình ấy, nhưng nếu đôi lúc cần phải hy sinh cái lợi ích riêng tư ấy vì lợi ích và hạnh phúc của người khác, chúng ta hãy coi đó là một cơ hội và là ân ban của Chúa để sẵn sàng đáp ứng với tấm lòng thương xót như Chúa đã thương xót ta.

Xin Chúa cho chúng ta có được cái nhìn của Chúa, để chúng ta nhận ra những nhu cầu cần thiết nơi tha nhân. Và xin cho chúng ta có được tấm lòng thương xót như Chúa để chúng ta không cảm thấy mệt nhọc khi hy sinh phục vụ hạnh phúc cho con người.

 

Suy niệm 2:

Hôm nay Lời Chúa cho chúng ta chiêm ngắm hai hình ảnh thật đẹp: một vị vua trẻ quỳ gối xin ơn khôn ngoan, và một vị Mục Tử chạnh lòng thương đoàn chiên bơ vơ.

1. Trong bài đọc I, vua Salômôn đứng trước một cơ hội hiếm có: Thiên Chúa bảo ông cứ xin điều ông muốn. Đó là một lời mời gọi vừa hấp dẫn vừa thử thách. Ông có thể xin quyền lực, tiền bạc, chiến thắng quân thù, hay sống lâu… Nhưng Salômôn chỉ xin một điều: “Xin ban cho tôi tớ Chúa một tâm hồn biết lắng nghe để cai trị dân Chúa và phân biệt phải trái.”

Ông không xin cho mình, nhưng xin để phục vụ. Ông không xin hưởng thụ, nhưng xin biết phân định. Và Thiên Chúa hài lòng vì lời cầu xin ấy.

Điều này đặt ra cho chúng ta một câu hỏi rất thật:
Nếu hôm nay Chúa bảo: “Con cứ xin điều con muốn”, tôi sẽ xin gì?

Nhiều khi trong đời sống đức tin, ta cầu xin đủ điều: sức khỏe, công việc, bình an, thành công… Những điều đó không sai. Nhưng Lời Chúa nhắc ta nhớ: điều quan trọng nhất là một tâm hồn biết lắng nghe – lắng nghe Chúa, lắng nghe anh chị em, và lắng nghe tiếng lương tâm.

Không có sự khôn ngoan của Thiên Chúa, ta dễ quyết định theo cảm tính, theo dư luận, hoặc theo lợi ích riêng. Nhưng có một tâm hồn biết lắng nghe, ta sẽ biết chọn điều đẹp lòng Chúa.

2. Bài Tin Mừng kể rằng các Tông đồ trở về sau chuyến đi truyền giáo đầu tiên. Các ông háo hức kể cho Thầy nghe mọi việc mình đã làm. Đức Giêsu quan tâm đến các ông, mời các ông vào nơi vắng vẻ để nghỉ ngơi. Nhưng khi vừa đến nơi, đã thấy đám đông chờ sẵn. Theo lẽ thường, Thầy trò có thể cảm thấy phiền toái. Thế nhưng Tin Mừng nói một câu rất cảm động: “Người chạnh lòng thương họ, vì họ như bầy chiên không người chăn.”

Chúa không chỉ nhìn thấy đám đông; Người nhìn thấy nỗi khát khao và sự bơ vơ của họ. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều.

Ở đây, chúng ta thấy một điểm gặp gỡ sâu xa giữa hai bài đọc: Salômôn xin một tâm hồn biết lắng nghe để cai trị dân; còn Đức Giêsu chính là vị Mục Tử hoàn hảo – Người lắng nghe, cảm thông và dẫn dắt dân bằng tình thương.

Khôn ngoan đích thực không phải là thông minh lanh lợi, mà là một trái tim biết rung động trước nỗi đau của người khác.

3. Trong đời sống hằng ngày, chúng ta cũng được trao những “quyền lực” nhỏ bé:

- Quyền làm cha mẹ trong gia đình

- Quyền lãnh đạo trong cộng đoàn

- Quyền quyết định trong công việc

- Quyền ảnh hưởng trên người khác

Vấn đề không phải là ta có quyền gì, mà là ta sử dụng quyền ấy với trái tim nào. Nếu không có tâm hồn biết lắng nghe, quyền lực sẽ trở thành áp đặt. Nếu không có lòng thương xót, trách nhiệm sẽ trở thành gánh nặng.

Chúa mời gọi chúng ta hôm nay:

- Hãy xin ơn khôn ngoan như Salômôn.

- Hãy có trái tim mục tử như Đức Giêsu.

Trong một thế giới nhiều tiếng ồn, điều con người thiếu không phải là lời nói, mà là người biết lắng nghe. Trong một xã hội nhiều cạnh tranh, điều người ta cần không phải là phán xét, mà là sự cảm thông.

Xin Chúa cho chúng ta có một tâm hồn biết lắng nghe: lắng nghe Lời Chúa để biết đường đi, lắng nghe anh chị em để biết yêu thương, và lắng nghe chính mình để biết sửa đổi. Xin cho ta có trái tim của Chúa một trái tim biết chạnh lòng thương trước những bầy chiên lạc lõng giữa đời. Amen.

  SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN V THƯỜNG NIÊN Lm. Nguyệt Giang CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN-NĂM A Is 58,7-10; 1Cr 2,1-5; Mt 5,13-16 SUY NIỆM 1: ...