Thứ Hai, 4 tháng 4, 2016

CHÚA NHẬT III PHỤC SINH NĂM C
 (Ga 21,1-9)
Dẫn
Tin mừng hôm nay tường thuật Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với các tông đồ ở biển hồ Tibêria, giúp các ông đánh bắt được một mẻ cá đầy.
Xin Chúa ban ơn trợ giúp chúng ta, để những việc hàng ngày của chúng ta đạt được nhiều kết quả tốt đẹp theo ý Chúa.

Chia sẻ
Khi hiện ra với các bà phụ nữ, Chúa Giêsu bảo các bà về báo tin cho các môn đệ đến Galilê để gặp Người. Nghe theo lời loan báo những người phụ nữ các môn đệ trở về Galilê. Trong tâm trạng buồn bã, các ông rủ nhau đi đánh cá. Tuy Các ông là những những đánh cá chuyên nghiệp, vậy mà đánh bắt cả đêm chẳng được con cá nào. Thất vọng, mệt mỏi cuốn lưới định nghỉ ngơi, thì lúc đó, Chúa Giêsu hiện đến, bảo các ông thả lưới bên phải thuyền, nơi gần bờ. Các ông tin vào Lời ấy mà thả lưới. Kết quả, đánh được một mẻ cá đầy, không sao kéo lên nỗi. Bấy giờ, Gioan nhận ra nói đó là Chúa, Phêrô mặc ngay áo vào, nhảy xuống biển, bơi vào bờ.
Trên bờ, Chúa Giêsu đã chuẩn bị sẵn bữa ăn sáng cho các ông với cá nướng và bánh. Trong bữa ăn ấm áp tình thầy trò bên bếp lữa hồng, Người cầm bánh và cá trao cho các ông, một cử chỉ quen thuộc giúp các ông càng xác tín Chúa đã phục sinh.

- Lời Chúa hôm nay xác quyết cho chúng ta hiểu rằng: “không có Ta, các ngươi không làm gì được”. Bằng chứng, các môn đệ dù là những ngư phủ lành nghề với đầy đủ kinh nghiệm đánh bắt cá , cho dẫu suốt đêm dài vất vã, nhọc cực vậy mà các ông chẳng bắt được con cá nào. Nhưng khi nghe theo lời chỉ dẫn của Chúa bên, các ông bắt được rất nhiều cá.
Xin cho chúng ta đừng bao giờ kiêu căng, tự mãn về những hiểu biết và khả năng của mình, nhưng luôn khiêm tốn tin tưởng vào sự hướng dẫn của Chúa.

- Chúa phục sinh luôn hiện diện ngay bên các tông đồ, trong những công việc thường ngày, nhưng vì mệt mỏi trong công việc và buồn bả vì thất bại nên các ông không thể nhận ra Chúa. Cũng vậy nhiều lúc vì quá bận tâm mệt mỏi lo toan cho những nhu cầu cơm áo gạo tiền hay vì những thất bại trong công việc làm ăn khiến tâm tri chúng ta trở nên đen tối không còn sáng suốt nhận ra sự đồng hành của Chúa nữa.
Xin cho chúng ta biết lắng lòng xuống, sống chậm lại, tâm an tịnh một chút, nhờ đó ta mới có khả năng nhận ra Chúa đồng hành với ta qua những công việc thường ngày. Có Chúa hiện diện trong cuộc đời, ta sẽ dễ dàng vượt qua mọi thử thách và sẽ cảm thấy an vui cho dẫu phải gặp những thất bại trong cuộc đời. "có Chúa ta còn sợ gì.!".

- Mặc dù Chúa Giêsu Phục sinh, luôn hiện diện bên đời ta, nhưng để nhận ra Chúa ta cần phải có tình yêu nồng nàn và chân thành như thánh Gioan. Chính tình yêu nồng nàn, tha thiết sẽ giúp cho đôi tai ta nhạy bén nhận ra được tiếng nói của Chúa dẫu cho tiếng ấy phát ra từ đàng xa; và làm cho đôi mắt ta đủ sáng, để nhận ra dáng điệu của Chúa, cho dẫu bầu trời còn mờ hơi sương. 

Xin cho chúng ta cũng có được tình yêu Chúa chân thành và nồng nàn như thánh Gioan, nhờ đó con  tim chúng ta sẽ trở nên nhạy bén nhận ra Chúa qua các dấu chỉ của thời đại, cũng như qua các biến cố vui buồn trong cuộc sống thường ngày.

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2016

HỌ ĐẠO SAKEO CỬ HÀNH PHỤNG VỤ TUẦN THÁNH VÀ PHỤC SINH 2016



THỨ SÁU TUẦN THÁNH

THỨ BẢY TUẦN THÁNH-NGHI THỨC LÀM PHÉP LỮA


THẮP NẾN PHỤC SINH

SUY TÔN ÁNH SÁNG CHÙA KITÔ

ÁNH SÁNG CHÚA KITÔ ĐƯỢC LAN TỎA

XÔNG HƯƠNG NẾN PHỤC SINH


CÔNG BỐ TIN MỪNG PHỤC SINH

CA ĐOÀN SAY SƯA CA TỤNG CHÚA

ĐỂ TÂM LẮNG NGHE LỜI CHÚA




LÀM PHÉP NƯỚC



TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN

ĐÓN NHẬN CHÚA VÀO LÒNG


TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH-DÂNG LỄ KHU-QUYÊN GÓP PHÁT TRIỂN HỌ ĐẠO

MUỐN RƯỚC CHÚA HÃY BỎ VÀO!



CÁC EM THIẾU NHI MẠNH MẼ BƯỚC VÀO THÁNH LỄ


ĐÁNG KHEN NGỢI QUÝ BÀ THẬT TRANG NGHIEM VA SỐT SẮNG THAM DỰ THÁNH LỄ

THẬT TUYỆT ĐẸP! CÁC EM CHÚ TÂM LẮNG NGHE LỜI CHÚA


NUÔI HEO MÙA CHAY - RÚT RUỘT PHỤC SINH - CHIA SẺ NGƯỜI NGHÈO

CẦU CHÚC BÌNH AN CỦA CHÚA PHỤC SINH CHO NHAU

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2016

SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN II PHỤC SINH NĂM C

Lm Seoka

Thứ hai: Lễ Truyền Tin

Suy niệm 1
Cùng với Giáo Hội, hôm nay chúng ta long trọng mừng Lễ Truyền Tin. Kỷ niệm biến cố Thiên Thần Gabriel truyền tin cho Đức Maria, khởi đầu cho chương trình cứu độ đầy yêu thương của Thiên Chúa dành cho con người.
Để thực hiện chương trình cứu độ, Thiên Chúa đã chọn gọi Đức Maria cộng tác trong việc cưu mang và sinh hạ Đấng Cứu Thế và Đức Maria đã đáp lời bằng hai tiếng “xin vâng”.
Xin cho chúng ta cũng biết noi gương Đức Maria khiêm tốn và ngoan ngoãn vâng theo thánh ý Chúa trong mọi hoàn cảnh, để chương trình cứu độ của Chúa nơi ta được hoàn thành tốt đẹp.

