Thứ Hai, 8 tháng 6, 2026

SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN XI THƯỜNG NIÊN

Lm. Nguyệt Giang

CHÚA NHẬT XI THƯỜNG-NĂM A

Xh 19,2-6a; Rm 5,6-11; Mt 9,36-10,8

Dẫn vào Thánh Lễ:

Qua Bí tích Thánh Tẩy, mỗi người chúng ta cũng được mời gọi trở thành những môn đệ thừa sai, nghĩa là được Chúa sai đi để thi hành sứ mạng loan báo Tin Mừng của Chúa giữa lòng thế giới. 

Trong tâm tình tạ ơn và đáp lại lời mời gọi của Chúa, chúng ta cùng sốt sắng hiệp dâng Thánh lễ, xin Chúa ban cho mỗi người một trái tim quảng đại, biết yêu thương, phục vụ và nhiệt thành loan báo Tin Mừng tình thương của Chúa bằng chính đời sống chứng nhân của mình.

SUY NIỆM 1:

Tin Mừng hôm nay, Thánh Matthêu minh chứng cho chúng ta biết Chúa Giêsu chính là hiện thân của lòng thương xót Chúa qua:

- Ánh mắt đến trái tim“Chúa Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt”; 

- Lời nói đến hành động: Với lời nói, Ngài dạy dỗ dân chúng: “Chúa Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời.” Với hành động, Ngài chữa lành mọi vết thương hồn xác cho những ai đau khổ: “Chúa Giêsu chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.” Ngoài ra, Ngài còn chăm lo cho dân chúng đang đói khát được ăn no nê qua phép lạ bánh hóa nhiều, với mong muốn họ an tâm theo Ngài và có đủ sức để trở về mái ấm gia đình.

- Hơn thế nữa, Ngài còn chuẩn bị cho nhân loại một tương lai tốt đẹp bằng cách chọn gọi và huấn luyện các môn đệ: để các ông này tiếp tục sứ mạng đem tin mừng ơn cứu độ đến tận cùng thế giới. Bởi lẽ Ngài nhìn thấy đồng lúa đã chính vàng và đang cần đến những thợ gặt: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít.” Nên Ngài đã sai các tông đồ ra đi thực thi sứ mạng qui tụ tất cả mọi người về với Chúa để họ đón nhận được ân sủng và hạnh phúc trong nước trời.

Như vậy, khi suy niệm về sứ điệp lời Chúa hôm nay, chúng ta có dịp cảm nhận sâu xa tình Chúa yêu ta là dường nào.

Xin cho chúng ta biết không ngừng cảm tạ, chúc tụng tình thương cao vời của Chúa bằng việc siêng năng chiêm ngắm và học hỏi bài học yêu thương từ thánh tâm của Chúa, biết tích cực tham dự thánh lễ và nhiệt tâm loan báo tin mừng tình thương của Chúa cho mọi người.

 

SUY NIỆM 2: ĐƯỢC YÊU THƯƠNG ĐỂ ĐƯỢC SAI ĐI

Lời Chúa Chúa nhật XI Thường niên hôm nay cho chúng ta thấy một hành trình rất đẹp: Thiên Chúa yêu thương – Thiên Chúa tuyển chọn – Thiên Chúa sai đi.

Từ dân Israel dưới chân núi Sinai, đến các Tông đồ trong Tin Mừng, và đến mỗi Kitô hữu hôm nay, tất cả đều khởi đi từ tình yêu nhưng không của Thiên Chúa.

1. Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn chúng ta

Trong bài đọc I, Thiên Chúa nhắc dân Israel nhớ lại những gì Ngài đã làm: “Các ngươi đã thấy Ta đã xử với người Ai Cập thế nào, và đã mang các ngươi trên cánh chim bằng mà đưa đến với Ta” (Xh 19,4).

Hình ảnh chim bằng cõng con trên đôi cánh diễn tả tình yêu dịu dàng nhưng mạnh mẽ của Thiên Chúa. Israel không phải là dân đông nhất hay mạnh nhất, nhưng là dân được Chúa yêu và tuyển chọn. Điều đó cũng đúng với mỗi người chúng ta. Không phải vì chúng ta tài giỏi hay xứng đáng mà được làm con Chúa. Tất cả đều là hồng ân.

Trong bài đọc II, thánh Phaolô còn đi xa hơn khi khẳng định: “Khi chúng ta còn là những kẻ tội lỗi, Đức Kitô đã chết vì chúng ta.”

Tình yêu của Thiên Chúa không đợi chúng ta hoàn hảo rồi mới yêu. Ngài yêu chúng ta ngay trong sự yếu đuối, bất toàn và tội lỗi của mình. Biết mình được yêu là nền tảng của đời sống Kitô hữu. Người không cảm nhận được tình yêu Chúa sẽ khó sống niềm vui đức tin và cũng khó nhiệt thành loan báo Tin Mừng.

2. Trái tim mục tử của Chúa Giêsu

Tin Mừng kể rằng: “Thấy dân chúng, Người chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt.”

Đây là một trong những câu Tin Mừng đẹp nhất nói về trái tim của Chúa Giêsu. Người nhìn đám đông không bằng ánh mắt phán xét nhưng bằng ánh mắt cảm thương. Người thấy những nỗi khổ đau, lo âu, lạc hướng và cô đơn của con người.

Ngày nay, biết bao người cũng đang sống trong tình trạng ấy: Nhiều người có của cải nhưng thiếu bình an. Nhiều người sống giữa đám đông nhưng cô đơn. Nhiều gia đình đầy đủ vật chất nhưng thiếu tình yêu. Nhiều người trẻ mất phương hướng giữa vô vàn chọn lựa… Trước thực trạng đó, Chúa Giêsu không chỉ dừng lại ở lòng thương cảm. Người còn hành động: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít.” Lòng thương xót của Chúa luôn dẫn tới sứ mạng cứu độ.

3. Được sai đi để tiếp nối sứ mạng của Chúa

Sau khi nhìn thấy nhu cầu của cánh đồng truyền giáo, Chúa gọi mười hai Tông đồ và trao cho các ông quyền năng cùng sứ mạng: “Các con hãy đi rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần.”

Điều đáng chú ý là trước khi sai các ông đi, Chúa đã gọi các ông đến với Người. Không ai có thể trở thành tông đồ nếu chưa là môn đệ. Không ai có thể trao ban Chúa nếu chưa sống với Chúa.

Ngày nay, lệnh truyền ấy vẫn còn nguyên giá trị. Vì thế, hội đồng giám mục Việt Nam ý thức chúng ta thực thi lệnh truyền ấy của Chúa, với chủ đề: “mỗi kitô hữu là một môn đệ thừa sai”, với khẩu hiệu: “anh em là ánh sáng trần gian”.

Sứ mạng loan báo Tin Mừng không chỉ dành cho các giám mục, linh mục hay tu sĩ, nhưng cho mọi Kitô hữu.

Mỗi người đều có thể là nhà truyền giáo:

- Người cha, người mẹ truyền giáo bằng đời sống gương mẫu trong gia đình.

- Người giáo lý viên truyền giáo bằng việc dạy giáo lý.

- Người trẻ truyền giáo bằng đời sống trong sáng và nhiệt thành.

- Người bệnh tật truyền giáo bằng sự hy sinh và lời cầu nguyện.

- Người tín hữu truyền giáo bằng lòng bác ái và chứng tá hằng ngày.

Có thể chúng ta không đi đến những miền đất xa xôi, nhưng ai cũng có một “cánh đồng truyền giáo” ngay bên cạnh mình.

Tóm lại: Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta:

1. Biết tạ ơn vì mình được Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn.

2. Mang lấy trái tim biết cảm thương như Chúa Giêsu trước những đau khổ của tha nhân.

3. Can đảm trở thành những người loan báo Tin Mừng bằng đời sống hằng ngày.

Thế giới hôm nay không chỉ cần những người nói về Chúa, nhưng cần những Kitô hữu sống sao để người khác nhận ra Chúa đang hiện diện.

Xin Chúa cho mỗi người chúng ta cảm nhận sâu xa tình yêu cứu độ của Đức Kitô, để từ đó trở nên những môn đệ nhiệt thành, sẵn sàng lên đường đem Tin Mừng đến cho mọi người. Amen.

 

SUY NIỆM 3:

Khi nhìn thấy đoàn lũ dân chúng đông đảo bao quanh mình như đoàn chiên vất vưởng không người chăn, Chúa Giê-su chạnh lòng thương xót họ và kêu mời các môn đệ cũng như chúng ta hãy cầu xin Chúa Cha sai thợ đến làm việc trên cánh đồng của Chúa: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa.”

Giờ đây, chúng ta thử đảo mắt nhìn quanh, để xem đồng lúa chung quanh bao la rộng lớn biết chừng nào.

- Trước hết, hãy hướng tầm nhìn đến Châu Á: đây là lục địa mênh mông hiện có trên 4 tỷ rưỡi người sinh sống, trong đó, người Công Giáo chỉ chiếm 3,4 phần trăm.

- Tiếp theo chúng ta nhìn về đất nước Việt Nam chúng ta: hiện nay dân số lên đến 100 triệu người, trong khi tín hữu Công Giáo chỉ có khoảng 7 triệu, chiếm tỉ lệ 7 phần trăm dân số. Như vậy, vẫn còn trên 93 triệu người trên đất nước chúng ta chưa có cơ may đón nhận Tin mừng.

- Sau hết, chúng ta nhìn vào Giáo phận Cần Thơ thân yêu chúng ta: Với diện tích rộng 13.257 km², trải dài qua 4 tỉnh: Hậu GiangSóc TrăngBạc LiêuCà Mau và 1 thành phố Cần Thơ. Tổng dân số là 5.580.701 người, trong đó chỉ có 191.462 giáo dân (chiếm 3,4% dân số). Tính trung bình cứ 100 người thì chỉ có hơn 3 người tin nhận Chúa và chịu phép rửa, còn lại 97 phần trăm chưa đón nhận được tin mừng tình thương của Chúa. Như thế là cánh đồng truyền giáo vẫn còn mênh mông, bát ngát. Cho nên ngày hôm nay lới Chúa vẫn còn vang vọng tha thiết kêu gọi mỗi chúng ta hãy cầu xin cho có nhiều sứ giả dấn thân trong sứ mạng loan báo Tin mừng.

Nếu khi xưa, Chúa Giêsu đã huấn luyện và trao ban sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho các Tông Đồ thì ngày nay Chúa tiếp tục huấn luyện trao ban sự mạng này cho từng người tín hữu chúng ta. Sứ mạng này chúng ta đã lãnh nhận từ khi chịu phép rửa tội và được củng cố thêm vững mạnh nhờ bí tích thêm sức, thì hành sứ vụ truyền giáo hay loan báo Tin mừng, đó là bổn phận cao quý và khẩn thiết của mọi kitô hữu như lời xác quyết của GH trong công đồng Vatican 2: “Tự bản chất GH lữ hành là truyền giáo”. 

Khẩn cấp vì còn rất nhiều người chưa được nghe tin mừng của Chúa, khẩn cấp vì vẫn còn đó những anh chị em chúng ta mãi cho đến lúc lìa đời mà vẫn chưa biết đến một người Cha tuyệt vời là Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Quan trọng bởi lẽ đây là nỗi thao thức và là lệnh truyền tâm quyết của Chúa Giêsu trước khi về trời. Ngài muốn tất cả mọi người được sum họp với nhau trong đại gia đình Hội thánh để đón nhận được phần rỗi đời đời do Ngài ban tặng.

Nhưng làm thế nào để chúng ta thực hiện được sứ mạng cao quý và cấp thiết này? Thưa, sứ điệp lời Chúa trong bài Tin mừng hôm nay gợi lên cho chúng ta một vài cách thức:

- Hãy nên giống Chúa, có trái tim biết “chạnh lòng thương” đối với anh chị em mình, nhất là những người nghèo khổ và bị xã hội bỏ rơi, loại trừ ra bên lề cuộc sống….

Một tác giả tưởng tượng việc Chúa chọn lựa các tông đồ như sau: Trải qua những đêm dài cầu nguyện, Chúa Giêsu mới rảo bước khắp nơi tìm kiếm nhưng không chọn lựa được người nào. Ngài đành đăng quảng cáo, nhưng trong số những người đến trình diện, Ngài cũng không chọn được ai.

Ngài đành tổ chức thế vận hội. Môn đầu tiên là cầu nguyện: nhiều người biểu diễn cầu nguyện rất hay nhưng Chúa cũng không chọn được ai cả. Môn thứ hai là thờ phượng, cũng thế. Môn thứ ba là giảng thuyết, cũng thế.

Chán nản vì mất giờ vô ích, Chúa Giêsu rời khỏi vận động trường mà thả bộ ra bờ biển hóng gió và ở đây Ngài thấy một đám dân chài. Ngài đứng quan sát và nhận ra có một số người để hết tâm vào công việc. Ngài nghĩ thầm họ là những người có quả tim. Và thế là Ngài chọn họ làm tông đồ của Ngài. Tên của những tông đồ ấy đã được liệt kê trong tin mừng chúng ta vừa nghe.

- Hãy nghe theo lời Chúa dạy là cầu xin với Chúa, là chủ của mùa gặt, vì chỉ có Chúa mới đánh động lòng người và làm cho người khác tin Chúa mà thôi; chứ người phàm không có khả năng làm được điều đó. Cầu xin cho có nhiều thợ gặt lành nghề sẵn sàng dấn thân hy sinh lo cho việc truyền giáo; đồng thời, chúng ta cũng cầu xin cho những anh chị em chưa biết Chúa biết mở lòng để đón nhận tin mừng tình thương của Chúa.

Truyện kể rằng: Một chàng thanh niên quí phái đang thong thả bước đi trên một con đường tại vùng quê nước Ý, đi ngược chiều, có một bà già quê ăn mặc rách rưới. Cảm động vì thân hình tiều tụy ấy, chàng thanh niên bước tới ân cần nhã nhặn an ủi, rồi chàng lấy ví ra tặng cho bà cụ tất cả số tiền mang theo. Cử chỉ nhân ái và món quà của chàng thanh niên đã khiến bà cụ xúc động. Biết được chàng thanh niên đó là người Công giáo, bà hứa mỗi ngày sẽ cầu nguyện cho chàng thanh niên ấy được làm linh mục.

Ngày tháng trôi qua, chàng thanh niên đã quên hẳn về chuyện gặp bà cụ ấy, nhưng ít năm sau, lời cầu nguyện chân thành của bà cụ nghèo khổ ấy đã được Chúa chấp nhận. Anh trở thành linh mục, và còn hơn thế nữa, chàng thanh niên ngày ấy lại trở thành một Đức Giáo Hoàng thời danh, đó là Đức Lê-ô XIII.

Vậy chúng ta hãy năng cầu xin Chúa ban cho có nhiều thợ gặt lành nghề, nhiệt tâm làm việc trên những cánh đồng truyền giáo với niềm hy vọng đưa dẫn nhiều linh hồn về với kho lẫm Nước Trời.

- Cuối cùng hãy làm theo ý Chúa, đó là luôn biết lắng nghe và trung thành thực thi thánh ý Chúa trong đời sống hàng ngày, trở nên muối men và ánh sáng cho trần đời, bởi như đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô VI đã nói : “Người thời nay không thích những thầy dạy cho bằng nhân chứng”. Thực vậy, sứ mạng loan báo Tin mừng chỉ mang lại kết quả tốt đẹp, khi mỗi người trong chúng ta biết nêu cao lối sống gần gũi, hiền hòa, bao dung và nhân ái, trở nên những người dễ thương dễ mến trong mắt mọi người.

Truyện kể rằng: Ngày kia, thánh Phanxicô Assie gọi một thày dòng đến và bảo: Này thày, chúng ta cùng nhau đi giảng đạo nhé.