Mỗi khi đọc kinh kính mừng, chúng ta nhắc lại lời truyền tin của sứ thần Gabriel cho Đức Maria xưa: “kính mừng Maria đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng bà, bà có phước lạ hơn mọi người nữ….” cũng đồng nghĩa với lời Thiên Thần: “Mừng vui lên, Đấng đầy ơn phúc. Thiên Chúa ở cùng bà…”.
Lời truyền tin này là một lời chào chúc quý giá và mang giá trị hết sức cao cả. Bởi lẽ có ơn phúc nào cao lớn cho bằng ơn phúc được Thiên Chúa ở cùng (chính Chúa là nguồn mọi ơn phúc và Đấng ban ơn phúc. Được Thiên Chúa ở cùng thì có mọi ơn phúc nơi mình rồi). Và có hạnh phúc nào lớn bằng hạnh phúc được Thiên Chúa ưu ái chọn làm Mẹ Thiên Chúa. (được chọn làm mẹ vua đã là vinh dự và ơn phúc quá lớn rồi huống chi là Mẹ Vua Trời).
Ý thức sứ mạng cao quý ấy trong vui mừng khôn tả vượt trí hiểu, Đức Maria đã bối rối và tự hỏi lời chào ấy có ý nghĩa như thế nào? Nhưng sau khi được Thiên Thần giải thích, Đức Maria biết đó là ý định Thiên Chúa, dù không hiểu hết nhưng Đức Maria vẫn khiêm tốn ngoan ngoãn vâng nghe.
Có nhiều điều xảy ra trong đời sống vượt ngoài trí hiểu và khả năng chúng ta, chúng ta thấy không thể thực hiện được, nhưng đối với Thiên Chúa thì mọi chuyện đều có thể. Từ không Chúa đã tạo thành vũ trụ vạn vật chỉ bằng lời phán truyền. Chỉ cần bùn đất Chúa đã tạo dựng con người bằng hơi thở của Chúa. Với quyền năng bà chị họ Isave son sẻ đã mang thai và sinh con. Còn với Đức Maria việc cưu mang Đấng Cứu Thế mà vẫn đồng trinh là chuyện bình thường. Miễn chúng ta sẵn sàng để Chúa hành động nơi chúng ta như Đức Maria.
Tuy Thiên Chúa quyền năng làm được mọi sự. Nhưng Thiên Chúa lại yêu thích con người cộng tác với Chúa.
Để chọn gọi dân riêng, Chúa đã mời gọi tổ phụ Abraham cộng tác, và Abraham đã vâng lời bỏ xứ sở ra đi theo ý định Thiên Chúa. Thế là một dân riêng của Chúa đã hình thành.
Để cứu dân tộc Israel ra khỏi kiếp nô lệ bên Ai cập, Thiên Chúa đã mời gọi Môsê cộng tác, dù sợ hãi về sự kém cỏi của mình, Môsê vẫn vâng phục  ý muốn của Chúa. Thế là cuộc giải phóng đã hoàn tất.
Để cứu độ nhân loại, Thiên Chúa chọn Đức Maria, một người thiếu nữ bình thường, nghèo khó làm mẹ Đấng Cứu Thế và Mẹ đã ngoan ngoãn tin tưởng vâng nghe. Thế là chương trình cứu độ từ ngàn đời của Thiên Chúa được thực hiện.
Để cứu độ mỗi chúng ta, Chúa cũng mời gọi chúng ta hợp tác với Chúa. Như thánh Augustinô đã nói: “Chúa dựng nên con Chúa không cần con, nhưng để cứ độ con Chúa cần con cộng tác”. 
Xin cho chúng ta tích cự cộng tác với ơn cứu độ của Chúa để cứu chính mình và tha nhân.

Suy niệm 2
Trước ơn phúc lớn lao, Đức Maria đã bối rối và muốn tìm hiểu xem sự việc sẽ xảy đến như thế nào? Một khi nhận biết là ý định Thiên Chúa Đức Maria sẵn sàng vâng theo chứ không hề nghi ngờ, hay kém tin.
Trước những thử thách, khó khăn, đau buồn trong cuộc sống, nhiều lúc chúng ta bị lung lay, nghi ngờ và than trách người, than trách Chúa, ít khi chúng ta bắt chước Đức Maria tìm hiểu xem Chúa muốn gì qua những biến cố vui buồn, thành công thất bại, hạnh phúc hay bất hạnh ấy trong cuộc sống. Mỗi biến cố đều có sứ điệp Chúa gởi đến ta mong ta đọc ra mà điều chỉnh đời sống theo thánh ý của Chúa. Chúa luôn đi qua cuộc đời chúng ta, nhưng chúng ta lại không gặp Ngài. Chúa luôn đồng hành với ta nhưng ta lại không nhận ra Ngài. Chúa hằng gõ cửa nhà chúng ta nhưng ta lại không nhận ra tiếng Ngài.
Xin cho chúng ta biết để tâm suy niệm các biết cố trong đời để nhận ra lòng thuơng xót của Chúa như Đức Maria. Amen 

(Viết theo Hạt Giống Nẩy Mầm, của cha Carôlô Hồ Bặc Xái)

Thứ ba

Suy niệm 1
Xây dựng Họ đạo trở thành một cộng đoàn hiệp thông là một trong những tiêu chí mà GH luôn hướng đến. Điều này đã được HĐGM VN nhấn mạnh đến trong thư mục vụ năm 2015,  “Tân phúc âm đời sống Giáo xứ”.
Nhưng làm thế nào để xây dựng Họ Đạo trở thành một cộng đoàn hiệp thông?
Thư mục vụ 2015 mời gọi chúng ta hãy chiêm ngắm và noi gương đời sống cộng đoàn tín hữu thời GH ban đầu được sách CVTĐ hôm nói đến. Đó là một cộng đoàn tín hữu không những hiệp thông bên ngoài: “…đối với họ, mọi sự đều là của chung”, nhưng trên hết là bên trong “một lòng một ý”. Qủa là cộng đoàn tín hữu tuyệt đẹp, đáng mơ ước!
Vậy nhờ vào đâu mà cộng đoàn GH non trẻ làm được điều kỳ diệu ấy?
Có phải nhờ tài năng lãnh đạo của các tông đồ không? Chắc chắn là không. Vì các tông đồ đa phần là những người bình dân học vụ, kiến thức và kinh nghiệm lãnh đạo non nớt.
Có phải nhờ vào tình trạng dân trí cao và hiểu biết giáo lý sâu rộng không? Chắn chắn là trình độ hiểu biết về giáo lý, kinh thánh cũng như kiến thức khoa học của các kitô hữu bấy không sánh được như ngày nay…
Có phải nhờ vào nền kinh tế phát triển phồn vinh và đời sống vật chất dân chúng bấy giờ dư đầy không? Chắn chắn là không!
Vậy nhờ đâu?
Thưa nhờ sức mạnh của đức tin.
Tin vào quyền năng của Thiên Chúa nên họ không ngại từ bỏ ý riêng để cùng tùng phục ý Chúa.
Tin vào cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô do các tông đồ làm chứng nên họ đã vượt lên những ích lợi vật chất đời này mà mưu tìm giá trị vĩnh cửu mai sau.
Tin vào uy tín và thế giá của các tông đồ nên họ sẵn sàng gom góp của cải mình có đem đến đặt dưới chân các tông đồ làm của chung.
Trên hết là vì họ tin vào tình yêu chân thành của nhau và xem nhau như là anh em một nhà nên mong muốn “không ai phải thiếu thốn điều gì”.
Đã có thời nhiều quốc gia, nhiều triết thuyết muốn xây dựng xã hội thành một cộng đoàn hiệp thông như cộng đoàn của các Kitô hữu đầu tiên, nhưng đều thất bại. Bởi lẽ sự hiệp thông ấy không đến từ sức mạnh con người, nhưng đến từ sức mạnh bởi ơn trên. Chính vì thế mà trong bài Tin mừng hôm qua Chúa Giêsu xác quyết mạnh mẽ với Nicôđêmô: “…không ai có thể thấy nước Thiên Chúa , nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên”.(Ga 3, 3). Chính nhờ ơn ban của Thiên Chúa và sức mạnh biến đổi của Chúa Thánh Thần, con người mới có thể tin nhận vào Chúa Giêsu, Đấng từ trời xuống, nhờ đó mà được sống muôn đời như lời Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô trong bài Tin mừng hôm nay .
Như thế để xây dựng Họ đạo thành một cộng đoàn hiệp thông theo mô hình của các kitô hữu ban đầu, cần phải có đức tin: Tin vào Thiên Chúa quyền năng, tin vào uy tín và thế giá của GH cũng như tin vào sự chân thành của nhau. Mà đức tin là một ân ban từ trên cao và từ bên trong. Vì thế chúng ta tha thiết xin Chúa củng cố niềm tin nơi mỗi người chúng ta.  Nhờ đó chúng ta mới có thể xây dựng Họ đạo trở thành một cộng đoàn hiệp thông như cộng đoàn các tín hữu ban đầu.

Suy niệm 2
Qua cuộc đàm đạo với Ni-cô-đê-mô trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu xác nhận cho biết về nguồn gốc và vai trò của Người trong việc cứu độ con người.
Trước hết Chúa Giêsu minh chứng về nguồn gốc của Người.
Nguồn gốc của Người đến từ trời cao, nên Người biết và thấy hết những điều kiện cần thiết để được sự sống đời đời. Điều kiện cần thiết ấy chính là “phải được sinh lại bởi ơn trên”. Bởi vậy trước khi lên trời, Chúa Giêsu đã truyền dạy các tông đồ đi loan báoTin Mừng và rửa tội cho muôn dân: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép Rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin sẽ bị kết án…” (Mc 16, 15-16).
Tiếp đến Chúa Giêsu cho biết vai trò của Người trong việc cứu độ.
Với hình ảnh con rắn đồng được treo trong sa mạc thời Mô-sê đã cứu chữa những người bị rắn lữa cắn khỏi chết, nhờ tin nhận và nhìn lên rắn đồng, Chúa Giêsu mời gọi Nicôđêmô hãytin vào Ngài để được cứu độ.
Nếu xưa kia nguyên tổ đã nghe lời cám dỗ của ma quỷ, đưa tay hái trái cấm trên cây mà ăn để rồi nhận lấy án tử, thì nay với cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, Thánh Giá trở thành cây quả phúc, Chúa Giêsu trở nên trái chín thơm lành, mang lại sự sống trường sinh cho những ai tin tưởng nhìn lên Ngài và can đảm ăn lấy Ngài.  
Tin tưởng nhìn lên Ngài và ăn lấy Ngài, đồng nghĩa với việc chấp nhận đồng thân, đồng phận, và đồng tử với Chúa Giêsu trên con đường khổ giá.
Như thế để được sự sống đời đời ngoài điều kiện được sinh lại bởi ơn trên nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, chúng ta còn phải can đảm dấn bước theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá, qua việc chấp nhận những thử thách, gian nan, khốn khó ở đời này với lòng tin tưởng vào mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu.
Xin Chúa cho mỗi người chúng ta trong mùa phục sinh này, biết ý thức sống trọn vẹn ơn tái sinh làm con Chúa, dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần; nhất là luôn can đảm chấp nhận vác thập giá mình, bước theo Chúa Giêsu trong niềm xác tín: “Nếu chúng ta cùng chết với Ðức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người…”.(Rm 6,8).


Thứ tư

Suy niệm 1
Cùng với GH chúng ta đang sống trong năm thánh của lòng thương xót Chúa.
Lòng thương xót của Thiên Chúa thể hiện qua suốt chiều dài lịch sử và rộng khắp mọi nơi, mọi thời. Lòng thương xót của Chúa cũng thể hiện qua muôn vàn cách thế với nhiều hình thức khác nhau. Cụ thể phụng vụ lời Chúa hôm nay giúp chúng ta nhận ra một vài cách thế của lòng thương xót Chúa.
 Bài đọc I cho biết: lòng thương xót Chúa được thể hiện qua sự quan phòng kỳ diệu bằng việc giải thoát các tông đồ ra khỏi ngục tù trong đêm tối, nhờ vào sự hướng dẫn của vị Thiên Sứ Chúa sai đến; cũng như qua sức mạnh hỗ trợ của dân chúng, khiến cho các thượng tế phải dè chừng trước những hành động sai trái của họ.
Còn bài tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho Nicôđêmô biết về lòng thương xót vô bờ bến của Thiên Chúa qua việc trao ban chính Người Con yêu dấu của Ngài “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi dã ban chính người con của Ngài là đức kitô. Để ai tin vào người con ấy thì không phải chết nhưng sẽ được sống đời đời”.
Lòng thương xót của Chúa thật vô biên. Đáng lẽ vì phạm tội con người phải nhận lấy đau khổ và án chết đời đời, nhưng vì lòng thương xót, Thiên Chúa đã hy sinh chính con mình là Đức Giêsu. Để nhờ và qua Người Con ấy, con người được cứu độ.
Thánh Gioan xác quyết: Đức Kitô chính là Ánh Sáng. Chúa đã đến thế gian nhằm xua tan bóng tối của tội lỗi và sự chết. Vì thế từ nay ai tin nhận và bước theo Ánh Sáng ấy soi dẫn thì sẽ không chết trong bóng đêm tội lỗi, nhưng sẽ được sự sống đời đời trong ánh sáng vinh quang.
Nhưng khốn thay thế gian lại sợ ánh sáng và thích bóng tối, bởi vì ánh sáng phơi bày tội ác xấu xa của họ. Vì thế mỗi chúng ta hãy can đảm bước vào vùng sáng chân lý, hãy mạnh dạn khướt từ bóng tối của đam mê dục vọng và sự dữ, nhờ đó ánh sáng của lòng thương xót Chúa mới được lan tỏa đến mọi người và mọi nơi.
Xin ánh sáng Chúa Kitô phục sinh được thắp lên trong lòng của mỗi chúng ta để ta lan tỏa ánh sáng lòng thương xót Chúa đến những nơi còn sống trong bóng tối tử thần với hy vọng mọi người tin nhận ánh sáng của lòng thương xót Chúa mà được cứu độ..