Hai cha con ra đi, rảo qua các đường phố một vòng rồi trở về. Thày dòng bỡ ngỡ và hỏi: Thưa cha, bao giờ chúng ta mới đi giảng đạo?

Thánh nhân trả lời: Chúng ta đã đi giảng đạo rồi đó.

Thày dòng thắc mắc: Lạ thật, mới chỉ  đi một vòng phố, có nói lời nào đâu?

Nhưng thánh nhân đã cắt nghĩa: Chúng ta đã giảng đạo bằng chính thái độ nghiêm trang và tề chỉnh của chúng ta.

Thế giời hôm nay không thiếu những bài diễn văn hùng hồn và nảy lửa. Thế nhưng những bài diễn văn ấy cũng chỉ là tiếng nhạc nghe thoảng ngoài tai, không đủ sức đánh động lòng người. Thế giới hôm nay cũng không thiếu những nhà hùng biện tài ba, nhưng người ta chỉ bị thu hút bởi những ai biết nêu gương sáng.

Xin Chúa uốn lòng chúng ta giống như trái tim Chúa để chúng ta cũng biết sống cho một tình yêu tự hủy (Thánh Giá), một tình yêu tự hiến (Thánh Thể), một tình yêu tự trao ban (Thánh Tâm) như Chúa đã dành cho nhân loại chúng ta. Sống được như thế chúng ta mới có quyền hy vọng vào sứ vụ loan báo tin mừng của Chúa được nhiều kết quả tốt đẹp trong môi trường xã hội hôm nay.

 

SUY NIỆM 3:

Bài Phúc âm hôm nay đề cập đến sứ mạng rao giảng Tin Mừng của các Tông đồ, do chính Chúa trao ban. Sứ điệp sai đi trước tiên phát xuất từ tâm hồn, từ cái nhìn xót thương của Chúa Giêsu trước cảnh “đàn chiên không có kẻ chăn”, cảnh “đồng lúa chín vàng” mà thiếu thợ gặt. Sứ điệp sai đi ấy cũng là sứ điệp của Đức Chúa Cha, là chủ của đoàn chiên, chủ của mùa gặt. Vì thế cần phải cầu xin Ngài gửi thợ gặt đến.

Sứ điệp sai đi cũng phát xuất từ con tim của Chúa Giêsu, “cảm xúc vì từng đoàn người yếu sức và mệt nhọc”. Đây là điểm khác biệt với các thầy thông thái trong dân Israel. Họ chỉ đến với hạng người học thức quyền thế. Chúa Giêsu, Ngài đến với đoàn chiên thất lạc và bị bỏ quên. Ngài tuyển chọn các Tông đồ, không phải để học đối thoại trong các cuộc tranh luận vòng vo, mà để cho các ông đồng lao cộng tác, chia sẻ công việc Tông đồ của Ngài.

Vì thế, Chúa chọn 12 Tông đồ. Trong khi hai vị Thánh sử khác lập danh sách các Tông đồ khi Chúa kêu gọi họ (x. Mc 3,16-19; Lc 6,14-16), thì Matthêô đặt vào lúc Chúa sai họ đi truyền giáo, chú trọng cách riêng đến công vụ được trao phó.

Họ là ai? Họ là những người bình dân, được chọn không phải vì có chút học thức, có ít địa vị, mà do một ơn đặc biệt của Chúa. Matthêô nêu danh từng hai người một, gọi Phêrô là “người đầu tiên”, Giuđa Iscariô là người cuối cùng, “kẻ sẽ nộp Chúa”, và không dự vào cuộc sai đi hoàn vũ (Cv 28,16). Đây là một cộng đoàn bé nhỏ đầy khuyết điểm, bất toàn, thậm chí có người còn phạm trọng tội. Thế nhưng Đức Giêsu đã kêu gọi và tiếp nhận họ vào chương trình chuyển trao tình yêu Thiên Chúa đến cho mọi người.

- Phêrô là người có tính khí nóng nảy bộp chộp khác thường. Khi thì kiên vững như đá, nhưng có lúc lại mềm nhão hơn bùn. Hôm thì thề quyết theo Chúa đến cùng, nhưng có ngày lại quá run sợ mà chối phăng.

- Giacôbê và Gioan, con của Giêbêđê là những người nóng nảy. Họ từng xin Chúa cho lửa trời xuống thiêu sạch bọn người Samari hổn láo. Không những thế hai ông còn mang ít nhiều tham vọng riêng tư, muốn được ngồi nơi những vị trí tốt nhất trong vương quốc của Đức Kitô, khiến cho xung đột nảy sinh trong hàng ngũ tông đồ.

- Matthêô xuất thân từ tầng lớp bị xã hội khinh khi ghét bỏ, một người bị xếp đồng hàng với gái điếm vì bán mình làm kẻ thâu thuế cho ngoại bang.

- Simon nhiệt thành là người thuộc phái Zealot, đang âm mưu lật đổ chính quyền đô hộ Rôma để dành lại độc lập tự do cho dân tộc, bất chấp thủ đoạn, miễn sao đạt được mục đích chính trị là sách lược của phái Zealot. Ấy là chưa nói đến Giacôbê con của Anphê và Thađêô là những người dễ có khuynh hướng cực đoan quá khích.

- Tôma thì cứng lòng. Khó tin tưởng một ai. Điều gì cũng đòi phải có chứng minh hẳn hoi, chứ "trăm nghe không bằng mắt thấy." Còn Giuđa Iscariot, bên ngoài rất thanh liêm ngay chính, nhưng bên trong đầy tham lam thủ đoạn, sẵn sàng phản bội để tìm kiếm lợi riêng.

Những con người thiếu sót, lầm lỗi là thế nhưng Đức Giêsu lại triệu tập để trao cho họ một sứ mạng lớn lao. Như thế, không phải chỉ có những ai hoàn hảo, đầy tài năng mới được mời gọi, và không phải khi nào tự thấy xứng đáng, tôi mới lên tiếng đáp trả. Nhưng đúng hơn, tình yêu Thiên Chúa đón nhận tất cả, dù là con người tầm thường yếu đuối, miễn sao tôi có được tâm hồn rộng mở cho ơn Ngài. 

Sau khi đã tuyển chọn, Chúa sai họ đi truyền giáo. Họ đi từng nhóm, hỗ trợ nhau, dùng lời nói, dùng phép lạ để thuyết phục. Ở đây, Chúa dạy các ông đi với dân Israel trước đã, đợi một ngày kia sẽ tung cánh bay đến tận cùng thế giới: “Chúng con hãy đi giảng dạy muôn dân”. Theo vết chân các Tông đồ, các vị thừa sai của Chúa sẽ đi tới chân trời góc bể.

Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê đến Ấn Độ. Miệng giảng Lời Chúa, nhưng tay cầm hai ảnh tượng, một tay cầm cây Thánh giá Chúa cứu chuộc, một tay kia cầm mẫu ảnh Đức Mẹ nhân lành, để nhờ Mẹ xoa dịu hình ảnh người con đau khổ mà người dân chưa hiểu. Ngài Rửa tội hơn một triệu người. Và sau khi đã lập nên Giáo Hội Nhật Bản, Ngài muốn đem Tin Mừng cho nước Tàu vĩ đại. Nhưng vừa đến hòn đảo cửa ngỏ vào lục địa Trung Hoa thì lâm bệnh và qua đời, mình dựa vào một gốc cây và mắt nhìn vào nước Tàu vĩ đại.

“Các con đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không”“Các con hãy đi giảng dạy muôn dân… Giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 16,19-20).

Lạy Chúa, này con đây, hãy sai con đi vào cánh đồng lúa của Chúa. (St).

 

SUY NIỆM 4: NHƯ ĐÃ DẤU YÊU TỪ THUỞ NÀO

Có những người khi gặp nhau lần đầu lại có cảm giác như đã quen từ rất lâu. Có những cuộc gặp gỡ làm cho người ta thấy gần gũi, thân thương đến lạ thường. Nhạc sĩ Đức Huy đã diễn tả cảm xúc ấy trong bài hát Như Đã Dấu Yêu:

"Lần đầu mình đến bên nhau,

Rộn ràng như đã dấu yêu từ thuở nào."

Đó là cảm giác của hai tâm hồn như đã thuộc về nhau từ trước.

Khi nghe những lời ấy, tôi chợt nghĩ đến mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Bởi lẽ, trước khi chúng ta biết Chúa, thì Chúa đã biết chúng ta. Trước khi chúng ta yêu Chúa, thì Chúa đã yêu chúng ta. Và trước khi chúng ta tìm kiếm Chúa, thì Chúa đã đi tìm chúng ta.

Tin Mừng hôm nay cho thấy một Thiên Chúa yêu thương con người như thế.

1. Chúa nhìn chúng ta bằng ánh mắt của tình yêu từ muôn thuở

Thánh Matthêu kể: "Thấy dân chúng bơ vơ vất vưởng như chiên không người chăn dắt, Người chạnh lòng thương."

Chúa Giêsu không nhìn đám đông như một đám người xa lạ. Người nhìn họ như những người thân thuộc. Người thấy những nỗi đau không ai thấy. Người thấy những giọt nước mắt chưa rơi. Người thấy những khát vọng sâu kín trong tâm hồn mỗi người.

Điều lạ là Chúa yêu thương chúng ta ngay cả khi chúng ta chưa xứng đáng.

Bài đọc thứ nhất cho thấy Thiên Chúa đã chọn dân Israel không phải vì họ mạnh mẽ hay hoàn hảo, nhưng đơn giản vì Người yêu thương họ. Cũng vậy, mỗi người chúng ta hiện diện ở đây hôm nay không phải là một sự tình cờ.

Chúng ta được Chúa biết đến. Được Chúa gọi tên. Được Chúa yêu thương. Có thể nói với mỗi người chúng ta rằng: “Con không phải người xa lạ đối với Thiên Chúa. Con là người Chúa đã dấu yêu từ thuở nào.”

2. Chúa gọi những người Ngài yêu để cộng tác vào sứ mạng của Ngài

Sau khi chạnh lòng thương dân chúng, Chúa Giêsu gọi mười hai tông đồ và sai các ông lên đường. Điều đáng chú ý là các tông đồ không phải những con người xuất sắc.

Có người là ngư phủ thất học. Có người từng làm nghề thu thuế. Có người nóng nảy. Có người yếu đuối. Có người sau này còn chối Thầy… Thế nhưng Chúa vẫn chọn họ. Bởi vì Chúa không chọn người tài giỏi nhất. Chúa chọn những người Ngài yêu thương và ban ơn để họ trở nên khí cụ của Ngài.

Ngày hôm nay cũng thế. Chúa vẫn đang gọi các linh mục, tu sĩ, giáo lý viên, các bậc cha mẹ và từng Kitô hữu. Ngài không hỏi chúng ta hoàn hảo đến đâu. Ngài hỏi chúng ta có sẵn sàng đáp lại tình yêu của Ngài hay không.

Sứ mạng Kitô hữu trước hết không phải là làm việc cho Chúa, nhưng là sống như một người được Chúa yêu.

3. Người được yêu thì phải biết yêu

Cuối bài Tin Mừng, Chúa căn dặn: "Các con đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không." Đó là quy luật của tình yêu.

Người nhận được tình yêu thì phải trao ban tình yêu.

Người nhận được lòng thương xót thì phải biết xót thương.

Người nhận được sự tha thứ thì phải biết tha thứ.

Nếu Chúa đã yêu chúng ta từ muôn thuở, thì chúng ta cũng được mời gọi yêu thương anh chị em mình bằng một tình yêu quảng đại và vô vị lợi.

Trong gia đình, hãy yêu thương nhau nhiều hơn.

Trong giáo xứ, hãy cảm thông với nhau nhiều hơn.

Trong xã hội, hãy biết mở rộng trái tim cho những người đau khổ, nghèo khó và bị bỏ rơi.

Đó là cách chúng ta đáp lại tình yêu mà Chúa đã dành cho mình.

Kính thưa cộng đoàn,

Bài hát Như Đã Dấu Yêu nói về một cuộc tình đẹp nhưng muộn màng. Còn tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta không bao giờ muộn.

Ngài đã yêu ta trước khi ta được sinh ra.

Ngài đã nghĩ đến ta trước khi ta biết đến Ngài.

Ngài đã gọi tên ta từ đời đời.

Mỗi khi đến với Chúa, mỗi khi quỳ trước Thánh Thể, mỗi khi tham dự Thánh lễ, chúng ta hãy cảm nhận rằng:

Tôi không phải là người xa lạ với Thiên Chúa.

Tôi là người mà Chúa đã dấu yêu từ thuở nào.

Và chính vì được yêu như thế, tôi cũng phải biết yêu thương như Chúa đã yêu. Amen.

 

SUY NIỆM 5:  TÌNH YÊU ĐẾN TRƯỚC VÀ KHÔNG BAO GIỜ MUỘN MÀNG

Khi đọc và suy niệm Lời Chúa hôm nay, tôi bỗng nhớ đến một ca khúc rất nổi tiếng của Nhạc sĩ Đức Huy mang tựa đề: "Như đã dấu yêu". Để cảm nhận đôi chút về tâm sự trong ca khúc này, tôi xin mượn lại một đoạn ca từ sau đây: "Nhưng anh ước gì mình gặp nhau lúc em chưa ràng buộc, và anh chưa thuộc về ai... Ta đến với nhau muộn màng cho đớn đau, một lần cho mãi nhớ thương dài lâu."

Những ca từ ấy là lời tự sự rất nồng nàn nhưng cũng đầy xót xa của tác giả về một tình yêu đến muộn. Quả thật, sự muộn màng trong tình yêu nhân thế thường để lại nhiều tiếc nuối và rạn vỡ. Vì thế, người ta luôn ước mong được gặp nhân tình sớm hơn, ước chi mọi sự hoàn hảo hơn để trọn vẹn thuộc về nhau.

Thế nhưng, niềm mộng ước về một tình yêu trọn vẹn, không tì vết ấy chỉ có thể được thỏa mãn nơi tình yêu của Thiên Chúa, tình yêu được khắc họa rõ nét qua các bài đọc Lời Chúa hôm nay.

Bởi lẽ nơi Thiên Chúa, không bao giờ có khái niệm "muộn màng". Ngài không chờ chúng ta phải "hoàn hảo", cũng chẳng đợi chúng ta "tự do không ràng buộc" rồi mới bước đến. Tình Yêu của Ngài luôn đi bước trước. Ngài là Đấng đã yêu chúng ta từ thuở nào, trước cả khi chúng ta kịp nhận biết Ngài. Tình yêu tuyệt diệu ấy được biểu tỏ cách cụ thể qua hai điểm nhấn sau:

1. Thiên Chúa yêu ta ngay khi ta còn là tội nhân

Nếu người trần thế luôn đòi hỏi một sự xứng hợp, một thời điểm lý tưởng để đến với nhau, thì Thiên Chúa lại chọn đến với nhân loại ngay lúc chúng ta đang bầm dập, bất xứng và yếu đuối nhất.

Trong bài đọc II, Thánh Phaolô đã viết cho tín hữu Rôma một "hiến chương" tuyệt vời về tình yêu mang tính tiền định này: "Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người yếu đuối... Ngay khi chúng ta còn là tội nhân”. Quả thật, Ngài không đợi chúng ta thánh thiện rồi mới yêu thương. Ngài cũng không đợi chúng ta thanh sạch rồi mới tuyển chọn.

Hình ảnh dân Do Thái trong sách Xuất Hành (Bài đọc I) là một minh chứng sống động. Lúc bấy giờ, họ chỉ là một đám dân nô lệ vừa thoát khỏi Ai Cập, đầy phàm tục, hay phàn nàn và vô cùng yếu đuối. Vậy mà Chúa vẫn âu yếm phán: "Ta đã mang các ngươi như phượng hoàng mang con trên cánh... Các ngươi sẽ là sở hữu đặc biệt của Ta”.