Suy niệm 2
Ánh sáng và bóng tối, sống và chết luôn tồn tại nơi trần gian và trong mỗi người chúng ta. Muốn bước đi trong ánh sáng để được sự sống đời đời, chúng ta cần phải đến cùng Đức Giêsu, nguồn ánh sáng và là Đấng ban sự sống.
Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh Ánh Sáng để chỉ về Người.
Ánh sáng là thứ quan trọng và gần gũi với con người. Ánh sáng rất cần thiết cho sự sống. Không có ánh sáng thì không có sự sống. Thảo mộc , súc vật và con người nếu không có ánh sáng thì sẽ chết.
Ánh sáng giúp cho con người thấy nhau, thấy được vẽ đẹp vũ trụ vạn vật, phân biệt được màu sắc và cảnh vật.
Trong lãnh vực siêu nhiên, Chúa Giêsu muốn nói đến sự cần thiết của Ngài như ánh sáng không thể thiếu. Không có Người thì tạo vật không được tạo thành. Không có Người không có ơn cứu rỗi. Không có Người không có sự sống đích thực nơi con người.
Nhưng con người chúng ta lại sợ ánh sáng và ngại đến cùng ánh sáng vì ánh sáng phơi bày tội lỗi chúng ta trước mặt Chúa và mọi người, nên chúng ta yêu bóng tối hơn ánh sáng.
Xin Chúa giúp chúng ta biết can đảm đẩy lui những bóng tối của gian dối, bất công, chia rẽ hận thù và sự chết ra khỏi tâm hồn và môi trường sống của ta.
Xin cho chúng ta luôn yêu thích tắm dội ánh sáng chân lý, tình thương và sự sống của Chúa Giêsu vào cuộc đời ta.

Suy niệm 3
Sống trong xã hội vàng thau lẫn lộn, con người không còn khả năng phân biệt đúng sai, tốt xấu, thật giả…vì thế, hơn bao giờ hết con người ngày hôm nay cần có ánh sáng thật soi đường, chỉ lối.
Chúa Kitô, ánh sáng thật, đến trần gian để soi đường chỉ lối. Xin cho chúng ta tin nhận và sống theo sự hướng dẫn của Ngài.

Ánh sáng là chủ đề tài nổi bậc trong tin mừng:
Ngay những trang đầu của tin mừng, thánh Gioan đã cho biết Chúa Giêsu chính là “ánh sáng, ánh sáng thật, ánh sáng đến trần gian và chiếu soi mọi người”.
Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu tự xưng là ánh sáng thế gian và Ngài mời gọi con người đi trong ánh sáng của Ngài.
Từ hai ngàn năm qua, Ngôi Lời Thiên Chúa đã chiếu ánh sáng Thiên Chúa vào trần gian. Người mang lửa xuống trần gian. Người mong ước cho ngọn lửa ấy cháy bừng lên, lan rộng ra. Nhưng nhìn vào tình hình thế giới hôm nay, ta thấy bóng tối vẫn còn vây phủ con người.
 Bóng tối chết chóc của chiến tranh, hận thù, của ô nhiễm môi trường, của đói nghèo, áp bức, phân biệt chủng tộc, của nền văn hóa sự chết giết hại cả những mầm mống sự sống.
Bóng tối tội lỗi. Tội lỗi vẫn tiếp tục lan tràn. Sự dữ nổi lên dưới nhiều hình thức khác nhau. Nguy hiểm nhất là người ta đánh mất cảm thức về tội lỗi, thản nhiên sống trong tội, sống chung với tội lỗi.
Bóng tối của hận thù ghen ghét. Trong thế giới văn minh mà con người hô hào hôm nay, vẫn còn có những người say máu giết hại đồng bào của mình, gây nên tội ác diệt chủng. Vẫn có những thế lực đen tối ngấm ngầm gây chia rẽ giữa các quốc gia, dân tộc, giữa các cộng đoàn, hội thánh...
Sống trong xã hội tràn ngập bóng tối của sự chết, của tội lỗi và hận thù…như thế, Chúa Giêsu không ngừng mời gọi chúng ta phải chiếu giãi trước mặt mọi người.
“Các con là ánh sáng thế gian”. Ngày nhận lãnh bí tích rửa tội, Giáo Hội trao cho ta cây nến sáng để nhắc nhớ chúng ta hãy gìn giữ ngọn nến ấy luôn cháy sáng mãi trong suốt cuộc đời.
Cây nến phục sinh mà người kitô hữu chúng ta thắp lên trong đêm lễ phục sinh nhắc nhở chúng ta nhiệm vụ mang ánh sáng Chúa Kitô chia sẻ cho mọi người chung quanh.
Xin Chúa giúp chúng ta tẩy sạch mọi bóng tối tội lỗi, để thực sự được sinh lại cùng với Đức Giê-su. Trở nên con cái sự sáng bằng đời sống tươi vui, an hoà, khiêm nhường, nhịn nhục, yêu thương, đoàn kết đến cho anh em.




Thứ năm

Suy niệm 1
Cuộc sống là một chuỗi những lựa chọn. Chọn đúng làm cho cuộc sống trở hạnh phúc. Chọn lựa sai sẽ làm cho ta bất hạnh. Chọn lựa là quyền tự do căn bản của con người. Chính quyền ấy đã được Thiên Chúa ban tặng và luôn tôn trọng. Vì thế chúng ta phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn ấy.
Phụng vụ lời chúa hôm nay đặt ra cho các tông đồ và Nicôđêmô những lựa chọn.
Bài đọc I đặt ra cho các tông đồ đứng trước giữa hai chọn lựa:
Chọn nghe theo lời các thượng tế im lặng trước sự thật về sự kiện phục sinh của Chúa Giêsu thì được an phận. Còn nếu lên tiếng rao giảng và làm chứng cho sự thật ấy thì sẽ nguy hại đến bản thân. Nhưng nhờ ơn sức mạnh của Chúa Thánh Thần thúc đẩy, các ngài đã mạnh mẽ chọn đứng về sự thật: “Vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người phàm”.
Còn bài tin mừng hôm nay thì Chúa Giêsu lại đặt ra cho Nicôđêmô về hai chọn lựa: tin hay không tin vào Ngài. Chúa Giêsu nói:“Ngài chính là  Đấng được Thiên Chúa sai đến, Ngài nói những lời của Thiên Chúa… ai tin vào Ngài thì có sự sống đời đời. Còn ai không tin vào Ngài, thì sẽ không được thấy sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên người ấy”. Ta không biết sau đó ông đã chọn lựa thế nào, bởi tin mừng bỏ ngỏ. Điều này khiến chúng ta lại phải nghĩ đến quyết định lựa chọn của mỗi người chúng ta.
Đúng vậy, chọn lựa luôn gắn liền với đời sống chúng ta. Nhìn lại cuộc sống thường ngày, chúng ta thấy mình thích chọn lựa những gì xem ra nhẹ nhàn, dễ dãi, không thích chọn gian khổ hy sinh; chúng ta thích chọn nghe những lời ngon ngọt, a dua, ngợi khen chúc tụng hơn là những lời chân thật, bởi lời thật thì đắng lòng. Cũng thế chúng ta thường thích nói những lời của con người hơn là nói những Lời của Chúa. Chúng ta thích chọn lựa đứng về lợi ích nhóm hơn là đứng về những ai cô thế cô thân. Chúng thường hay chọn im lặng trước dối trá hơn là bên vực cho công lý... Nhất là chúng ta hay chọn an phận hơn là làm chứng nhân cho Chúa.
Xin Chúa Giêsu Phục sinh ban dồi dào ơn khôn ngoan và sức mạnh của Chúa Thánh Thần trên chúng ta, để chúng ta biết chọn lựa sao cho đúng ý Chúa và can đảm sống theo sự lựa chọn ấy cho dẫu phải hy sinh và thiệt thòi vì biết rằng mình đã làm đẹp lòng Chúa như các tông đồ xưa. Có như vậy ta mới xứng đáng đón nhận ơn cứu độ do Chúa Giêsu phục sinh đem đến.

Suy niệm 2
Bằng những hình ảnh đối lập: cao- thấp, trời-đất, Chúa Giêsu muốn xác định thiên tính của Ngài và mời gọi chúng ta dấn bước theo Ngài để được sự sống đời dời.
Chúa Giêsu xác định:
Ngài đến từ trên cao nên cao trọng hơn hết mọi người.
Ngài được Thiên Chúa sai đi nên Ngài là Người của Thiên Chúa.
Ngài được Thiên Chúa yêu thương trao ban thần khí vô ngần vô hạn cũng như Chúa Cha trao ban mọi sự trong tay Ngài, điều này xác nhận Ngài chính là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa.
Vì ngài đến từ trời cao, là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa làm người, nên Ngài thấy hết, biết hết các việc trên trời. Đo đó lời chứng của Ngài là chân thật, để ai tin vào Ngài thì được sự sống đời đời, kẻ nào không tin thì sẽ bị luận phạt.
Là Thiên Chúa làm người và đã trãi qua kiếp người bằng cái chết đau thương để rồi phục sinh vinh hiển trở về cùng Thiên Chúa, nên ai tin theo con đường Ngài đã đi thì sẽ không sợ lạc đường về quê trời.  
Chúa Giêsu không chỉ vạch ra cho ta con đường đạt đến sự sống đời đời, mà Ngài còn dấn thân tiến bước trên con đường ấy. Vì thế chúng ta hãy vững tin tiến bước theo Ngài. Đường dẫn về quê trời đã có, người dẫn đường đã sẵn sàng, điều quan trọng là tùy thuộc nơi mỗi chúng ta có dám dấn thân bước theo hay không? Chúa không thể bắt ép ta bước đi trên con đường ấy, nếu như ta không muốn.
Xin cho chúng ta biết ngước vọng về trời cao và hướng lòng trí về quê trời vĩnh cửu mà xin cho lòng được ái mộ những sự trên trời. Nhờ đó ta sẵn sàng dấn thân bước theo con đường mà Chúa Giêsu đã vạch ra mà thoát khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa để được Chúa thương ban cho chúng ta sự sống đời đời.


Thứ sáu

Suy niệm 1
“Hãy tín thác vào lòng thương xót Chúa”, đó là sứ điệp mà Chúa Giêsu gửi đến nhân loại qua thánh nữ Faustina. Sứ điệp ấy càng được xác tín qua phụng vụ lời Chúa hôm nay.
Bài đọc I hôm nay cho biết: trong lúc mà các giới chức lãnh đạo tôn giáo triệu tập họp hội đồng Do Thái để tìm cách tiêu diệt các tông đồ nhằm dập tắt đạo Giêsu. Thì Chúa lại quan phòng cho một người Pharisêu tên là Gamaliên đứng ra giữa hội đồng để phân tích thiệt hơn nếu ra tay giết hại các tông đồ.
Sau khi ông nhắc lại các phong trào mang tính nhân loại thuần túy nổi lên trước đây nhưng đến nay tất cả đều bị tan rã. Thì ngay sau đó ông xác tín rằng:“Còn quả thật là do Thiên Chúa thì không thể nào phá hủy được, không khéo lại quý vị lại thành những kẻ chống Thiên Chúa”. Nghe những lời đó nên họ chùng bước, chỉ quyết định đem các tông đồ ra đánh đòn và cấm không cho nói đến danh Đức Giêsu nữa, rồi thả đi. Dẫu bị đánh đập nhưng các tông đồ cảm thấy “lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu và tiếp tục rao giảng và loan báo tin mừng tại tư gia và trong đền thờ”.
Còn bài tin mừng thì tường thuật lại những hoạt động của Chúa Giêsu bên kia biển hồ Ga-li-lê. Chiêm ngắm về tất cả những lời nói, cử chỉ, việc làm của Chúa Giêsu được thể hiện trong bài tin mừng hôm nay, ta nhận thấy Chúa Giêsu không chỉ quan tâm đến nhu cầu tâm linh mà còn cả nhu cầu vật chất của dân chúng nữa. Với lòng thương xót trước sự bơ vơ và đói khát của đám đông dân chúng theo Ngài nên Ngài đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi sống họ.
Như thế lời Chúa hôm nay giúp chúng ta hiểu rằng một khi can đảm tín thác vào lòng thương xót Chúa qua việc dấn bước theo và nghe Lời giảng dạy của Ngài (bài tin mừng), cũng như hy sinh làm chứng cho tin mừng phục sinh của Ngài (bài đọc I) thì Chúa không bỏ rơi bao giờ.
Xin cho chúng ta luôn biết tín thác mạnh mẽ vào lòng thương xót của Chúa để can đảm loan truyền tình thương của Ngài cho mọi nơi dẫu phải gặp nhiều thử thách với niềm tin rằng: “có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại chúng ta?”.  

Suy niệm 2
Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu đã làm phép lạ bánh hóa nhiều để nuôi đám đông. Cho thấy Ngài quan tâm đến nhu cầu của thân xác của con người. Nhưng Ngài không dừng lại ở việc thỏa mãn nhu cầu cơ bản là “đói cho ăn, khát cho uống”. Cơm bánh chỉ là thứ lương thực mau qua dành cho thân xác, chứ không phải là thứ lương thực đem lại sự sống đời đời. Do đó Ngài muốn ban cho con người thứ lương thực trường tồn đem lại sự sống vĩnh cửu.
Để có được của ăn mau qua, nuôi dưỡng thân xác, con người phải ra công làm việc vất vã “đổ mồ hôi sót con mắt ”, cũng như biết nhường cơm xẻ áo cho nhau.
 Để có của ăn vĩnh cửu, nuôi dưỡng tinh thần và tâm linh, con người chỉ cần làm hai việc: Đến với Chúa Giêsu và Tin vào Ngài.
Cái đói của thân xác không cồn cào bằng cái đói tinh thần.
Con người đói công bằng và hạnh phúc, đói yêu thương và kính trọng.
Con người khát niềm vui và bình an, cảm thông và sự thật.
Trong nơi sâu thẳm, con người đói khát Ai đó để mình yêu mến tôn thờ.
Đức Giêsu mời ta hãy tin vào Ngài là Đấng được Thiên Chúa sai đến.
Hãy đến với Giêsu để bắt đầu được nếm thử tấm bánh của Ngài, vì chính Ngài là Tình yêu, Sự thật và Bình an.
Xin cho chúng ta biết siêng năng đến với Chúa Giêsu với niềm tin yêu, để chúng ta được chính Chúa nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và Bánh Thánh, là thứ lương thực không hư nát và đem lại sự sống đời đời cho chúng ta.