Trở lại với lời ca của Nhạc sĩ Đức Huy: "Trong đôi mắt anh em là tất cả, là nguồn vui, là hạnh phúc em dấu yêu”. Vâng thưa cộng đoàn! Dẫu chúng ta bất toàn và tội lỗi, nhưng trong đôi mắt của Thiên Chúa, mỗi người chúng ta chính là "tất cả", là niềm vui, là hạnh phúc và là viên ngọc quý giá nhất của Ngài.

2. Tình yêu được biểu tỏ qua hành động: Chọn gọi các Tông Đồ

Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy đỉnh cao của tình yêu "như đã dấu yêu từ thuở nào" của Thiên Chúa giàu lòng xót thương. Tình yêu ấy được hiện thực hóa qua ánh mắt của Chúa Giêsu.

Khi nhìn thấy đám đông lầm than, vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt, Chúa Giêsu không hề trách móc, cũng không ngoảnh mặt làm ngơ. Trái lại, Ngài chạnh lòng thương. Sự chạnh lòng ấy không dừng lại ở cảm xúc thoáng qua, mà thôi thúc Ngài hành động. Ngài không muốn tình yêu này chỉ là "mộng ước trong thoáng giây", mà muốn nó được kéo dài và lan tỏa đến muôn thế hệ. Chính vì thế, Ngài đã gọi Mười Hai Tông đồ để họ trở thành cánh tay nối dài, ban phát tình yêu của Ngài cho muôn người.

Hãy nhìn vào danh sách Mười Hai Tông đồ để thấy tình yêu "đi bước trước" của Chúa lớn lao nhường nào: Đó là một Phêrô bốc đồng, một Gioan nóng nảy, một Tôma kém tin. Đó là một Mátthêu thu thuế bị người đời khinh chê. Và xót xa thay, có cả một Giuđa Íscariốt, kẻ rồi đây sẽ phản bội Ngài.

Chúa chọn họ không phải vì họ xuất sắc hay hoàn hảo, mà vì Ngài đã yêu họ trước. Ngài tin tưởng trao ban quyền năng và sai họ đi với một chỉ thị rõ ràng: "Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy”.

3. Bài học thực hành: Không "cố quên" mà phải "khắc ghi"

Một lần nữa, chúng ta trở lại với bài hát của nhạc sĩ Đức Huy. Đứng trước tình yêu muộn màng và trớ trêu, người tình đành phải thốt lên: "Anh sẽ cố quên khung trời hoa mộng... Anh sẽ cố quên rằng mình đã đến trong nhau”. Sự "cố quên" ở đây là một giải pháp đầy bất lực của con người trước nghịch cảnh. Nhưng trong đời sống đức tin, đối diện với Tình Yêu cứu độ của Thiên Chúa, chúng ta không được phép "cố quên", mà phải khắc ghi:

Thứ nhất, khắc ghi phẩm giá của mình: Dù dòng đời có đẩy chúng ta vào hoàn cảnh nào, dù tội lỗi có làm chúng ta hoen ố ra sao, hãy luôn nhớ rằng trong đôi mắt Chúa, chúng ta vẫn là "tất cả". Ngài chưa bao giờ hối hận vì đã tạo dựng, yêu thương và cứu chuộc chúng ta.

Thứ hai, khắc ghi sứ mạng được trao: Qua bí tích Rửa Tội, mỗi Kitô hữu đều là một "tông đồ" được Chúa sai đi. Đúng như lời Giáo hội vẫn luôn mời gọi: "Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai”. Quả vậy, chúng ta đã nhận được tình yêu thương xót "nhưng không" của Chúa từ lúc chưa chào đời; thì hôm nay, chúng ta cũng phải đem tình yêu ấy chia sẻ "nhưng không" đến những người xung quanh, nhất là những mảnh đời đang lầm than, bơ vơ và cô độc ngay bên cạnh chúng ta.

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,

Tình yêu của thế gian dẫu đẹp mấy đi nữa thì đôi khi vẫn muộn màng, vẫn có thể mang lại đớn đau và nuối tiếc. Nhưng Tình Yêu của Chúa dành cho chúng ta là tình yêu vĩnh cửu, vượt trên mọi thời gian, nồng nàn "như đã dấu yêu từ thuở nào".

Xin Chúa cho chúng ta khi lên rước Mình Máu Thánh Chúa hôm nay, biết mở rộng tâm hồn để ánh mắt chạnh lòng thương của Ngài chạm đến và biến đổi trái tim ta. Để rồi, khi bước ra khỏi ngôi thánh đường này, chúng ta không còn sống khép kín hay hối tiếc, mà biết can đảm trao ban sự bao dung và niềm hy vọng cho một thế giới đang rất khát khao tình yêu nồng nàn và tuyệt mỹ của Thiên Chúa.

 

SUY NIỆM 6: NHÌN BẰNG ĐÔI MẮT CỦA CHÚA GIÊSU

Cố nhạc sĩ Xuân Hồng trong bài hát Đôi Mắt đã viết những câu rất đẹp:

"Mẹ cho em đôi mắt sáng ngời

Để nhìn đời và để làm duyên...

Đôi mắt em là cửa ngõ tâm hồn..."

Đôi mắt không chỉ để nhìn. Đôi mắt còn phản chiếu tâm hồn, phản ánh cách chúng ta cảm nhận và đối xử với cuộc đời. Cùng một sự việc, nhưng mỗi người nhìn khác nhau. Có người nhìn thấy cơ hội, có người chỉ thấy khó khăn. Có người nhìn thấy điều tốt đẹp nơi tha nhân, có người chỉ thấy những khuyết điểm.

Tin Mừng hôm nay cho chúng ta chiêm ngắm đôi mắt của Chúa Giêsu. Đó là đôi mắt đầy lòng thương xót.

Thánh Matthêu kể rằng: "Thấy dân chúng, Người chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt."

Chỉ một chữ "thấy" thôi, nhưng đó không phải là cái nhìn hời hợt bên ngoài. Đó là cái nhìn đi sâu vào nỗi đau của con người.

1. Đôi mắt biết nhìn thấy nỗi khổ của tha nhân

Nhiều người trong chúng ta có mắt nhưng chưa chắc đã nhìn thấy.

Ta thấy người nghèo ngoài đường nhưng vội quay đi.

Ta thấy người thân đang buồn nhưng không quan tâm.

Ta thấy những bất hòa trong gia đình nhưng ngại lên tiếng hòa giải.

Ngược lại, Chúa Giêsu nhìn thấy những điều mà người khác không thấy. Người nhìn thấy nỗi cô đơn sau nụ cười, nhìn thấy sự mệt mỏi sau những cố gắng, nhìn thấy những vết thương sâu kín trong tâm hồn con người.

Chính vì thấy nên Người chạnh lòng thương.

Tình yêu luôn bắt đầu từ một cái nhìn.

Nếu đôi mắt của chúng ta biết nhìn người khác bằng lòng cảm thông, thế giới sẽ bớt đi rất nhiều đau khổ.

2. Đôi mắt biết nhận ra cánh đồng truyền giáo

Sau khi nhìn thấy đám đông dân chúng, Chúa Giêsu nói: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít."

Người khác nhìn thấy đám đông.

Chúa Giêsu nhìn thấy một cánh đồng.

Người khác nhìn thấy những con người bình thường.

Chúa Giêsu nhìn thấy những linh hồn cần được cứu độ.

Ngày nay, cánh đồng truyền giáo vẫn đang trải rộng trước mắt chúng ta:

Đó là những người trẻ đang mất phương hướng.

Đó là những gia đình đang rạn nứt.

Đó là những người nghèo khổ, bệnh tật, cô đơn.

Đó là những anh chị em chưa biết Chúa hoặc đang xa Chúa.

Vấn đề không phải là cánh đồng không có, nhưng là chúng ta có nhìn thấy hay không.

Có một câu nói rất hay: "Điều quan trọng không phải là chúng ta nhìn gì, nhưng là chúng ta nhìn như thế nào."

Khi mang đôi mắt của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ nhận ra biết bao cơ hội để yêu thương và phục vụ.

3. Đôi mắt biết trao ban và lên đường

Tin Mừng hôm nay không dừng lại ở cái nhìn.

Sau khi thấy và thương, Chúa Giêsu sai các môn đệ lên đường.

Người trao cho các ông quyền năng để chữa lành bệnh tật, xua trừ ma quỷ và loan báo Tin Mừng.

Người môn đệ đích thực không chỉ biết nhìn nhưng còn biết hành động.

Nhìn thấy người nghèo để giúp đỡ.

Nhìn thấy người đau khổ để an ủi.

Nhìn thấy người lầm lạc để cầu nguyện.

Nhìn thấy công việc của Giáo Hội để quảng đại cộng tác.

Đức tin không chỉ ở trong nhà thờ nhưng phải được thể hiện bằng những việc làm cụ thể mỗi ngày.

Kính thưa cộng đoàn,

Bài hát Đôi Mắt ca ngợi đôi mắt có thể nhìn thấy vẻ đẹp của quê hương, tình bạn và tình yêu.

Hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta có một đôi mắt còn đẹp hơn thế nữa: đôi mắt biết nhìn bằng trái tim của Người.

Xin Chúa cho chúng ta có đôi mắt biết nhìn thấy nỗi đau của anh chị em mình.

Xin cho chúng ta có đôi mắt biết nhận ra cánh đồng truyền giáo đang chín vàng quanh ta. Và xin cho chúng ta có đôi mắt biết nhìn để yêu thương, biết thấy để phục vụ và biết lên đường để loan báo Tin Mừng.

Để mỗi ngày sống của chúng ta trở thành phản chiếu đôi mắt đầy lòng thương xót của Chúa Giêsu giữa thế giới hôm nay. Amen.

 

SUY NIỆM 7: ĐÔI MẮT CỦA LÒNG TRẮC ẨN

Cố nhạc sĩ Xuân Hồng trong một ca khúc rất quen thuộc đã ca ngợi rằng: "Mẹ cho em đôi mắt sáng ngời / Để nhìn đời và để làm duyên... Đôi mắt em là cửa ngõ tâm hồn, là bài thơ hay nhất, là lời ca không dứt, là tuyệt tác của thiên nhiên."

Quả thật, đôi mắt là món quà kỳ diệu mà Thiên Chúa ban tặng cho con người qua đấng sinh thành. Đôi mắt không chỉ dùng để nhìn đường đi, để phân biệt màu sắc, mà còn là nơi biểu lộ mọi cung bậc cảm xúc: "để thương để nhớ, để ghen, để hờn". Đôi mắt giúp chúng ta "giữa dòng đời nhìn rõ đục trong", nhận biết bạn – thù, và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của quê hương, đất nước.

Thế nhưng, trong đời sống đức tin, chúng ta không chỉ nhìn bằng đôi mắt thể lý. Hôm nay, Lời Chúa mời gọi chúng ta hướng nhìn vào một đôi mắt tuyệt vời hơn thế: Đôi mắt của Chúa Giêsu.

1. Thấu cảm: Đôi mắt nhìn thấu nỗi đau nhân thế

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay khắc họa cho chúng ta hình ảnh Chúa Giêsu khi Ngài đi qua các thành thị và làng mạc. Khi nhìn vào đám đông dân chúng, Ngài đã nhìn bằng một đôi mắt rất khác:

Không phải đôi mắt soi mói, xét đoán: Ngài không nhìn để tìm lỗi lầm hay để "ghen hờn" như người đời.

Đôi mắt của lòng trắc ẩn: Tin Mừng ghi rõ: "Đức Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt".

Nếu bài hát nói rằng đôi mắt giúp ta "nhìn rõ đục trong", thì Chúa Giêsu đã nhìn thấu suốt cái "đục" của kiếp người – những đau khổ, bệnh tật, sự bơ vơ và tội lỗi của nhân loại. Ngài không ngoảnh mặt làm ngơ. Đôi mắt Ngài rực sáng tình yêu, rọi vào những góc tối tăm, sương mờ của cuộc đời để mang lại niềm hy vọng. Đôi mắt ấy chính là "cửa ngõ tâm hồn" của Thiên Chúa – một Thiên Chúa giàu lòng thương xót.

2. Hành động: Từ "Nhìn thấy" đến "Chạnh lòng thương"

Nhạc sĩ Quang Dũng viết: "Đôi mắt em để nhìn rõ quân thù / Nhìn tình bạn tươi thắm / Nhìn người yêu say đắm..."

Với Chúa Giêsu, Ngài không nhìn ai là quân thù cần tiêu diệt. Ngài nhìn mọi người bằng ánh mắt của "người yêu say đắm" đối với nhân loại. Chính từ ánh mắt "chạnh lòng thương" ấy, Ngài đã biến tình yêu thành hành động:

Ngài mời gọi cầu nguyện: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về."

Ngài sai đi: Ngài gọi 12 môn đệ, ban quyền năng và sai các ông đi đến với những con chiên lạc. Ngài muốn các môn đệ trở thành cánh tay nối dài, và quan trọng hơn, trở thành "đôi mắt thứ hai" của Ngài giữa trần gian.

Anh chị em thân mến,

Chúng ta đang sống trong năm 2026, một thời đại mà con người dễ bị cuốn vào những "màn hình phẳng" của điện thoại, máy tính. Chúng ta nhìn vào thế giới ảo rất nhiều, nhưng lại thiếu đi cái nhìn sâu sắc vào thế giới thật xung quanh. Đôi khi, đôi mắt của chúng ta chỉ dùng để tìm kiếm lợi lộc, hoặc để "ghen, để hờn" trước sự thành công của tha nhân.

Lời Chúa hôm nay và lời bài hát "Đôi Mắt" như một lời tỉnh thức:

- Nhìn lại chính mình: Đôi mắt Chúa ban cho chúng ta có đang mở ra để "nhìn tình bạn tươi thắm", để xây dựng sự hiệp nhất, hay đang khép lại trong sự ích kỷ?

- Nhìn ra tha nhân: Xung quanh chúng ta vẫn còn biết bao người "lầm than vất vưởng". Đó có thể là người đau ốm ngay bên cạnh nhà, một người bạn đang tuyệt vọng, hay chính người thân trong gia đình đang cần một ánh mắt thông cảm, sẻ chia.

Chúa đã ban cho chúng con đôi mắt thể lý để nhìn ngắm "tuyệt tác của thiên nhiên".

Xin ban thêm cho chúng con đôi mắt đức tin và lòng mến. Xin Chúa chữa lành những mù lòa trong tâm hồn chúng ta, để mỗi ngày bước ra đời, chúng ta biết nhìn anh chị em bằng ánh mắt chạnh thương của Chúa. Để từ ánh mắt ấy, chúng ta biết đưa tay ra nâng đỡ, ủi an, và trở thành những thợ gặt nhiệt thành trong cánh đồng truyền giáo của Ngài. Amen.

 

SUY NIỆM 8: ĐÔI MẮT BIẾT THƯƠNG

Cố nhạc sĩ Xuân Hồng trong bài hát “Đôi mắt” từng viết: “Mẹ cho em đôi mắt sáng ngời, để nhìn đời và để làm duyên... Đôi mắt em là cửa ngõ tâm hồn”. Quả thật, đôi mắt không chỉ để nhìn, mà còn là nơi bộc lộ trọn vẹn con người chúng ta. Người ta thường bảo: "Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn". Qua ánh mắt, ta nhận ra tình thương hay sự lạnh nhạt, sự cảm thông hay nỗi vô tâm.

Cùng một sự việc, nhưng mỗi người lại có một cách nhìn khác nhau. Có người nhìn đâu cũng thấy tích cực để hy vọng; có người chỉ thấy khó khăn để than phiền. Có người nhìn vào điều tốt của tha nhân để nâng đỡ; lại có người chỉ chăm chăm tìm lỗi lầm để phê phán.

Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta chiêm ngắm đôi mắt của Chúa Giêsu, một đôi mắt đầy yêu thương và lòng thương xót. Thánh Matthêu kể lại: “Thấy dân chúng, Người chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9,36). Chỉ một chữ “thấy” thôi, nhưng đó không phải là cái nhìn thoáng qua, mà là cái nhìn thấu suốt của trái tim.

1. Nhiều khi chúng ta có mắt nhưng lại hóa mù lòa trước tha nhân. Ta thấy người nghèo bên vệ đường nhưng vội vã bước qua. Ta thấy hàng xóm gặp hoạn nạn nhưng nghĩ không liên quan đến mình. Ta thấy người thân u buồn nhưng chẳng buồn dừng lại lắng nghe, hay thấy những bất hòa trong gia đình mà lại ngại đứng ra hòa giải.

Chúa Giêsu thì khác. Người nhìn thấy những điều người khác vô tình bỏ qua: Người nhìn thấy nỗi cô đơn đằng sau một nụ cười. Người nhìn thấy sự mệt mỏi sau những cố gắng âm thầm. Người nhìn thấy cả những giọt nước mắt chưa kịp lăn trên má. Chính vì "thấy" nên Người mới "chạnh lòng thương".

Kính thưa cộng đoàn, tình yêu luôn bắt đầu từ một cái nhìn. Một người mẹ thấy con mệt liền nấu bữa cơm nóng. Một người chồng thấy vợ vất vả liền đỡ đần việc nhà. Một người con thấy cha mẹ già yếu liền dành thời gian thăm hỏi. Nếu trong gia đình, chúng ta biết nhìn nhau bằng ánh mắt cảm thông của Chúa, chắc chắn sẽ bớt đi rất nhiều giận hờn và tổn thương.

2. Sau khi nhìn thấy đám đông, Chúa Giêsu nói: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít”. Người khác chỉ thấy một đám đông ồn ào, còn Chúa Giêsu thấy một cánh đồng truyền giáo. Người khác thấy những con người bình thường, còn Chúa nhìn thấy những linh hồn đang khát khao tình yêu và ơn cứu độ.

Là những người sống ở miền Tây sông nước, chúng ta hiểu rõ hơn ai hết hình ảnh cánh đồng lúa. Khi lúa đã chín vàng mà thiếu thợ gặt, người nông dân sẽ vô cùng sốt ruột, vì chỉ cần một cơn mưa dông, lúa sẽ ngã đổ và hư hao. Chúa Giêsu cũng đang sốt ruột như thế trước cánh đồng nhân loại.

Ngày nay, cánh đồng ấy ở ngay bên cạnh chúng ta: là những người trẻ đang mất phương hướng giữa dòng đời; là những gia đình đang nguội lạnh đời sống đạo; là những người đau bệnh, neo đơn cần một lời ủi an; và là biết bao anh chị em chưa nhận biết Chúa. Vấn đề không phải là không có cánh đồng, mà là chúng ta có đủ tinh tường để nhìn thấy hay không.

Nhiều cụ ông, cụ bà thường bảo: "Tôi già rồi, đâu còn làm được gì cho Giáo Hội". Không phải thế! Quý cụ có thể cầu nguyện. Quý gia trưởng có thể làm gương đức tin. Quý hiền mẫu có thể dạy con cháu sống bác ái. Đôi khi, một lời khuyên chân thành, một cuộc viếng thăm, hay một chuỗi Mân Côi âm thầm lại mang về hoa trái thiêng liêng nhiều hơn chúng ta tưởng.

3. Tin Mừng hôm nay không dừng lại ở cái nhìn cảm xúc. Sau khi thấy và thương, Chúa Giêsu sai các môn đệ lên đường. Người không bảo các ông đứng đó để xót xa, nhưng sai các ông đi chữa lành, nâng đỡ và loan báo Tin Mừng. Người môn đệ đích thực không chỉ biết nhìn, mà phải biết hành động: Thấy người nghèo thì giúp đỡ, thấy người đau khổ thì an ủi, thấy công việc chung của Giáo Hội thì quảng đại cộng tác.

Đôi khi chúng ta nghĩ truyền giáo là việc của các linh mục, tu sĩ. Thực ra, mỗi Kitô hữu đều là một nhà truyền giáo ngay tại gia đình mình. Một người cha sống ngay thẳng, một người mẹ sống yêu thương, người ông người bà siêng năng kinh lễ, đó đã là bài giảng hùng hồn nhất cho con cháu. Người ta thường nói: "Con trẻ ít khi nghe lời ta dạy, nhưng lại rất hay bắt chước cách ta sống". Vì thế, truyền giáo trước hết không phải bằng môi miệng, mà bằng chính đời sống chứng tá mỗi ngày.

Lời bài hát năm xưa ca ngợi đôi mắt biết nhìn thấy vẻ đẹp cuộc đời. Còn Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta biến đôi mắt mình nên giống đôi mắt Chúa: Đôi mắt biết xót thương nỗi đau của tha nhân, biết nhận ra cánh đồng truyền giáo quanh mình, và biết biến tình thương thành hành động cụ thể.

Xin Chúa cho mỗi người chúng ta, cách riêng là quý cụ, quý gia trưởng và quý hiền mẫu, biết nhìn người thân và anh chị em xung quanh bằng ánh mắt của Chúa. Để gia đình chúng ta trở thành nơi gieo mầm đức tin, để họ đạo chúng ta trở thành một cánh đồng đầy những người thợ nhiệt thành, và để cuộc đời chúng ta phản chiếu trọn vẹn khuôn mặt đầy lòng thương xót của Chúa Giêsu giữa thế giới hôm nay. Amen.

 

SUY NIỆM 9: ĐỘI HÌNH TRONG MƠ VÀ NHỮNG "NGỰA Ô" CỦA CHÚA GIÊSU

Những ngày này, bầu không khí của World Cup 2026 đang làm nóng cả thế giới. Điều hấp dẫn nhất của môn thể thao vua không chỉ là những bàn thắng đẹp hay những ngôi sao triệu đô, mà chính là những bất ngờ không ai dự đoán trước được.

Trong lịch sử bóng đá, người ta vẫn nhắc đến những "ngựa ô" làm nên kỳ tích: Năm 2002 là Hàn Quốc vào bán kết; năm 2018 là Croatia tiến vào trận chung kết; và năm 2022 là Maroc, đội bóng châu Phi đầu tiên góp mặt trong tứ hùng thế giới. Họ không phải là những đội bóng mạnh nhất, không sở hữu những cầu thủ đắt giá nhất. Nhưng họ chiến thắng bằng tinh thần chiến đấu quả cảm, sự đoàn kết và một niềm tin không bao giờ bỏ cuộc.

Bóng đá để lại một bài học thú vị: Đội hình toàn ngôi sao chưa chắc đã chiến thắng, nhưng một tập thể đồng lòng có thể làm nên lịch sử.

1. Chúa không chọn người giỏi nhất, Ngài chọn người sẵn sàng nhất

Tin Mừng hôm nay cũng giới thiệu cho chúng ta một "đội bóng ngựa ô" như thế, đó là: Nhóm Mười Hai Tông Đồ. Nếu xét theo tiêu chuẩn tuyển chọn của thế gian, đây hoàn toàn không phải là một "đội hình trong mơ". Họ không có học giả lỗi lạc, không có chính khách quyền lực, cũng chẳng có tướng lĩnh tài ba. Đội hình ấy chỉ gồm những ngư phủ nghèo miền quê Galilê: Một Phêrô nóng nảy, bồng bột. Một Gioan và Giacôbê đầy tham vọng, từng đòi xin lửa từ trời thiêu hủy kẻ khác. Một Matthêu thu thuế bị người đời khinh ghét. Một Tôma hay nghi ngờ. Và thậm chí, có cả Giuđa Ítcariốt, kẻ sau này phản bội Thầy.

Vậy mà, chính từ nhóm người đầy khiếm khuyết ấy, Chúa Giêsu đã làm nên một cuộc cách mạng tình yêu lan rộng khắp thế giới suốt hơn hai ngàn năm qua. Điều đó minh chứng cho một sự thật rất đẹp: Chúa không chọn những người giỏi nhất, nhưng Ngài làm cho những người được chọn trở nên hữu ích cho Nước Trời.

Nhìn lại bài đọc một, Thiên Chúa chọn dân Israel không phải vì họ hùng mạnh hay văn minh nhất, mà đơn giản vì Ngài yêu thương họ. Các tông đồ cũng vậy. Nếu ngày hôm nay Giáo hội đăng tuyển nhân sự cho dự án "Loan báo Tin Mừng toàn cầu", hồ sơ của các ông chắc chắn sẽ bị loại từ vòng gửi xe. Họ thiếu bằng cấp, thiếu kỹ năng quản trị, thiếu cả tài thuyết trình. Thế nhưng, Chúa Giêsu vẫn chọn họ. Bởi vì điều Chúa cần không phải là một bản sơ yếu lý lịch hoàn hảo, mà là một trái tim sẵn sàng.

Nhiều khi, chúng ta ngần ngại dấn thân vì nghĩ mình tầm thường: "Tôi chưa đủ đạo đức", "Tôi thiếu tài năng", "Tôi còn nhiều yếu đuối". Nhưng trên sân cỏ của Nước Trời, Chúa không hỏi: "Ta giỏi đến mức nào?", Ngài chỉ hỏi: "Ta có sẵn sàng ra sân với Thầy không?". Thiên Chúa luôn biết cách vẽ đường thẳng trên những đường cong, và biến những con người bình thường làm nên những điều phi thường.

2. Trái tim chạnh lòng thương – Chiến thuật cốt lõi của môn đệ

Thánh Matthêu trong bài Tin Mừng hôm nay cho ta biết: "Thấy dân chúng, Ngài chạnh lòng thương". Có thể xem đây chính là "bí quyết chiến thuật" tuyệt diệu của Huấn luyện viên Giêsu. Ngài không nhìn nhân loại bằng ánh mắt phán xét hay cân đo đong đếm, Ngài nhìn bằng ánh mắt của lòng xót thương khi thấy họ "lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt".

Thánh Phaolô trong bài đọc hai còn đẩy định nghĩa ấy đi xa hơn: "Đức Kitô đã chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi". Nghĩa là, Chúa đã yêu thương chúng ta trước khi chúng ta xứng đáng được yêu.

Anh chị em thân mến, thế giới công nghệ năm 2026 hôm nay đang có quá nhiều người khát khao tình thương ấy.

Có những người sở hữu hàng ngàn lượt theo dõi trên mạng xã hội, nhưng không có nổi một người bạn thực sự ở đời thực. Có những bạn trẻ luôn đăng ảnh check-in vui vẻ, nhưng sâu thẳm bên trong là một khoảng trống cô đơn. Có những người thành công vang dội, nhưng lại mất phương hướng về ý nghĩa cuộc đời.

Chúng ta đang sống trong thời đại kết nối mạnh mẽ nhất, nhưng trớ trêu thay, lại là thời đại cô đơn nhất lịch sử. Thế giới không thiếu thông tin, thế giới đang khát những trái tim biết cảm thông. Một lời động viên kịp thời, một tin nhắn hỏi thăm chân thành, một sự hiện diện thầm lặng nhưng thấu hiểu… đó chính là "bàn thắng" Tin Mừng sống động nhất mà chúng ta có thể ghi vào lòng người khác.

3. Sân đấu ở ngay quanh ta và không có ghế dự bị

Tin Mừng tường thuật tiếp: Khi nhìn vào cánh đồng lúa chín vàng, Chúa Giêsu đã thốt lên: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít". Nghe câu này, chúng ta thường nghĩ đến những vùng truyền giáo mênh mông xa xôi. Nhưng đối với mỗi chúng ta hôm nay, "sân đấu" truyền giáo nằm ngay dưới chân mình: là giảng đường, văn phòng, xóm đạo, và cả không gian mạng nơi chúng ta lướt mỗi ngày trên Facebook, TikTok hay Instagram.

Chúng ta dành hàng giờ trên không gian ảo, vậy tại sao không biến nó thành sàn đấu của những điều tử tế? Một bài viết truyền cảm hứng, một lời bình luận ôn hòa bênh vực sự thật, một lối sống ngay thẳng giữa một thế giới đầy rẫy những "content" độc hại… Đó chính là truyền giáo! Chúa Giêsu không muốn chúng ta ngồi trên khán đài để làm một "bình luận viên" về thế giới. Ngài muốn chúng ta xỏ giày vào và bước xuống sân.

Hãy nhớ rằng: trong đội hình của Chúa, không có cầu thủ ngồi ghế dự bị.

Trong bóng đá, danh sách thi đấu thì có giới hạn. Nhưng trong sơ đồ chiến thuật của Thiên Chúa, mỗi người là một vị trí không thể thay thế, với một sứ mạng riêng biệt: Ai có giọng hát, hãy phục vụ bằng lời ca tiếng đàn. Ai có đầu óc tổ chức, hãy dấn thân cho các hội đoàn, giới trẻ. Ai sâu sắc, biết lắng nghe, hãy đồng hành với những tâm hồn tổn thương. Ai có sức trẻ, hãy mang năng lượng ấy phục vụ họ đạo và xã hội.

Trong Giáo hội, không ai là người thừa, không ai vô dụng, và không ai bị bỏ quên. Chúa cần tất cả chúng ta. Ngài vẫn đang đi ngang qua nhịp sống hối hả của năm 2026 này để mời gọi: "Thầy cần thêm thợ gặt". Và biết đâu, người cầu thủ chiến lược mà Chúa đang tìm kiếm, chính là bạn!

Quý cộng đoàn thân mến, Tiếng còi khai cuộc của Thiên Chúa đã vang lên. Trận đấu của Tin Mừng đang diễn ra vô cùng kịch tính ngoài kia. Đừng chỉ làm khán giả của đời sống đức tin. Đừng chỉ ngồi trên khán đài xem người khác sống đạo. Nhưng hãy bước xuống sân! Hãy khoác lên mình màu áo của Đức Kitô, nhận lấy vị trí của mình và chạy hết mình với sứ mạng. Dù ta có tầm thường đến đâu, khi đặt cuộc đời mình vào tay Vị Huấn Luyện Viên Giêsu, Ngài sẽ biến ta thành những "người hùng".

Biết đâu, chính những chú "ngựa ô" đang ngồi trong ngôi nhà thờ này ngày hôm nay, sẽ làm nên những điều kỳ diệu làm rung chuyển thế giới ngày mai, bằng tình yêu hy sinh và cống hiến hết mình cho Nước Trời. Amen.


Thứ hai: 1V 21,1-16; Mt 5,38-42

SUY NIỆM 1:

Chúa Giêsu khẳng định: “Ta đến để kiện toàn lề luật và các tiên tri.” Do tác động thay đổi của xã hội qua dòng thời gian, nhất là vào thời Chúa Giêsu, các nhà lãnh đạo tôn giáo đã có sự giải thích sai lệch về lề luật Chúa nên cần phải kiện toàn. 

Trong những đoạn Tin mừng trước, Matthêu cho biết Chúa Giêsu đã kiện toàn khá nhiều luật như: luật giết người, luật đơn hôn và vĩnh hôn, luật thề hứa…tiếp tục hôm nay là luật báo oán.

Theo lẽ công bằng thì: "hòn đá ném đi, thì hoàn chì ném lại; hay bánh ếch đi thì bánh quy lại"…đã trở thành nguyên tắc và lẽ sống tự nhiên trong xã hội.