Thứ Bảy

Suy niệm 1
Các nhà xã hội học định nghĩa: con người là con vật có xã hội tính. Do đó không ai là một hòn đảo. Chúng ta sống là sống với, sống cùng, sống cho, sống vì và sống nhờ nhau. Nhờ đời sống chung mà con người được phát triển và tốt đẹp hơn nhờ vào sự tương trợ nhau. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng vì đời sống chung mà ta gặp phải không ít khó khăn và thử thách
Bài đọc I hôm nay cho thấy một vấn đề khó khăn nổi lên trong đời sống của cộng đoàn sơ khai. Đó là sự ghen tỵ phân bì xảy ra, bởi lẽ vì những bà góa Do Thái gốc Hy Lạp chịu thiệt thòi do bị các tông đồ quên lãng. Điều này có nguy cơ đưa đến sự chia rẻ, hận thù và trở thành gương mù. Nhận ra nguy hại ấy, các tông đồ đã tìm cách giải quyết. Thay vì có thể dùng quyền bính mình để răn đe khống chế, hay loại trừ họ ra khỏi cộng đoàn thì trái lại các tông đồ khiêm tốn nhận ra sự thiếu xót của mình vì đã không quan tâm đủ để chăm lo cho mọi người. Để đáp ứng nhu cầu chính đáng ấy, các tông đồ đã đề nghị bầu chọn thêm 7 phó tế phụ tiếp với các ngài chăm lo phục vụ các bà góa, dù thành phần này không được xã hội đề cao bấy giờ. Nhờ đó mà đời sống của cộng đoàn trở nên êm ấm.
Bài Tin mừng hôm nay thì nêu lên những sóng gió mà các tông đồ gặp phải khi xuống thuyền sang bờ bên kia biển hồ trong đêm tối. Trong bóng đêm ngoài việc phải vất vả chống chọi với sóng to gió lớn, các ông còn phải đối mặt với sự sợ hãi kinh hồn khi thấy Chúa Giêsu đi trên mặt biển đến với họ, vì tưởng là ma. Nhưng nhờ lời trấn an của Chúa Giêsu: “Thầy đây mà, đừng sợ!”,  khi ấy các ông mới tìm lại bình an và đưa con thuyền cập bến an toàn.
Cuộc đời ta của chúng ta có lúc yên bình nhưng cũng có lúc sóng gió nổi lên khiến ta sợ hãi bất an.  Xin Chúa phục sinh luôn ở bên để che chở, chấn an và giúp ta biết chọn lựa hướng sống tốt đẹp theo thánh ý Người, nhờ đó con thuyền đời ta dễ dàng vượt qua sóng gió hiễm nguy của biển đời trần gian  mà đạt đến bến bờ của an vui và hạnh phúc nhờ ơn ban của Chúa.

Suy niệm 2
Suy niệm về bài tin mừng hôm nay, ta nhận ra rằng:
Các môn đệ chính là mỗi người chúng ta.
Con thuyền là hình ảnh của Giáo Hội.
Biển Hồ là hình ảnh trần gian.
Đêm tối, bảo tố, gió mạnh là những thử thách do ma quỷ gây nên.
Bờ bên kia là hạnh phúc nước trời mà con người cần vươn tới.

Cũng như các môn đệ xưa, chúng ta đã bước vào con thuyền của Giáo Hội khi lãnh nhận bí tích thánh tẩy. Cùng với con thuyền Giáo hội, chúng ta đang tiến bước trên biển đời trần gian.
Giống như con thuyền của các môn đệ bị những cơn sóng to, gió lớn đánh dữ dội, thì ở mọi thời, mọi nơi Giáo Hội cách chung, cách riêng mỗi chúng ta cũng đương đầu với những chống đối, những vu khống, bôi nhọ và loại trừ do thế lực ma quỷ gây ra.
Có khi những bóng tối, những vết đen đáng tiếc xảy ra trong Giáo Hội cách chung hay những đau khổ, những thất bại và những bất hạnh xảy đến cho bản thân, làm cho ta dao động, mất hướng sống. Khi đó là lúc thuyền đời của ta đang đi trong đêm tối đức tin, đến nỗi ta muốn buông xuôi tất cả.
Quan trọng là Chúa Giêsu phục sinh không bỏ rơi chúng ta khi gặp gian nan thử thách. Chính lúc đó, Chúa sẽ ra tay cứu giúp chúng ta, không để cho sóng gió nhận chìm chúng ta vì “Ơn Ta đủ cho con”. Ngài vẫn ở bên Giáo Hội. Ngài luôn đồng hành và hiện diện bên mỗi người chúng ta. Ngài ban Chúa Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội và ban ơn trợ giúp chúng tađủ sức lướt thắng mọi sóng to gió lớn và dìu bước chúng tacập bến bình an, nếu chúng ta tin tưởng cậy trông phó thác vào Ngài.

Xin Chúa phục sinh ban thêm lòng tin kiên vữngnơi chúngcon, để dù trong bất cứ hoàn cảnh thử thách nào, ngay cả những lúc bước đi trong đêm tối của đức tin, chúng con vẫn an tâm tiến bước trên biển đời. Xin Chúa luôn hiện diện và đồng hành với chúng con, để đưa dẫn chúng con đạt tới bến bờ bình an.


CHÚA NHẬT II PHỤC SINHKÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA
( Ga 20, 19-31)

BÀN TAY CỦA YÊU THƯƠNG

Truyện kể
Trong một tiết dạy vẽ, cô giáo bảo các em học sinh lớp một vẽ điều gì đã làm các em thích nhất trong đời. Cô thầm nghĩ: “ chắc rồi các em cũng lại vẽ những gói quà, những ly kem hoặc những món đồ chơi, quyển chuyện tranh…”. Thế nhưng cô đã hoàn toàn ngạc nhiên trước một bức tranh lạ của em học sinh tên là Douglas: Bức tranh vẽ một bàn tay!
Nhưng đây là bàn tay của ai? Cả lớp bị cuốn hút bởi hình ảnh đầy biểu tượng này. Một em đoán: “ Đó là bàn tay bác nông dân”. Một em khác cho rằng: “ Bàn tay thon thả thế này phải là bàn tay của một bác sĩ giải phẩu…”. Cô giáo đợi cả lớp bớt xôn xao dần rồi mới hỏi tác giả. Douglas cười ngượng ngịu: “ Thưa cô, đó là bàn tay của cô ạ!”.
Cô giáo ngẫn ngơ. Cô nhớ lại những phút ra chơi, cô thường dùng bàn tay để dắt Douglas bước ra sân, bởi em là một cô bé tật nguyền, khuôn mặt không được xinh xắn như các bạn trẻ khác, gia cảnh từ lâu lâm cảnh ngặt nghèo. Cô chợt hiểu ra, tuy cô vẫn làm điều tương tự với các em khác, nhưng hóa ra đối với Douglas, bàn tay cô lại mang một ý nghĩa sâu xa, một biểu tượng của tình yêu thương.
Nếu bàn tay cô giáo là hình ảnh đẹp nhất trong tâm hồn em bé khuyết tật Douglas, thì Bàn Tay Chúa Giêsu phải là hình ảnh tuyệt vời nhất đối với nhân loại. Bởi lẽ  bàn tay ấy mang đầy những dấu vết của lòng yêu thương. Vì thế mỗi lần hiện ra với các tông đồ, đặc biệt với Tôma qua đoạn tin mừng hôm nay, Chúa đều mời gọi các tông đồ xem đôi bàn tay của Người.