Trong sách Lêvi cũng dạy rằng: “người nào đả thương đến sinh mạng người khác tất phải chết, người nào gây thương tích cho người khác, nó đã làm sao thì người ta sẽ làm cho nó như vậy: gãy đền gãy, mắt đến mắt, răng đền răng.” (Lv 24, 17-20).

Nhưng đối với tinh thần Kitô giáo, cách hành xử với nhau không chỉ dựa trên lẽ công bằng mà còn phải được đặt trên nền tảng của bác ái nữa. Vì thế, nếu trả thù theo lẽ công bằng thì tiếp tục gây thêm oán thù chồng chất “oán báo oán, oán chồng chất”. Do đó, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy bao dung và tha thứ cho nhau. Chẳng những tha thứ mà còn tích cực làm ơn cho những ai làm hại chúng ta nữa vì “lấy ơn trả oán, oán tiêu tan”.

Tha thứ cho những ai làm tổn thương ta đã là khó, làm ơn cho kẻ hại ta quả là điều không dễ chút nào với sức tự nhiên của con người. Nhưng đó lại là điều có thể với ơn ban của Chúa.

Xin Chúa thêm sức mạnh cho chúng ta, để ta đủ can đảm thi hành điều Chúa chỉ dạy là tha thứ và làm ơn cho hết mọi người, nhất là những ai gây đau khổ cho chúng ta.

 

SUY NIỆM 2: VƯỢT THẮNG SỰ DỮ BẰNG ĐIỀU THIỆN

Lời Chúa hôm nay đặt trước mắt chúng ta hai cách hành xử hoàn toàn trái ngược nhau.

Trong bài đọc I, chúng ta chứng kiến lòng tham và sự độc ác của hoàng hậu Giêdaben. Chỉ vì muốn chiếm đoạt vườn nho của ông Nabốt, bà đã dùng quyền lực, vu khống người vô tội và cuối cùng đẩy ông đến cái chết. Một lòng tham nhỏ bé đã dẫn đến một tội ác lớn lao.

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu lại dạy một con đường hoàn toàn khác: “Đừng chống cự người ác; trái lại, nếu ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên kia nữa.”

Thoạt nghe, lời dạy này có vẻ khó hiểu. Chúa Giêsu không cổ võ sự hèn nhát, cũng không khuyến khích để cho sự dữ lộng hành. Điều Người muốn dạy là: đừng lấy sự dữ đáp lại sự dữ, đừng lấy hận thù nuôi dưỡng hận thù.

Giêdaben chọn con đường của quyền lực, bạo lực và ích kỷ. Chúa Giêsu chọn con đường của yêu thương, tha thứ và quảng đại. Một bên làm phát sinh cái chết; bên kia đem lại sự sống.

Trong cuộc sống hằng ngày, nhiều khi chúng ta cũng dễ mang tâm trạng: “Ai đối xử với tôi thế nào, tôi sẽ đối xử lại như vậy.” Một lời nói xúc phạm kéo theo một lời xúc phạm khác; một sự tổn thương dẫn đến một sự trả đũa khác. Kết quả là vòng xoáy hận thù cứ tiếp tục lan rộng.

Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ sống khác. Người muốn chúng ta có một trái tim tự do đến mức không để sự ác điều khiển phản ứng của mình. Người mạnh nhất không phải là người trả đũa được, nhưng là người biết làm chủ bản thân và biết tha thứ.

Thánh Phaolô sau này đã diễn tả tinh thần ấy bằng một câu rất đẹp: “Đừng để sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác.”

Chúa Giêsu đã chiến thắng sự dữ không bằng bạo lực nhưng bằng tình yêu. Xin cho chúng ta biết làm chủ cơn nóng giận, biết từ bỏ tinh thần trả đũa và biết lấy điều thiện đáp lại điều ác. Xin cho đời sống chúng ta trở thành dấu chỉ của lòng thương xót và bình an giữa thế giới còn nhiều hận thù hôm nay. Amen.

 

Thứ ba: 1V 21,17-29; Mt 5,43-48

SUY NIỆM 1: 

Tiếp tục là đề tài kiện toàn lề luật và các lời tiên tri, tin mừng hôm nay cho biết Chúa Giêsu kiện toàn luật báo oán bằng luật yêu thương và nâng luật yêu thương lên một tầm mức hoàn hảo. Xin Chúa uốn lòng chúng ta theo trái tim của Chúa để chúng ta biết yêu thương mọi người "như Chúa yêu" chúng ta.

Tất cả các lề luật đều được tóm lược vào 1 điều duy nhất là "yêu thương". Nhưng yêu ai? và yêu như thế nào? đó là điều mà sứ điệp lời Chúa muốn đề cập trong bài Tin mừng hôm nay.

 “Tình Yêu” chính là luật điều quan trọng nhất mà TC đã truyền dạy nhân loại trong thời Cựu ước qua sách Đệ-nhị-luật và Lê-vi: “Yêu Chúa hết lòng hết linh hồn hết trí khôn và yêu tha nhân như chính mình”. 

Với người Do Thái, người thân cận là những người cùng huyết thống, cùng màu da, cùng tôn giáo, cùng tộc chủng mình…, còn những người vượt ra ranh giới và quy định giới hạn ấy thì họ xem là người xa lạ, không phải là đối tượng để họ yêu thương.

Bởi thế Chúa Giêsu đã chấn chỉnh lại ý hướng sai lệch của họ bằng cách cho biết rằng mọi người đều được Thiên Chúa dựng nên giống hình ảnh Ngài nên tất cả đều là con cái của Chúa, và là anh em với nhau. Cho nên đối tượng của tình yêu phải là phổ quát, nghĩa là yêu hết mọi người không trừ ai cả.

Vì vậy, để xứng đáng trở thành môn đệ Chúa Giê-su thì điều căn bản là ta phải “yêu như Chúa yêu” (x. Ga 15,12). Đó là một tình yêu tự hủy (Thập Giá), tình yêu dâng hiến (Thánh Thể) và tình yêu trao ban (Thánh Tâm). Chính khi chúng ta biết "yêu như Chúa yêu" như thế, ta mới trở nên người công chính và xứng danh là con của Chúa.

Xin Chúa ban ơn giúp sức để chúng ta biết "yêu như Chúa yêu", ngay cả những ai làm hại chúng ta.


SUY NIỆM 2: YÊU NHƯ THIÊN CHÚA YÊU

Lời Chúa hôm nay đưa chúng ta đến với một trong những đòi hỏi cao nhất của Tin Mừng: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” (Mt 5,44)

Đây không chỉ là một lời khuyên đạo đức, mà là một lối sống làm nên nét độc đáo của người môn đệ Đức Kitô.

1. Thiên Chúa không muốn kẻ tội lỗi phải chết

Trong bài đọc I, sau khi vua Akháp cướp đoạt vườn nho và gián tiếp gây ra cái chết của ông Nabốt, Thiên Chúa sai ngôn sứ Êlia đến tố cáo tội lỗi của nhà vua.

Akháp quả thực đáng bị trừng phạt. Thế nhưng điều đáng ngạc nhiên là khi nghe lời cảnh báo, ông đã ăn chay, mặc áo nhặm và tỏ lòng thống hối. Trước sự hoán cải ấy, Thiên Chúa liền nói với Êlia: “Ngươi có thấy Akháp đã hạ mình trước mặt Ta không? Vì nó đã hạ mình trước mặt Ta, nên Ta sẽ không giáng tai họa ấy trong đời nó.”

Qua đó, chúng ta nhận ra một chân lý quan trọng: Thiên Chúa công minh nhưng cũng rất giàu lòng thương xót. Ngài ghét tội lỗi nhưng luôn yêu thương người tội lỗi và mong họ trở về.

2. Yêu kẻ thù là yêu như Thiên Chúa

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đưa luật yêu thương lên tới đỉnh cao: “Anh em hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.”

Theo lẽ tự nhiên, chúng ta dễ yêu người yêu mình, dễ giúp đỡ người tốt với mình. Nhưng yêu người làm tổn thương mình lại là điều rất khó.

Chính vì thế, Chúa Giêsu đưa ra mẫu gương là chính Thiên Chúa: “Người cho mặt trời mọc lên trên kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính.”

Tình yêu của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi công trạng hay lỗi lầm của con người. Ngài vẫn ban ơn, vẫn kiên nhẫn chờ đợi, vẫn mở ra cơ hội cho người tội lỗi hoán cải.

Yêu kẻ thù không có nghĩa là đồng tình với điều xấu hay bỏ qua công lý. Nhưng đó là từ chối nuôi dưỡng hận thù, từ chối trả đũa và vẫn mong điều tốt lành cho người đã làm hại mình.

3. Sự hoàn thiện của người Kitô hữu

Tin Mừng kết thúc bằng một lời mời gọi rất mạnh mẽ: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.”

Sự hoàn thiện mà Chúa Giêsu nói đến không phải là không bao giờ sai lỗi. Chỉ mình Thiên Chúa mới hoàn hảo tuyệt đối.

Sự hoàn thiện của người Kitô hữu là biết yêu thương ngày càng giống Thiên Chúa hơn: yêu thương không tính toán, tha thứ không giới hạn, quảng đại không điều kiện.

Thánh nhân không phải là người không bao giờ bị xúc phạm, nhưng là người biết tha thứ. Thánh nhân không phải là người không có kẻ thù, nhưng là người biết cầu nguyện cho kẻ thù.

Tha thứ không làm cho người khác trở nên đúng, nhưng giúp tâm hồn chúng ta được tự do. Yêu thương không làm mất đi phẩm giá của mình, nhưng giúp chúng ta trở nên giống Thiên Chúa hơn.

Xin Chúa cho chúng ta có một trái tim giống trái tim Chúa. Khi bị xúc phạm, xin cho chúng ta biết tha thứ. Khi bị hiểu lầm, xin cho chúng ta biết cầu nguyện. Khi gặp những người khó thương, xin cho chúng ta vẫn biết yêu thương như Chúa đã yêu. Nhờ đó, đời sống chúng ta trở thành chứng tá sống động cho lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa giữa thế giới hôm nay. Amen.

 

 SUY NIỆM 3: CÁC CẤP ĐỘ CỦA TÌNH YÊU

Mở đầu thông điệp Deus Caritas Est (Thiên Chúa là Tình Yêu), Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã lấy chính lời của thánh Gioan làm nền tảng cho toàn bộ suy tư của mình: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,8). Và ngài nhấn mạnh đến chân lý cốt lõi của đời sống Kitô hữu: “Ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1 Ga 4,16).

Đây chính là trung tâm của đức tin Kitô giáo. Trước khi về cùng Chúa Cha, Đức Giêsu đã xây dựng Hội Thánh trên nền tảng tình yêu: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, thì Thầy cũng yêu mến anh em như vậy” (Ga 15,9). Đồng thời, Người trao cho các môn đệ điều răn mới: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12).

Khi nói đến tình yêu, người Hy Lạp cổ đại thường phân biệt bốn hình thức khác nhau. Thứ nhất là Storge, tình cảm tự nhiên giữa những người thân trong gia đình. Thứ hai là Philia, tình bạn được xây dựng trên sự đồng cảm và gắn bó. Thứ ba là Eros, tình yêu mang tính lôi cuốn, say mê và khát vọng chiếm hữu. Cuối cùng là Agape, tình yêu vị tha, quảng đại và hiến dâng vô điều kiện.

Khi giáo huấn các môn đệ về tình yêu, Đức Giêsu không dừng lại ở Storge, Philia hay Eros, nhưng hướng con người đến Agape. Đây là tình yêu xuất phát từ Thiên Chúa, được nuôi dưỡng bởi đức tin và đạt đến đỉnh cao nơi sự trao hiến bản thân. Chính Đức Giêsu đã khẳng định: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu” (Ga 15,13).

Trong thông điệp Deus Caritas Est, Đức Bênêđictô XVI đã làm nổi bật sự khác biệt giữa Eros và Agape. Eros là tình yêu hướng lên để tìm kiếm và chiếm hữu điều mình mong muốn; còn Agape là tình yêu cúi xuống để phục vụ và trao ban. Eros thường bắt đầu từ nhu cầu của bản thân, trong khi Agape khởi đi từ thiện ích của người khác. Vì thế, Agape chính là khuôn mặt đích thực của tình yêu Kitô giáo.

Tình yêu Agape mang những nét đặc trưng của lòng bác ái, sự cảm thông, tha thứ và quảng đại. Đó là tình yêu không tính toán thiệt hơn, không cân đo đong đếm, không bị giới hạn bởi màu da, ngôn ngữ, dân tộc, địa vị xã hội hay tôn giáo. Agape mở rộng vòng tay với mọi người, phá đổ những bức tường ngăn cách để người xa lạ trở thành anh em, người phục vụ trở thành bạn hữu.

Hơn thế nữa, Agape còn là tình yêu mang chiều kích phổ quát. Tình yêu ấy không chỉ dành cho con người mà còn mở rộng đến công trình tạo dựng, đến thiên nhiên và môi trường sống. Đó là tình yêu phản chiếu chính trái tim của Thiên Chúa.

Đức Giêsu là hiện thân trọn vẹn của tình yêu Agape. Người đã từ bỏ vinh quang Thiên Chúa để trở nên người phàm, chia sẻ thân phận con người và hiến mạng sống trên thập giá vì nhân loại. Thánh Gioan diễn tả cách ngắn gọn nhưng sâu sắc: “Người đã yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1).

Bởi vậy, không ai có thể sống đức tin Kitô giáo mà thiếu tình yêu. Thánh Gioan khẳng định: “Tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa” (1 Ga 4,7). Và ngài cũng cảnh báo: “Ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối” (1 Ga 4,20).

Thật vậy, yêu thương trước hết là một hồng ân Thiên Chúa ban. Từ hồng ân ấy phát sinh sự cảm thông, chia sẻ, tha thứ và phục vụ. Tình yêu chính là linh hồn của đời sống đức tin. Không phải những việc đạo đức bề ngoài, nhưng chính tình yêu mới là thước đo giá trị của người môn đệ Đức Kitô.

Điều này được cha Henri Denis Benoît Thuận diễn tả thật đơn sơ mà sâu sắc khi ngài dạy các đan sĩ:

“Cái đạo ăn chay, cái đạo đánh tội, cái đạo Chầu Thánh Thể, cái đạo ấy dễ mà không chắc chi; còn cái đạo yêu thương anh em, đạo ấy thì chắc là đạo” (Di Ngôn, số 12).

Quả thật, khi trao cho nhau tình yêu chân thành, chúng ta mới thực sự là môn đệ của Chúa Giêsu, như chính Người đã nói: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35).

Người Kitô hữu yêu thương không chỉ vì tình cảm tự nhiên, nhưng vì nhìn thấy hình ảnh Thiên Chúa nơi người anh em. Đức mến hướng về Thiên Chúa và được thể hiện cụ thể qua tình yêu đối với tha nhân. Mến Chúa và yêu người không phải là hai điều tách biệt, nhưng là hai mặt của cùng một giới răn.

Tình yêu Agape không nằm ở sự chiếm hữu nhưng ở sự cho đi. Thiên Chúa là Đấng yêu thương bằng tình yêu cho đi cách trọn vẹn nhất. Tình yêu ấy không đòi hỏi đáp trả, không tìm kiếm lợi ích cho mình, nhưng hoàn toàn hướng đến hạnh phúc của người khác. Chính tình yêu Agape đã đưa Đức Giêsu lên thập giá để đem lại ơn cứu độ cho nhân loại.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta bước đi trên con đường tình yêu ấy. Trong gia đình, nơi cộng đoàn, giữa môi trường xã hội hôm nay, chúng ta được mời gọi trở thành chứng nhân cho tình yêu của Thiên Chúa. Như Chúa Cha đã yêu Chúa Con và như Chúa Con đã yêu thương chúng ta, chúng ta cũng được mời gọi trao ban tình yêu ấy cho tha nhân.

Khi biết đáp lại tình yêu của Thiên Chúa và thực thi giới luật yêu thương, chúng ta không chỉ làm đẹp lòng Chúa mà còn được hưởng niềm vui sâu xa của những người đang ở lại trong tình thương của Người. Đó chính là niềm vui mà Đức Giêsu đã hứa ban cho các môn đệ, niềm vui không ai có thể lấy mất được.


BÀI ĐỌC THÊM: 7 LOẠI TÌNH YÊU MÀ CHÚNG TA THƯỜNG TRẢI QUA TRONG ĐỜI

Trong tâm lý học tình yêu, những kiểu yêu mà chúng ta trải qua trong cuộc sống có thể được phân chia làm 7 loại như sau. Bạn đã từng trải qua tình yêu nào rồi?

Khi nói về tình yêu trong thời hiện đại, chúng ta thường liên tưởng ngay đến khái niệm khá chung chung tình yêu lãng mạn (romantic love). Có lẽ vì các lĩnh vực có sức ảnh hưởng tinh thần lớn là văn học, âm nhạc và điện ảnh thường tập trung khai thác kiểu tình yêu này, vô hình trung chiếm lấy sự chú ý cho các kiểu còn lại.

Chúng ta gặp nhiều người trong cuộc sống, hiển nhiên cũng sẽ trải qua nhiều kiểu yêu thương khác nhau. Theo quan điểm của người Hy Lạp cổ đại, tình yêu mà chúng ta thường trải qua trong cuộc sống được phân chia làm 7 loại như sau. (Nguồn: Psychlogy Today)

1. Eros-Tình yêu đam mê

Eros là tình yêu đam mê, hay sự gắn bó có sức hấp dẫn về tình dục. Đây là loại tình yêu gần nghĩa nhất với quan niệm tình yêu lãng mạn thời hiện đại. Cái tên Eros bắt nguồn từ tên thần tình ái trong thần thoại Hy Lạp (tương tự như thần Cupid trong thần thoại La Mã). Động cơ của Eros có sự tương đồng với quan điểm ý chí của nhà triết học Schopenhauer rằng: thế giới bắt nguồn từ bản năng vô thức nhằm tồn tại và duy trì nòi giống của con người.

Eros thường bị nhầm lẫn rằng bắt buộc phải có yếu tố tình dục. Tuy nhiên, đó chỉ là một yếu tố vật lý gia tăng đam mê giữa hai bên và hoàn toàn không phải hấp dẫn về tình yêu lãng mạn (romantic attraction). Do vậy những người vô tính (asexual) vẫn trải qua tình yêu Eros bình thường.

2. Philia-Tình bạn

Philia là tình bạn, và nền tảng của tình yêu này là sự chia sẻ thiện chí với nhau. Trong một bài đăng trên trang Insider, nhà triết học Aristole cho rằng bạn có thiện chí làm bạn với ai đó vì một trong ba lý do sau:

·  Người đó hữu ích cho bạn (giá trị lợi ích)

·  Người đó đem lại cảm xúc vui sướng cho bạn (giá trị tinh thần)

·  Trên tất cả, đó là một người tốt cho bạn (tổng hòa của 2 yếu tố trên)

Trong đó, tình bạn vì lý do cuối cùng mang lại giá trị và sự gắn bó cao nhất trong loại tình yêu Philia này. Khi tình cảm vững bền, những lợi ích chung (công việc, tài chính, mối quan hệ,…) sẽ xuất hiện như những hệ quả tích cực.

Ngoài ra, Philia còn là chất keo gia cố và bồi đắp tình yêu Eros bền vững hơn. Tình bạn làm giảm đi ham muốn sở hữu nhau để thỏa mãn cái tôi và biến chuyển thành mong muốn được thấu hiểu mỗi bên lẫn thế giới xoay quanh ở mức độ sâu sắc hơn.

3. Storge-Tình cảm gia đình

Storge là tình cảm gia đình (còn gọi là tình thân) — là một loại Philia nhưng trong các mối quan hệ gia đình (thường là cha mẹ, con cái, anh chị em, thú cưng). Khác với Eros hay Philia, Storge không phụ thuộc quá nhiều vào phẩm chất cá nhân của mỗi người để bắt đầu hay duy trì.

Rộng hơn, tình yêu gia đình là tình cảm được xây dựng từ sự thân thuộc, che chở nhau của con người. Vì vậy mà tình yêu gia đình không nhất thiết phải giữa những người có huyết thống với nhau.

Đây cũng là một bước phát triển về tình yêu của các cặp đôi Eros. Khi sự bổ sung và vun đắp tình cảm giữa hai bên đến một mức độ trưởng thành, tình ái sẽ dần chuyển thành tình thân. Đó cũng chính là nền tảng của một mối quan hệ bền lâu.

4. Agape-Lòng bác ái

Tha thứ cho bản thân mình, nghĩ đến những người liên quan khi hành động, cống hiến cho sự phát triển của cộng đồng, tất cả đều là biểu hiện của Agape mà bạn có thể đã từng trải qua.

Agape là tình yêu cho vạn vật, cụ thể là những khái niệm vĩ mô hơn như tình yêu đồng bào, đất nước, thiên nhiên hay thần linh. Một cách gọi khác của Agape theo các nhà tư tưởng Cơ đốc là lòng bác ái, khi tình thương yêu chuyển thành lòng vị tha với vạn vật xung quanh. Không giống như Storge, Agape không dựa trên mối quan hệ huyết thống hay gia đình, dù hai loại tình yêu này có mặt tương đồng về biểu hiện.

Lòng vị tha là một loại tình yêu tối quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sống của chúng ta vì nó nuôi dưỡng tâm lý của cá nhân, xã hội và nhận thức về môi trường. Đặc biệt trong bối cảnh nhiễu động về nhận thức của xã hội như hiện nay, tất cả những gì chúng ta cần đôi khi chỉ là lòng vị tha cho nhau.

5. Ludus-Tình cảm bông đùa

Các mối quan hệ tình một đêm (one night stand), friends with benefit là ví dụ điển hình của tình yêu Ludus. Đây là loại tình cảm không có bất cứ ràng buộc gì và chỉ đơn thuần “vui là chính”, hoặc đôi khi để thỏa mãn bản năng chinh phục. Ngoài ra, các dạng nhẹ nhàng hơn của Ludus là khi bạn trêu đùa, nhảy múa cùng nhau. Trọng tâm của tình cảm này luôn là niềm vui.

Ludus là một tình yêu đơn giản, không đòi hỏi và chỉ là hấp dẫn tình ái đơn thuần. Kiểu tình yêu này sẽ diễn ra thuận lợi nhất khi đôi bên đều đã trưởng thành và tự chủ tốt cảm xúc của chính mình. Những vấn đề phát sinh xoay quanh Ludus thường là khi một bên muốn chuyển từ Ludus sang Eros (tình yêu có gắn bó), trong khi Ludus lại tương thích nhiều hơn với Philia (tình bạn).

6. Pragma-Tình cảm lý trí

Pragma là một loại tình cảm thực tế, thậm chí là thực dụng vì lợi ích chung nào đó. Trong tình yêu này, tất cả hấp dẫn về lãng mạn, tình dục chỉ là yếu tố phụ vì Pragma tập trung vào việc đạt được những mục đích đã được đề ra. Những mối quan hệ Pragma có thể tồn tại lâu dài thường là một bên chấp nhận “nhắm mắt làm ngơ” hoặc là có sự cảm thông cho hành động của bên còn lại.

Trong quá khứ, các cuộc hôn nhân “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” khiến Pragma trở nên cực kỳ phổ biến trong xã hội cũ. Tuy nhiên đến thời hiện đại, những mối tình Pragma vẫn tồn tại đông đảo, đặc biệt trong xã hội châu Á luôn coi trọng địa vị và sự ngưỡng vọng của người khác. Một số lợi ích của các cặp đôi Pragma có thể kể đến như làm hài lòng bố mẹ, vì tương lai của con cái, tài chính, danh tiếng, tiếp quản/xây dựng quyền lực trong kinh doanh,…

7. Philautia-Tình yêu bản thân

Yêu thương chính mình, hay Philautia là lòng tự trắc ẩn cũng như lòng tự tôn của bạn. Hơn cả vậy, Philautia như một hệ thống cảm xúc phản chiếu những suy nghĩ, cảm nhận và hành động của bạn về chính mình và môi trường xung quanh.

Thực hành tình yêu Philautia lành mạnh, bạn sẽ có thêm sức bền trước những biến cố cũng như cởi mở hơn với những trải nghiệm để trưởng thành. Đây cũng là một hình thức để bồi đắp lòng vị tha (Agape).

Mặt trái của Philautia là khi bị tiêu cực hóa sẽ trở thành tự cao (Hubris). Tự cao là quá ham muốn địa vị, khả năng, thành tích, dẫn đến lừa dối bản thân rằng mình có điều đó (tương đồng với ái kỷ). Vì nó đi kèm với ảo vọng, vì vậy tự cao sẽ thúc đẩy bất công, xung đột và thù địch.

Kết

Tình yêu là một loại cảm xúc kỳ lạ và phức tạp, nhưng cũng rất tốt đẹp. Và trong tất cả những điều tốt đẹp của tình yêu, điều tốt nhất, đẹp nhất và đáng tin cậy nhất là sự chân thật và trí tuệ mà tình yêu mang lại cho con người. Đó là lý do khiến Plato xem tình yêu không phải là thần thánh mà là triết gia. (St).

 

Thứ tư: 2V 2,1.6-14; Mt 6,1-6.16-18

SUY NIỆM 1: KHO TÀNG ĐÍCH THỰC

Con người là sinh vật duy nhất ý thức rằng mình phải chết. Chính vì thế, từ ngàn xưa, con người luôn thao thức về ý nghĩa cuộc sống và số phận của mình sau cái chết. Hầu hết các tôn giáo đều tin rằng cuộc sống mai sau có liên hệ mật thiết với cách chúng ta sống ở đời này.

Tin Mừng hôm nay cho thấy một nghịch lý: ai cũng biết đời sống trần gian là tạm bợ, nhưng lại dành quá nhiều thời giờ để tích lũy những gì chóng qua, trong khi ít quan tâm đến kho tàng vĩnh cửu.

Người đời thường nói:

"Tiền là tiên là Phật,

là sức bật của lò xo,

là thước đo của lòng người..."

Quả thật, tiền bạc rất cần thiết cho cuộc sống. Nhờ tiền, con người có thể đáp ứng những nhu cầu vật chất, nuôi sống gia đình và xây dựng tương lai. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy tiền bạc không thể mua được tất cả. Tiền không thể mua được bình an nội tâm, tình yêu chân thành, sức khỏe bền vững hay hạnh phúc gia đình.

Chúa Giêsu không lên án của cải vật chất. Ngài chỉ cảnh báo chúng ta đừng biến tiền bạc thành mục đích tối hậu của cuộc đời. Bởi lẽ của cải dưới đất luôn mong manh: mối mọt có thể làm hư hại, trộm cướp có thể lấy mất, và chính cái chết sẽ buộc chúng ta phải từ bỏ tất cả.

Ngày nay, nhiều người vẫn dễ dàng chọn tiền bạc hơn Chúa. Có người bỏ lễ Chúa nhật vì công việc làm ăn; có người dành mọi thời giờ để kiếm sống mà quên chăm sóc đời sống thiêng liêng. Họ nghĩ rằng chỉ có của cải vật chất mới bảo đảm tương lai. Thế nhưng, càng tích lũy nhiều, người ta lại càng lo lắng nhiều hơn.

Người khôn ngoan đích thực không phải là người sở hữu nhiều của cải nhất, nhưng là người biết sử dụng của cải như phương tiện để đạt tới cùng đích là Nước Trời. Họ biết dành thời gian cho công việc, gia đình và xã hội, nhưng đồng thời cũng biết dành chỗ cho Thiên Chúa, cho việc cầu nguyện và những việc bác ái yêu thương.

"Hễ kho tàng anh em ở đâu, thì lòng anh em cũng ở đó." Nếu kho tàng của chúng ta là tiền bạc, lòng chúng ta sẽ mãi bị trói buộc vào tiền bạc. Nhưng nếu kho tàng của chúng ta là Thiên Chúa, thì cuộc đời sẽ tìm được sự bình an và niềm vui đích thực.

Xin Chúa cho chúng ta biết khôn ngoan sử dụng những của cải đời này để tích lũy kho tàng trên trời, là đức tin, lòng mến và những việc lành bác ái, hầu mai sau được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên Chúa.

 

SUY NIỆM 2: KHO TÀNG NÀO, TRÁI TIM ẤY

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tự hỏi: điều gì đang chiếm vị trí quan trọng nhất trong trái tim mình? Bởi vì nơi nào có kho tàng, nơi đó có trái tim.

Bài đọc I thuật lại câu chuyện đầy kịch tính trong lịch sử dân Chúa. Sau cái chết của vua Akhátgia, hoàng hậu Atalia tìm mọi cách tiêu diệt dòng dõi vua Đavít để bảo vệ quyền lực của mình. Nhưng giữa lúc tưởng chừng sự dữ chiến thắng, Thiên Chúa vẫn âm thầm hành động. Hoàng tử Giôát được cứu thoát và được bảo vệ trong Đền Thờ. Đến thời điểm Thiên Chúa định liệu, Giôát được tôn phong làm vua.

Atalia đã đặt kho tàng đời mình nơi quyền lực và ngai vàng. Cuối cùng, bà mất tất cả. Trái lại, chương trình của Thiên Chúa vẫn được thực hiện cách kỳ diệu.

Tin Mừng hôm nay tiếp tục đào sâu bài học ấy. Chúa Giêsu nói: "Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất... nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời."

Của cải vật chất không xấu. Nhưng khi chúng trở thành đối tượng của lòng tham và là chỗ dựa duy nhất của cuộc đời, chúng sẽ khiến con người xa Chúa và đánh mất chính mình.

Kho tàng trên trời chính là: Đức tin được nuôi dưỡng mỗi ngày. Những việc bác ái âm thầm. Những hy sinh vì Chúa và tha nhân. Sự trung thành trong bổn phận hằng ngày. Một đời sống công chính và yêu thương.

Đó là những kho tàng không ai có thể lấy mất.

Chúa Giêsu còn nói thêm: "Đèn của thân thể là con mắt." Con mắt ở đây tượng trưng cho cách nhìn và định hướng cuộc đời.

Nếu con mắt trong sáng, con người sẽ nhận ra những giá trị vĩnh cửu và biết hướng đời mình về Thiên Chúa. Nhưng nếu con mắt bị che phủ bởi tham vọng, ích kỷ hay lòng tham vật chất, tâm hồn sẽ dần chìm trong bóng tối.

Xã hội hôm nay thường đo giá trị con người bằng tiền bạc, địa vị và sự nổi tiếng. Nhưng dưới cái nhìn của Tin Mừng, người giàu nhất không phải là người có nhiều tiền nhất, mà là người có trái tim rộng mở nhất.

Chúng ta hãy tự hỏi: Kho tàng lớn nhất của tôi là gì? Tôi đang dành nhiều thời gian nhất cho điều gì? Điều gì đang chi phối những quyết định của tôi?

Câu trả lời sẽ cho thấy trái tim chúng ta đang thuộc về ai.

Xin Chúa giúp chúng ta biết sử dụng của cải như phương tiện chứ không phải mục đích. Xin cho mắt tâm hồn luôn hướng về Chúa, để chúng ta biết tích lũy những kho tàng không bao giờ hư mất là đức tin, đức cậy, đức mến và các việc lành bác ái. Amen.

 

SUY NIỆM 3: ĐÔI MẮT SÁNG SUỐT

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói về kho tàng và ngay sau đó nói về con mắt. Thoạt nghe, hai hình ảnh này dường như không liên quan với nhau. Nhưng thực ra, chúng gắn bó rất mật thiết.