Bàn tay  mang dấu vết tình yêu đối với Chúa Cha
Chúa Giêsu luôn hướng về Chúa Cha bằng một tình yêu mật thiết, được thể hiện qua đôi bàn tay của cầu nguyện.
Đôi bàn tay hướng về Cha trong tư thế cầu nguyện mỗi khi bắt đầu ngày sống, xin Cha hướng dẫn và ban ơn giúp sức để những việc làm trong ngày sống được hoàn thành tốt đẹp theo ý Cha. Đôi bàn tay hướng về Cha suốt đêm dài, mỗi khi quyết định những việc làm quan trọng. Xin Cha ban ơn sáng suốt để chọn lựa điều tốt nhất, theo ý muốn của Cha. Đôi bàn tay từng cầm bánh và rượu đưa lên cao hướng về Chúa Cha để chúc tụng, tạ ơn. Xin Cha chúc lành cho những lương thực hưởng dùng. Đôi bàn tay đưa cao hướng lên trời, kêu xin sự sống cho La-da-rô. Bàn tay chấp lại trong lo sợ, thiết tha khẩn cầu xin Cha cất khỏi chén đắng trong tinh thần phó thác. Bàn tay dang rộng trên thập giá đau đớn vang xin Chúa Cha tha thứ cho những người giết hại mình.

Bàn tay mang dấu vết yêu thương con người
Đôi bàn tay Chúa Giêsu luôn hướng đến con người để cảm thông chia sẻ và giúp đỡ bằng tình yêu hy sinh.
Bắt đầu bằng đời sống lao động vất vả nơi gia đình Nazarét. Bàn tay từng cầm cưa, búa, đục để làm mộc cùng với thánh Giuse lo của ăn cho gia đình.
Bàn tay sẵn sàng mở ra ban ơn tha thứ biết bao tội nhân biết ăn năn sám hối như Maria Macdala, cho ngưuời phụ nữ ngoại tình, cho Giakêu…, đã chữa lành biết bao người đau ốm, bằng cách đặt tay trên mắt người mù bẩm sinh, trên tai và lưỡi của người câm điếc, trên thịt da lỡ lóet của người mắc bệnh hủi, trên trán giá lạnh của con gái Giai-rô, trên tay nóng sốt của bà nhạc mẫu Phêrô….
Bàn tay quyền thế đã truyền khiến giông tố và sóng gió yên lặng, đã cầm roi xua đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi đến thờ, đã xua trừ ma quỷ, đã chúc dữ cho những người biệt phái.
Bàn tay bị đâm thủng, nơi ấy vẫn còn lỗ đinh được ghi lại tình yêu Chúa dành muôn thế hệ. Bàn tay bị nộp cho lý hình, bị đóng đinh vào thập giá và phải mang lấy thân xác nặng nề đau xé suốt ba giờ liền trên thập giá. Tất cả chỉ vì tình yêu con người.

Khi mời gọi các tông đồ nhìn xem tay Chúa vừa để chứng thực chính Người là Thiên Chúa Tình Yêu; vừa để mời gọi các ông học lấy bài học yêu thương “như Người đã yêu”.
Khi mời gọi các tông đồ nhìn vào đôi bàn tay của Chúa là để nhắc nhở các ông không chỉ thi hành mệnh lệnh loan báo tin mừng trên môi miệng mà còn phải thực hiện lời rao giảng trên đôi tay mở ra để giúp đỡ những người bé nhỏ, nghèo nàn, yếu đau. An ủi những ai đau khổ, bất hạnh và vỗ về những ai cô đơn, tội lỗi. Hàn gắn những gia đình bị rạng nứt và đổ vỡ.
Nhìn bàn tay Chúa để các tông đồ hiểu rằng việc truyền giáo sẽ không bao giờ đạt kết quả, nếu thiếu đời sống cầu nguyện. “Hãy xin với chủ ruộng” .
Đôi bàn tay giơ cao hướng về Chúa để xin ơn. Xin Chúa ban ơn soi sáng, lòng nhiệt thành và sức mạnh cho những nhà truyền giáo. Xin Chúa đánh đọng lòng người tiếp nhận tin mừng. Xin Chúa chúc lành cho công cuộc truyền giáo.
Đôi bàn tay dang rộng hướng về tha nhân, bằng cách chấp nhận chịu đâm thủng của những dấu đinh vất vả, hy sinh, đau khổ vì tình yêu.
Bàn tay yêu thương đó được minh chứng nơi cộng đoàn tín hữu đầu tiên.
Họ đồng tâm hướng đôi bàn tay về Chúa bằng đời sống cầu nguyện, bằng lắng nghe Lời Chúa và lời giảng dạy của các tông đồ, cùng hiệp nhau trong nghi lễ bẻ bánh.
Họ cũng dùng bàn tay hướng về anh em để chia sẻ trong tình bác ái. Tự nguyện dùng tài sản riêng làm của chung. Chấp nhận bán hết tài sản để trợ giúp cho người túng thiếu. Họ cư xử với nhau như anh em một nhà. Chính đời sống ấy lôi cuốn biết bao người xin gia nhập Kitô giáo.
Sứ mạng loan báo tin mừng tình thuơng được Chúa phục sinh trao ban cho các tông đồ, qua các tông đồ cho các kitô hữu đầu tiên và hôm nay sứ mạng ấy Chúa trao lại cho mỗi người chúng ta!
Lạy Chúa trong cuộc sống thường ngày, xin cho chúng ta biết xử dụng đôi bàn tay của mình. Một bàn tay nắm chặt bàn tay Chúa bằng đời sống cầu nguyện. Bàn tay kia nắm chặt lấy tay tha nhân bằng những hành động bác ái yêu thương, để rồi chúng con đặt bàn tay của nhau vào bàn tay Chúa nhờ thế tình yêu Chúa được đơm bông kết trái khắp nơi.