Muốn tìm được kho tàng đích thực, trước hết chúng ta phải có đôi mắt sáng suốt.

Đôi mắt thể lý giúp ta nhìn thấy thế giới chung quanh; còn đôi mắt tâm hồn giúp ta nhận ra đâu là điều thật sự có giá trị. Nếu đôi mắt tâm hồn bị che phủ bởi lòng tham, ích kỷ hay những đam mê vật chất, chúng ta sẽ chỉ nhìn thấy những gì chóng qua và quên mất quê hương vĩnh cửu của mình.

Nhiều người ngày nay mắc chứng "cận thị thiêng liêng". Họ nhìn rất rõ những lợi ích trước mắt nhưng lại không thấy được những giá trị đời đời. Họ sẵn sàng hy sinh mọi thứ để có thêm tiền bạc, danh vọng hay quyền lực, nhưng lại ít quan tâm đến đời sống đức tin và phần rỗi linh hồn.

Muốn có đôi mắt sáng suốt, chúng ta cần thường xuyên thanh luyện tâm hồn. Những bụi bặm của ích kỷ, tham lam, giận hờn và thành kiến chính là những vật cản làm mờ tầm nhìn thiêng liêng của chúng ta.

Người ta thường nói: "Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn." Nhìn vào ánh mắt của một người, nhiều khi ta có thể nhận ra điều đang ngự trị trong trái tim họ. Một đôi mắt chất chứa hận thù sẽ khác với đôi mắt chan chứa yêu thương; một ánh mắt tham lam sẽ khác với ánh mắt bình an của người tín thác nơi Chúa.

Vì thế, mỗi ngày chúng ta hãy soi mình vào gương Lời Chúa để điều chỉnh cách nhìn của mình. Hãy học nơi Chúa Giêsu cái nhìn cảm thông, bao dung và nhân hậu. Hãy tập nhìn người khác bằng ánh mắt yêu thương thay vì xét đoán; nhìn những biến cố cuộc đời bằng ánh mắt đức tin thay vì bi quan thất vọng.

Khi đôi mắt tâm hồn được ánh sáng của Chúa soi chiếu, chúng ta sẽ nhận ra đâu là kho tàng đích thực và biết hướng trọn cuộc đời về Nước Trời.

Xin Chúa thanh luyện đôi mắt tâm hồn chúng ta, để biết yêu mến những sự trên trời hơn những gì chóng qua dưới đất. Xin cho ánh mắt chúng ta luôn phản chiếu sự dịu dàng, bình an và tình yêu của Chúa đến với mọi người. Amen.


Thứ năm: Hc 48,1-14; Mt 6,7-15

SUY NIỆM 1:

Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu nhấn mạnh đến 1 trong 3 đạo đức không thể thiếu được của người môn đệ Chúa. Đó là cầu nguyện.

Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa để gặp gỡ và hiệp thông với Ngài trong tình yêu, để cầu xin những ơn cần thiết. (GLCG. 2591).

Cầu nguyện được ví như hơi thở của linh hồn và là lương thực nuôi sống đức tin. Tất cả các tôn giáo đều đề cao việc cầu nguyện, bởi vì đó là cách thức tốt nhất để tiếp xúc thân mật với Thiên Chúa, nhờ đó ta dễ dàng nghe được tiếng Chúa nói; cũng như múc lấy sức mạnh thần thiêng Chúa ban, nhờ đó đức tin ta thêm vững mạnh.

Trong bài tin mừng hôm nay, ngoài việc Chúa cho các môn đệ biết nội dung phải cầu nguyện như thế nào qua "Kinh Lạy Cha"; Ngài còn nhấn mạnh đến hai điều quan trọng khi cầu nguyện cần phải có:

- 1 là không nên lãi nhãi nhiều lời khi cầu nguyện. Bởi vì Thiên Chúa là người Cha đầy yêu thương nên Ngài thấu hiểu mọi nhu cầu cần thiết của ta. Ngài sẽ ban cho chúng ta những gì thiện hảo nhất.

- 2 là phải loại trừ khỏi tâm trí mình mọi ý tưởng hận thù thay vào đó là tấm lòng bao dung tha thứ. Bởi có tha thứ cho tha nhân thì ta mới xứng đáng được Chúa tha thứ. Tha thứ là điều kiện căn bản để Chúa đón nhận của lễ và ban ơn cho chúng ta, nên Chúa phán: “Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình.” (Mt 5, 23-24). Có thể nói tha thứ chính là hoa trái của đức tin và là đỉnh cao của lòng thương xót.

Nếu cầu nguyện để nuôi sống và củng cố đức tin, thì tha thứ chính là hành động cụ thể để thể hiện đức tin ấy. Xin cho chúng ta biết siêng năng cầu nguyện để củng cố đức tin thêm vững mạnh, nhờ đó ta dễ dàng biết tha thứ cho nhau.

 

SUY NIỆM 2: CẦU NGUYỆN BẰNG TRÁI TIM NGƯỜI CON

Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta hiểu thế nào là cầu nguyện đích thực. Nếu bài Tin Mừng hôm qua nhấn mạnh đến việc cầu nguyện trong kín đáo, thì hôm nay Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện với tâm tình của người con thảo đối với Cha trên trời.

1. Ngôn sứ Êlia – con người của cầu nguyện

Bài đọc 1, sách Huấn Ca ca ngợi ngôn sứ Êlia như một vị đại ngôn sứ đầy quyền năng. Ông đã làm nhiều phép lạ phi thường: đóng cửa trời để ngăn mưa, làm cho lửa từ trời xuống, cho người chết sống lại, và cuối cùng được cất lên trời trong cỗ xe lửa. Nhưng nguồn gốc sức mạnh của Êlia không phải là bản thân ông. Tất cả đều phát xuất từ mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa. Ông là người sống trước mặt Chúa, lắng nghe Chúa và hoàn toàn tín thác vào Chúa.

Những phép lạ lớn lao ấy là kết quả của một đời sống cầu nguyện sâu xa. Điều đó nhắc chúng ta rằng sức mạnh thật sự của người Kitô hữu không nằm ở tài năng, địa vị hay khả năng riêng, nhưng nằm ở sự kết hiệp với Thiên Chúa.

2. Đừng lải nhải như dân ngoại

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nói: “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng cứ nói nhiều là được nhận lời.”

Chúa không cấm chúng ta cầu nguyện lâu hay lặp đi lặp lại một kinh nguyện. Chính Chúa cũng đã nhiều lần cầu nguyện suốt đêm. Điều Người muốn loại bỏ là quan niệm sai lầm cho rằng cầu nguyện chỉ là đọc thật nhiều lời để thuyết phục Thiên Chúa. Thiên Chúa không phải là một vị thần xa lạ cần được mua chuộc bằng những lời nói. Ngài là Cha yêu thương.

Vì thế Chúa Giêsu khẳng định: “Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.” Cầu nguyện không phải là thông báo cho Chúa điều Ngài chưa biết. Cầu nguyện là mở lòng mình cho Chúa, đặt cuộc đời mình trong bàn tay yêu thương của Ngài.

3. Kinh Lạy Cha – khuôn mẫu của mọi lời cầu nguyện

Sau đó, Chúa Giêsu dạy kinh Lạy Cha. Đây không chỉ là một kinh nguyện để đọc, mà còn là chương trình sống của người Kitô hữu.

- Trước hết, chúng ta hướng về Thiên Chúa và gọi Ngài là Cha.

- Chúng ta tìm kiếm danh Cha cả sáng và Nước Cha trị đến.

- Chúng ta xin lương thực hằng ngày.

- Chúng ta xin được tha thứ.

- Chúng ta xin được gìn giữ khỏi cám dỗ và sự dữ.

Điều đáng chú ý là không có chữ “con” hay “tôi”, mà là “chúng con”. Kinh Lạy Cha dạy chúng ta cầu nguyện không chỉ cho riêng mình nhưng cho cả cộng đoàn nhân loại.

Đặc biệt, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến việc tha thứ: “Nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em.” Người không thể vừa xin Chúa tha thứ vừa khép lòng trước anh chị em mình.

4. Tha thứ – điều kiện để lời cầu nguyện sinh hoa trái

Nhiều khi điều ngăn cản chúng ta đến gần Chúa không phải là sự yếu đuối, nhưng là sự cứng lòng. Một tâm hồn còn chất chứa hận thù thì khó cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa. Tha thứ không làm cho lỗi lầm trở thành đúng đắn, nhưng giải thoát trái tim chúng ta khỏi gánh nặng của oán hờn. Người biết tha thứ là người đang sống giống Thiên Chúa hơn mỗi ngày.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta:

- Cầu nguyện với lòng tin tưởng của người con thảo.

- Đọc kinh Lạy Cha cách chậm rãi và ý thức hơn.

- Xét lại xem trong lòng mình còn ai chưa thể tha thứ hay không.

Khi biết gọi Thiên Chúa là Cha và biết nhìn mọi người là anh chị em, đời sống cầu nguyện của chúng ta sẽ trở nên chân thành, sống động và sinh nhiều hoa trái.

Xin Chúa dạy chúng ta biết cầu nguyện không chỉ bằng môi miệng nhưng bằng cả trái tim. Xin cho chúng ta luôn tín thác vào tình yêu của Chúa Cha, biết tìm kiếm thánh ý Ngài hơn là ý riêng mình. Đặc biệt, xin ban cho chúng ta một trái tim quảng đại để biết tha thứ cho những người xúc phạm đến chúng con, hầu xứng đáng đón nhận lòng thương xót vô biên của Chúa. Amen.


Thứ sáu: 2V 11,1-4.9-18.20; Mt 6,19-23

SUY NIỆM 1:

Một triết gia đã nói: “Con người là một sinh vật duy nhất biết mình phải chết”. Lời của triết gia trên không những phản ánh về nỗi day dứt của con người trước sự sống chết mà còn là nỗi ám ảnh về số phận sau cái chết.

Hầu hết các tôn giáo đều tin vào sự sống đời sau. Và cho rằng sự sống mai sau tùy thuộc hoàn toàn vào cuộc sống đời này, vì thế mà nhiều người đồng tình với quan niệm nhân-quả, nghĩa là công-thưởng, tội-trừng. Tuy biết mình sẽ chết, sẽ sự sống lại và sẽ được thưởng hay bị phạt mai sau, nhưng có mấy ai biết quan tâm đến số phận mai sau của mình. Chính vì thế mà tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta đừng quá bận tâm lo lắng thu tích của cải chóng qua đời này mà quên lãng nhiệm vụ thu tích kho tàng bền vững mai sau trên trời.

Thiên hạ thường truyền khẩu với nhau bài vè này: 

Tiền là tiên là phật,

là sức bật của lò xo,

là thước đo của lòng người,

là sức khỏe của tuổi già,

là niềm vui của tuổi trẻ…,

có tiền mua tiên cũng được.  

Đúng vậy, bởi lẽ trong cuộc sống trần gian này ai cũng cần có tiền để sống. Có tiền mới mua được thực phẩm, đồ dùng; có tiền mới cho con cái ăn học; có tiền mới làm được việc này việc nọ; và có tiền ta mới có thể đi đây đi đó được… Do đó tiền bạc là thứ không thể thiếu, chính vì thế người ta phải ra sức làm việc để kiếm được thật nhiều tiền, càng tích lũy nhiều tiền càng tốt. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, tiền không phải là tất cả. Kinh nghiệm cho thấy có nhiều tiền chưa chắc có hạnh phúc. Bởi vì, ngoài tiền của vật chất ra, cuộc sống con người còn có những thứ khác cao quý hơn. Như được sống vui vẻ, bình an, hạnh phúc, gia đình êm ấm hòa thuận…Và vượt trên tất cả chính là khát vọng được trở nên hoàn thiện.

Thế nhưng, khi nhìn vào thực tế cuộc sống, dường như chọn lựa giữa Chúa và tiền của thật khó khăn. Nhiều người hãnh diện xưng mình là kitô hữu nhưng lại dễ dàng bỏ lễ ngày Chúa nhật để chọn tiền. Có người còn cho rằng đi lễ Chúa đâu có tiền, Chúa đâu cho cơm cho gạo để ăn... còn đi làm mới có cái để ăn. Nhiều người sẵn sàng bỏ những ngày Chúa nhật, lễ trọng để đi chơi, đi ăn cưới hoặc ăn giỗ mà không hề áy náy lương tâm. Họ sống theo kiểu “có thực mới vực được đạo.”

Thu tích tiền bạc của cải đời này được xem là xu hướng khôn ngoan của con người thời đại khi mà nền kinh tế khủng hoảng, bấp bênh nên việc tích lũy tiền của càng nhiềul càng tốt. Tuy nhiên khi có nhiều tiền của thu tích rồi, người ta cũng không cảm thấy vững dạ an lòng, vì mối mọt và trộm cướp luôn là hiểm họa đang trực chờ. 

Vậy người khôn ngoan đích thực là người biết phân bố thời gian sao cho hợp lý. Một phần thời gian ta lo cho sự sống thể xác của mình, một phần thời gian ta dành chăm lo gia đình, một phần ta phục vụ cho xã hội, nhưng đừng quên dành nhiều thời gian để chăm lo cho phần hồn và hạnh phúc đời đời của mình.

Xin cho chúng ta biết hướng tất cả mọi sự vào cùng đích là hạnh phúc vĩnh cửu nước trời để biết khôn ngoan sử dụng tiền của sao cho phù hợp ý Chúa, nhằm đảm bảo mai sau ta có được kho tàng vĩnh cửu trong nước trời.

 

SUY NIỆM 2: KHO TÀNG NÀO, TRÁI TIM ẤY

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại điều mình đang thực sự tìm kiếm trong cuộc đời. Bởi vì nơi nào chúng ta đặt kho tàng, nơi đó trái tim chúng ta sẽ hướng về.

1. Cuộc chiến giữa quyền lực và kế hoạch của Thiên Chúa

Bài đọc I kể lại một giai đoạn đầy sóng gió trong lịch sử dân Chúa. Sau khi vua Akhátgia qua đời, hoàng hậu Atalia đã tìm cách tiêu diệt tất cả những người thuộc dòng dõi vua Đavít để chiếm lấy ngai vàng. Đó là hành động phát xuất từ lòng tham quyền lực. Atalia muốn bảo vệ địa vị của mình bằng mọi giá, kể cả việc giết hại những người vô tội.

Thế nhưng Thiên Chúa vẫn âm thầm hành động. Hoàng tử Giôát được cứu thoát và được che giấu trong Đền Thờ suốt sáu năm. Đến thời điểm thích hợp, vị tư tế Giơhôiada đã đưa Giôát ra và tôn phong làm vua.

Qua biến cố này, chúng ta nhận ra rằng quyền lực, danh vọng và những tính toán của con người chỉ là tạm thời. Điều tồn tại mãi mãi là chương trình của Thiên Chúa.

Atalia đã đặt kho tàng đời mình nơi quyền lực, nên cuối cùng cũng mất tất cả.

2. Kho tàng ở đâu, lòng người ở đó

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu dạy: “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát và kẻ trộm khoét vách lấy đi.”

Chúa không lên án của cải vật chất. Của cải tự nó không xấu. Điều đáng lo là khi con người đặt tất cả niềm tin, hy vọng và hạnh phúc của mình vào những thứ chóng qua ấy.

Tiền bạc có thể mất. Danh vọng có thể tàn. Sắc đẹp có thể phai. Quyền lực có thể qua đi. Nếu đó là kho tàng duy nhất của chúng ta, thì khi chúng mất đi, tâm hồn chúng ta cũng trở nên trống rỗng. Vì thế Chúa Giêsu mời gọi: “Hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời.”

Đó là: Đức tin được gìn giữ và lớn lên mỗi ngày. Những việc bác ái âm thầm.  Những hy sinh vì Chúa và tha nhân. Một đời sống công chính và yêu thương… Đó là những kho tàng không ai có thể lấy mất.

3. Con mắt – cửa sổ của tâm hồn

Chúa Giêsu tiếp tục nói: “Đèn của thân thể là con mắt.”

Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, con mắt không chỉ là cơ quan thị giác, mà còn tượng trưng cho cách nhìn và định hướng của cuộc đời.

Một con mắt trong sáng là một tâm hồn biết hướng về Thiên Chúa và những giá trị vĩnh cửu. Ngược lại, khi tâm hồn bị chi phối bởi tham lam, ích kỷ, ghen tỵ hay ham mê vật chất, con mắt sẽ trở nên tối tăm. Người ta chỉ còn nhìn mọi sự bằng lợi ích cá nhân, bằng tiền bạc hoặc địa vị. Con mắt hướng về đâu thì cuộc đời sẽ đi theo hướng đó.

4. Người môn đệ phải chọn kho tàng đích thực

Xã hội hôm nay thường đánh giá thành công bằng tiền bạc, quyền lực và sự nổi tiếng. Nhưng Tin Mừng mời gọi chúng ta nhìn xa hơn.

- Một người có thể không giàu có về vật chất, nhưng rất giàu lòng nhân ái.

- Một người có thể không nổi tiếng, nhưng rất đẹp lòng Chúa.

- Một người có thể không để lại nhiều tài sản, nhưng để lại một gia sản đức tin và tình yêu cho con cháu. Đó mới là kho tàng thật.

Chúng ta hãy tự hỏi:

- Kho tàng lớn nhất của tôi là gì?

- Tôi dành nhiều thời gian và tâm huyết nhất cho điều gì?

- Tôi đang tích lũy của cải dưới đất hay kho tàng trên trời?

Điều chúng ta yêu mến nhất sẽ cho thấy trái tim chúng ta đang thuộc về ai.

Xin Chúa cho chúng ta biết sử dụng của cải vật chất như phương tiện chứ không phải mục đích của cuộc đời. Xin giúp chúng ta đừng để lòng mình bị trói buộc bởi tiền bạc, danh vọng hay quyền lực. Xin cho mắt tâm hồn chúng ta luôn hướng về Chúa, để biết tích lũy những kho tàng không bao giờ hư mất là đức tin, đức cậy, đức mến và những việc lành bác ái.

Xin cho trái tim chúng ta luôn thuộc trọn về Chúa là kho tàng đích thực và vĩnh cửu của đời mình. Amen.


SUY NIỆM 3: ĐÔI MẮT SÁNG SUỐT

Có vẻ như chuyện kho tàng ở đâu không liên quan gì tới cặp mắt có sáng hay không. Đức Giê-su dạy rằng mắt ta có sáng, mới nhìn rõ để soi sáng hướng dẫn mình thực hiện những hành vi tốt đẹp, đạt đến mục đích tối hậu đời người. Cặp mắt có sáng thì mới thấy rõ kho tàng đích thực của mình ở đâu để hướng lòng mình về đó.

Cặp mắt cận thị thì chỉ chăm chăm vào những điều mau qua chóng hết ở thế gian này. Cặp mắt ấy lại càng tăm tối nếu như bị che chắn bởi những ham muốn, tham vọng hưởng thụ của cải đời này không thể nhìn xa trông rộng để thấy được “quê hương và kho tàng đích thực” của mình.

Để có thể có đôi mắt sáng suốt, cần phải “rửa mắt” khỏi bụi bặm, tháo dỡ những cái xà tội lỗi và thành kiến là những thứ che khuất tầm nhìn hoặc làm tổn thương dẫn đến mù loà thiêng liêng khiến ta không còn thấy và “ái mộ những sự trên trời” nữa.

“Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn.” Nhìn vào đôi mắt một người, có thể thấy nơi đó phản ảnh kho tàng nào: sự tham lam ích kỷ, hận thù hay lòng nhân ái, thiện tâm. Mời bạn thường xuyên soi vào tấm gương Lời Chúa để làm đẹp cho đôi mắt tâm hồn xoá bỏ đi những nếp nhăn của giận dữ tham lam và luôn toả sáng sự dịu dàng, nhân hậu và bình an.

Chiêm ngắm Chúa Giê-su mỗi ngày để có thể nhìn nhau bằng cái nhìn của Chúa. Xin Chúa hướng đôi mắt con về sự thiện hảo, để nó đẹp ngời và sáng long lanh, để nó phản chiếu những niềm vui lấp lánh. Xin dạy con biết sử dụng đôi mắt như một khí cụ dịu dàng phản chiếu gương mặt Chúa cho tha nhân. (Lạy Chúa con đây! Lời nguyện 92). 


SUY NIỆM 4: KHO TÀNG ĐÍCH THỰC Ở TRÊN TRỜI

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đưa ra một lời khuyên vừa thực tế vừa sâu sắc về cách chúng ta đối xử với của cải vật chất: “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt, gậm nhấm làm hư nát... Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời.”

Chúa không lên án của cải, nhưng Người cảnh báo chúng ta về sự mong manh của nó. Tiền tài, danh vọng, địa vị ở trần gian này như sương khói, có đó rồi lại mất đó. Khi chúng ta quá bám víu vào vật chất, lòng chúng ta sẽ bị trói buộc. “Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó.” (Mt 6,21)

- Nhìn lại chính mình: "Kho tàng" hiện tại của chúng ta là gì? Là tiền bạc, sự nghiệp, sự công nhận của người khác, hay là tình yêu thương, sự bao dung và các giá trị Tin Mừng?

- Cách tích trữ kho tàng trên trời: Không gì khác hơn là việc thực thi bác ái, sẻ chia với những người khốn khổ, và sống một đời sống kết hiệp với Chúa. Những gì chúng ta cho đi vì lòng mến mới là những thứ tồn tại mãi mãi.

Vì thế, Chúa Giêsu dùng hình ảnh đôi mắt để nói về thế giới nội tâm của con người. Nếu mắt sáng, toàn thân sẽ sáng; nếu mắt xấu, toàn thân sẽ tối tăm.

Đôi mắt ở đây chính là cái nhìn, là ý định và là lương tâm của chúng ta:

- Một đôi mắt "sáng" là đôi mắt biết nhìn tha nhân bằng lòng trắc ẩn, biết nhận ra sự hiện diện của Chúa trong mọi biến cố.

- Một đôi mắt "tối tăm" là đôi mắt bị che mờ bởi lòng tham lam, ích kỷ, ghen tị và kiêu ngạo. Khi cái nhìn nội tâm bị sai lệch, mọi hành động của chúng ta cũng sẽ đi vào bóng tối.

2. Bài đọc 1 kể về một trang lịch sử đầy biến động của vương quốc Giuđa. Bà Atalia, vì lòng tham quyền lực tột độ, đã tàn sát cả hoàng tộc để chiếm ngôi. Bà đại diện cho những kẻ tích trữ kho tàng trần gian bằng mọi giá, bất chấp luân thường đạo lý.

Thế nhưng, mưu đồ đen tối không thể dập tắt được chương trình của Thiên Chúa. Cậu bé Giôát – dòng dõi nhà Đavít – đã được cứu sống và được nuôi dưỡng trong Đền Thờ. Cuối cùng, sự thật và công lý đã chiến thắng: Giôát được xức dầu phong vương, bà Atalia bị lật đổ, và dân chúng vui mừng vì giao ước với Đức Chúa được tái lập.

Câu chuyện này là minh chứng hùng hồn cho lời Chúa Giêsu nói: Những kho tàng xây dựng trên sự gian ác, máu và nước mắt (như ngai vàng của Atalia) sẽ sụp đổ. Chỉ có những gì thuộc về Thiên Chúa, được nuôi dưỡng trong nơi thánh tính, mới tồn tại vững bền.

Xin Chúa chữa lành đôi mắt tâm hồn chúng ta, để chúng ta luôn biết nhìn đời, nhìn người bằng ánh sáng của Tin Mừng. 

Xin giải thoát chúng ta khỏi những đam mê mù quáng đối với của cải trần gian, để chúng ta biết dùng những ơn lành Chúa ban mà mưu cầu ích chung và tích trữ cho mình kho tàng vĩnh cửu trên trời. Amen.

 

Thứ bảy: 2Sb 24,17-25; Mt 6,24-34

SUY NIỆM 1:

Cuộc sống là một chuỗi những lựa chọn. Chọn đúng làm cho cuộc sống ta được bình an và hạnh phúc. Chọn lựa sai sẽ làm cho đời ta bất an và đau khổ. Chọn lựa là quyền tự do căn bản của con người. Quyền ấy đã được Thiên Chúa ban tặng con người và luôn được Ngài tôn trọng. Vì thế, chúng ta phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình.

Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta phải có sự chọn lựa dứt khoát. Chọn đứng dưới cờ TC để phụng thờ Người hay đứng dưới cờ Satan để phụng sự Tiền Của thế gian? Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được.”

Đức Giêsu đã sống trong kiếp người, nên hơn ai hết Ngài hiểu rõ những mối bận tâm lo lắng của chúng ta chính là nhu cầu vật chất. Tiền Của có một vị trí to lớn trong đời sống chúng ta, đến nỗi nó hiển nhiên trở thành vị thần đầy quyền lực, có sức hút mãnh liệt khiến chúng ta sẵn sàng chối bỏ Thiên Chúa để lệ thuộc hoàn toàn vào nó.

Nhằm giúp chúng ta có được quyết định sáng suốt trong chọn lựa, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy đặt trọn tin tưởng vào sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa bằng cách “Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học. Chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Solomon, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin!”.

 Hơn thế nữa, là những người con cái Chúa, đời sống chúng ta phải khác và vượt trội hơn những người không có niềm tin. Nên mối bận tâm lo lắng của chúng ta không phải là vật chất mau qua như dân ngoại tìm kiếm mà là giá trị vĩnh cửu nước trời. “Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho”.

Xin cho chúng ta biết chọn Chúa là gia nghiệp và phụng thờ Người cách xứng hợp với tâm tình yêu mến của những người con cái Chúa.

Xin cho chúng ta cũng luôn tin tưởng phó thác vào sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa; bởi ta tin rằng mỗi người trong chúng ta đều có vị trí đặt biệt và một giá trị quý giá trong trái tim của Chúa. Cho dẫu lắm khi ta phải hy sinh và thiệt thòi khi chọn Chúa, nhưng ta hãy tin chắc rằng, Chúa luôn yêu thương chăm lo và ban phát cho chúng ta những điều tốt đẹp nhất.

 

SUY NIỆM 2: HÃY TÌM KIẾM NƯỚC THIÊN CHÚA TRƯỚC HẾT

Lời Chúa hôm nay nói đến một căn bệnh rất phổ biến của con người mọi thời: lo lắng và đặt niềm tin sai chỗ. Khi xa rời Thiên Chúa, con người dễ rơi vào bất an; khi đặt Thiên Chúa vào vị trí trung tâm, tâm hồn sẽ tìm được bình an đích thực.

1. Quên Chúa là khởi đầu của mọi sa ngã

Bài đọc I kể lại một biến cố đáng buồn trong cuộc đời vua Giôát.

Nhờ sự hướng dẫn của tư tế Giơhôiada, Giôát đã từng là một vị vua tốt lành, biết tôn thờ Thiên Chúa và chăm lo Đền Thờ. Thế nhưng sau khi Giơhôiada qua đời, nhà vua nghe theo những lời nịnh hót của các thủ lãnh trong dân, bỏ Thiên Chúa để chạy theo các ngẫu tượng.

Thiên Chúa đã sai các ngôn sứ đến cảnh tỉnh, nhưng họ không chịu nghe. Thậm chí, vua Giôát còn truyền giết ngôn sứ Dacaria, con của chính vị ân nhân đã cứu mạng mình. Đó là bi kịch của sự vô ơn và phản bội.

Một người khi còn gắn bó với Chúa có thể sống ngay chính; nhưng khi xa Chúa, lòng người dễ bị cuốn theo tham vọng, quyền lực và những cám dỗ của thế gian.

2. Không ai có thể làm tôi hai chủ

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu khẳng định: “Không ai có thể làm tôi hai chủ... Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được.”

Tiền của tự nó không xấu. Nó là phương tiện cần thiết cho cuộc sống. Nhưng khi tiền bạc trở thành ông chủ, con người sẽ đánh mất tự do và đánh mất chính mình. Nhiều người tưởng mình đang làm chủ của cải, nhưng thực ra lại trở thành nô lệ cho nó. Họ lo kiếm tiền, lo giữ tiền, lo làm giàu đến mức không còn thời gian cho gia đình, cho tha nhân và cho Chúa. Vấn đề không phải là chúng ta có bao nhiêu của cải, nhưng là của cải đang chiếm bao nhiêu chỗ trong trái tim chúng ta.

3. Đừng lo lắng quá mức

Tiếp đó, Chúa Giêsu nhiều lần nhắc: “Đừng lo lắng.”

Người không bảo chúng ta sống thụ động hay lười biếng. Chúa không cấm chúng ta làm việc, dự tính hay chuẩn bị cho tương lai. Điều Chúa muốn loại bỏ là sự lo âu thái quá khiến chúng ta đánh mất niềm tín thác vào Thiên Chúa.

Để minh họa, Chúa đưa ra hai hình ảnh rất gần gũi:

Chim trời “Chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho lẫm, thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng.”

- Hoa huệ ngoài đồng “Ngay cả vua Salômôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy.”

Nếu Thiên Chúa chăm sóc chim trời và cỏ hoa, thì Ngài càng yêu thương và chăm sóc con người hơn biết bao.

Lo lắng không làm cho đời sống dài thêm một giờ, nhưng có thể làm cho tâm hồn mất bình an ngay hôm nay.

4. Tìm kiếm Nước Chúa trước hết

Đỉnh cao của bài Tin Mừng là lời mời gọi: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.” Đây là bí quyết của đời sống Kitô hữu.

Khi Thiên Chúa đứng ở vị trí thứ nhất, mọi thứ khác sẽ tìm được vị trí đúng của nó. Khi Nước Chúa là ưu tiên hàng đầu:

- Tiền bạc trở thành phương tiện phục vụ.

- Công việc trở thành cách cộng tác với Chúa.

- Gia đình trở thành nơi sống yêu thương.

- Những khó khăn trở thành cơ hội tín thác.

Các thánh không phải là những người không gặp khó khăn, nhưng là những người đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa giữa mọi khó khăn.

Mỗi người hãy tự hỏi:

- Điều gì đang chiếm vị trí quan trọng nhất trong cuộc đời tôi?

- Tôi đang tín thác vào Chúa hay chỉ dựa vào khả năng và của cải của mình?

- Những lo lắng nào đang làm tôi xa Chúa và mất bình an?

Hãy nhớ rằng: người giàu nhất không phải là người sở hữu nhiều nhất, nhưng là người tín thác nơi Thiên Chúa nhiều nhất.

Xin giúp chúng ta luôn đặt Chúa làm trung tâm đời mình. Xin giải thoát chúng ta khỏi sự lệ thuộc vào tiền bạc, danh vọng và những bảo đảm chóng qua của thế gian. Xin ban cho chúng ta một đức tin mạnh mẽ để biết tín thác vào tình yêu quan phòng của Chúa. Và xin cho chúng ta luôn biết tìm kiếm Nước Chúa trước hết, để được hưởng sự bình an và niềm vui đích thực mà chỉ mình Chúa mới có thể ban tặng. Amen.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN XXI THƯỜNG NIÊN  Lm. Clemente Nguyễn Văn Lanh CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN-NĂM A Is 22,19-23; Rm 11,33-36; Mt 16...