LÝ TRÍ VÀ ÐỨC GIÊSU PHỤC SINH 
Lm. Mark Link S.J
     Giả như chúng tôi mời một anh chị em lên tòa giảng và bịt mắt anh chị em đó lại, rồi chúng tôi đặt một sô nước trước mặt anh chị em đó, và hỏi anh chị em đó đoán xem nó rỗng hay đầy. Có ba cách trả lời câu hỏi đó mà không cần phải cởi khăn bịt mắt ra. Ba cách đó thế nào?
     Cách thứ nhất là đến thẳng xô nước và thò tay vào xem có nước trong đó không. Nói cách khác, anh chị em có thể kiểm nghiệm trực tiếp xem xô ấy đầy hay rỗng. Cách này được gọi là kinh nghiệm. Ðây là tri thức mà chúng ta có được bằng kinh nghiệm trực tiếp. Ðó là tri thức do giác quan.
     Cách thứ hai để biết cái xô ấy có chứa nước hay không là thả vào đó một vật, chẳng hạn một đồng xu. Nếu vật ấy chạm vào đáy xô tạo nên một âm thanh vang và to, anh chị em sẽ biết ngay cái xô ấy rỗng. Nhưng nếu đồng xu ấy chạm tạo nên âm thanh không rõ hoặc có những hạt nước bắn tóe ra, anh chị em biết ngay cái xô ấy có nước. Tri thức này có được là nhờ lý luận.
     Cách thứ ba để biết xem cái xô ấy có nước hay không là hỏi thăm người nào mà anh chị em tin cậy. Người ấy có thể nhìn vào cái xô và nói cho anh chị em biết trong ấy có nước hay không. Cách biết này do tin vào người khác mà biết. Ðó chính là tri thức có được do niềm tin.
     Kinh nghiệm, lý luận và tin tưởng đó chính là ba cách thức để biết ở đời này.
     Bây giờ chúng ta hảy xét đến một câu hỏi khác, câu hỏi thứ hai.
     Trong ba cách để biết ấy, có cách nào giúp chúng ta biết được nhiều hơn cả?    Chúng ta biết được điều này điều kia là do kinh nghiệm bằng giác quan, hay do đầu óc suy luận, hay do tin tưởng vào người khác?
     Nếu anh chị em trả lời là do niềm tin, do sự tin tưởng nơi người khác, thì anh chị em đúng hoàn toàn. Hầu hết chúng ta biết được điều này điều kia là do chúng ta tin vào những gì người khác nói với chúng ta. Có một nhà chuyên môn ước lượng rằng 80% những kiến thức của chúng ta là do tin tưởng vào người khác mà có.
     Chẳng hạn, trong chúng ta ít có ai được may mắn du hành quanh thế giới. Cách duy nhất, để chúng ta biết về phần lớn các quốc gia trên thế giới là do người khác nói cho chúng ta biết. Nóí cách khác, chúng ta tin vào những người đã từng đến nhữmg nơi ấy. Nếu họ kể cho chúng ta rằng có một xứ sở nọ tên là Trung Hoa, và dân chúng ở đó thế này thế kia, chúng ta sẽ tin họ.
     Phương cách để chúng ta có được những tri thức thông thường còn nhận thức như thế, thì cách thức để chúng ta có được những tri thức tôn giáo càng chân thực hơn nữa. Phần lớn tri thức tôn giáo mà chúng ta có là do chúng ta tin vào những gì Kinh thánh kể lại cho chúng ta. Nói cách khác, phần lớn tri thức tôn giáo của chúng ta là do niềm tin.
     Bây giờ chúng ta xét đến câu hỏi thứ ba. Chúng ta có thể hiều biết những thực tại tôn gíao cũng bằng ba cách mà chúng ta thường dùng để hiều biết những thực tại thông thường không?     Chẳng hạn, chúng  ta có thể biết Ðức Giêu sống lại từ cõi chết không phải chỉ nhờ tin những gì Kinh Thánh nói, mà còn nhờ vào suy luận nữa không? Có nhiều người nghĩ rằng được. Họ giải thích rất hấp dẫn. Họ lập luận rằng sau khi Ðức Giêsu chết, các môn đệ bị khủng hoảng tinh thần tột độ. Họ chỉ còn là một nhóm người đại bại, một nhóm người thất chí, một nhóm người nhát sợ. Thế rồi vào Chúa nhật Phục Sinh, có một biến cố nào đó đã xảy ra cho đám người đang bị khủng hoảng, thất chí, sợ hãi này. Có một biến cố nào đó đã biến đổi họ một cách không thể tưởng tượng được. Có một biến cố nào đó thay đổi con người họ một cách thật lạ lùng, Bỗng nhiên lòng họ bừng lên niềm vui, niềm hạnh phúc thật sự. Họ không thể cầm lòng được. Họ vội chạy đi loan báo cho mọi người rằng  Ðức Giêsu đã sống lại và hiện đang sống. Họ tin điều ấy một cách chắc chắn đến độ họ thà sẵn sàng chịu bắt bớ bách hại đủ kiểu đủ cách, dầu là phải chết, còn hơn phải chối bỏ Ðức Chúa đã Phục sinh của họ.
     Ðời sống và lời giảng của nhóm người này đã thay đổi cục diện lịch sử nhân loại. Không một giả thuyết nào có thể giải thích được tại sao đời sống họ lại có thể biến đổi như thế, ngoại trừ cách gỉai thích của chính họ: Họ đã thấy Ðức Giêsu hiện còn sống.
     Giả như nhóm người thất học này đã phịa chuyện về Ðức Giêsu và sự Phục sinh của Ngài thì chắc chắn ta phải chấp nhận rằng sớm hay muộn, ít nhất phải có một người trong bọn sẽ phải nói ra sự thật, Vì không chịu nổi sự bách hại và giết chóc.
     Nhưng không một ai trong nhóm ây đã làm thế, lời chứng của họ về Ðức Giêsu sống lại không bị lay chuyển chút nào. Ngược lại, lời chứng ấy càng ngày càng mạnh mẽ và ảnh hưởng tới mọi người hơn. Họ đã cảm nghiệm được một năng lực mới lạ và diệu kỳ đã khiến họ thực hiện được nhiều phép lạ. Chính sự biến đổi không thể nào giải thích được nơi các môn đệ Ðức Giêsu khiến cho nhiều người nói rằng chính lý trí cũng minh chứng rằng Ðức Giêsu đã phục sinh. Nói cách khác, lý trí thuần lý cũng xác quyết rằng một biến cố nào đó rất ngoạn mục đã xảy ra làm biến đổi các môn đệ Ðức Giêsu. Lý trí thuần lý xác nhận rằng sự Phục Sinh của Ðức Giêsu thực sự đã xảy ra.
     Anh chị em cũng như tôi đều không được đặt tay vào cạnh sườn Chúa Giêsu như Thánh Tôma, để trực tiếp cảm nghiệm được Ðức Giêsu đã phục sinh từ cõi chết. Tuy nhiên chúng ta có thể tin tưởng vào chứng cứ của Thánh Kinh. Chúng ta cũng có thể làm hơn thế nữa. Chúng ta cũng có thể sử dụng tặng phẩm Chúa ban là lý trí để xác quyết thêm điều Kinh Thánh đã truyền dạy chúng ta. Và rồi, chúng ta cũng có thể quỳ gối xuống như Thánh Tôma đã làm và thưa với Chúa Giêsu: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con". Ðáp lại Chúa Giêsu nói với chúng ta: "hạnh phúc biết bao cho kẻ chẳng thấy mà vẫn tin".
     Ðể kết thúc chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện:
     Kính lạy Chúa, bất cứ khi nào đức tin chúng con bị chao đảo, giống như trường hợp của Thánh Tôma, thì xin Ngài hãy nhắc chúng con nhớ lại những lời Kinh thánh thuật lại về những biến cố đã xảy ra vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Cũng xin Chúa nhắc chúng con nhớ biến cố này không chỉ gây ảnh hưởng trên các môn đệ Chúa Giêsu mà còn trên toàn dòng lịch sử. Và nhất là, xin nhắc cho chúng con biết tham dự vào Tin Mừng Phục Sinh của Ngài với tha nhân chung quanh chúng con, giống như các môn đệ đã chia sẻ niềm vui ấy cho quần chúng quanh họ. Chúng con nguyện xin nhờ Ðức Kitô, Chúa chúng con.


  SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN XIX THƯỜNG NIÊN  Lm. Clemente Nguyễn Văn Lanh CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN-NĂM A 1V 19,9a.11-13a; Rm 9,1-5; Mt 1...