Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2017

SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN THÁNH

Thứ Hai (Ga 12, 1-11)

Dẫn
“Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?...Ai thi hành ý muốn Cha tôi,…người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mt 12,48-49).
Gia đình của Chúa là gia đình đức tin. Người thân của Chúa là những ai yêu mến và sống Lời Chúa.
Gia đình Bêtania là gia đình đức tin vì mỗi người trong gia đình này đều thể hiện niềm tin của mình cách tích cực với hết khả năng của mình. Do đó họ xứng đáng là anh chị em của Chúa và được Chúa yêu thương.
Xin cho mỗi thành viên trong gia đình chúng ta, biết yêu Chúa với hết lòng qua những việc làm cụ thể  trong tuần thánh này, để xứng đáng là gia đình đức tin.

 Chia sẻ
Tin mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu đến làng Bêtania, (cách Giêrusalem độ chừng 3km) để dùng bữa cơm tối tại nhà La-da-rô, người được Chúa Giêsu cho sống lại.
Trong bữa ăn tối thân tình này, ta nhận ra một mẫu gia đình cần phải có  để xứng đáng hưởng ơn cứu độ của Chúa.
Mác-ta: Vốn là con người năng động “lăng xăng nhiều việc”. Hôm nay lại đuợc Chúa Giêsu viếng thăm và ở lại dùng bữa. Trong tâm tình biết ơn, vì Chúa đã cho La-da-rô em mình sống lại nên đã chuẩn bị bữa tiệc chu đáo thết đãi Chúa.
Maria: Tin Mừng cho biết là người thích ở bên chân Chúa để nghe Chúa dạy bảo. Cô cũng là cô gái tội lỗi đi tìm Chúa và gặp Chúa đang dự tiệc tại nhà ông Si-mon. Cô mang đến một cái bình bằng đá ngọc quý, đựng nước hoa hảo hạng, cô đến quỳ bên chân Chúa rồi đập cả bình để đổ hết nước hoa trên chân Chúa, khiến cả nhà thơm ngào ngạt, rồi cô lấy tóc mà lau. Tin mừng hôm nay thánh Gioan cho biết, vì lòng yêu mến Chúa nên cô đã lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá mà xức chân Chúa Giêsu, rồi lấy tóc mà lau. Cả nhà sực mùi thơm.
La-da-rô: Người được Chúa thương, được Chúa cho sống lại. Anh là chứng nhân sống động cho mọi người tin Chúa. Anh được ngồi đồng bàn cùng với Chúa.

Một gia đình có ba người, mỗi con người mỗi tính cách, mỗi người thể hiện tình yêu của mình nơi Chúa Giêsu mỗi cách thế khác nhau.
Mác-ta, không ngại vất vã làm việc nhiệt tâm để lo bữa ăn chu đáo cho Chúa.
Maria, không sợ tốn hao tiền của vì Chúa. Cô không ngại thể hiện mọi cử chỉ khiêm tốn nhất, để nói lên lòng kính yêu Chúa.
La-da-rô, người được gọi là bạn của Chúa Giêsu. Anh được Chúa thương mến cho sống lại. Trong bữa tiệc, anh được ngồi bên Chúa. Chứng tỏ anh cũng đã yêu Chúa hết lòng.
Một gia đình toàn những con người chân tình, hết lòng yêu thương Chúa thì làm sao Chúa không thương mến.
Xin cho mọi gia đình công giáo, biết bắt chước mẫu gương của gia đình Bêtania hết lòng yêu mến Chúa. Sẵn sàng hy sinh làm tất cả vì tình yêu Chúa. Nhất là trong tuần thánh này biết sẵn sàng hy sinh thời giờ, công việc riêng, để sống thân tình với Chúa qua việc tham dự đầy đủ và tích cực các nghi thức phụng vụ. Đồng thời cũng sẵn sàng hy sinh cả tiền của, công sức để góp phần vào việc tổ chức các nghi lễ trong tuần thánh được trang trọng nơi giáo xứ mình.

Thứ Ba (Ga 13,21-33.36-38)

Dẫn
Xã hội xưa nay đều lên án những kẻ phản bội, bất trung. Ai cũng đều căm ghét những kẻ “ăn cháo đá bát”. Nhưng bất trung và phản bội vẫn tồn tại trong xã hội con người trong đó có cả chúng ta.
Xin cho ta được lòng trung thành tin yêu Chúa.

Chia sẻ
Ngày 19 tháng 01 năm 2011, tại phường 6, TP Tân An, tỉnh Long An, xảy ra vụ án nghiêm trọng. Nhà báo Hoàng Hùng đang ngũ, đã bị bà vợ Trần Thúy Liễu nhẫn tâm đổ xăng lên mình, rồi châm lữa thiêu đốt trong đêm tối cho đến chết. Theo điều tra cho biết nguyên nhân dẫn đến vụ án ghê sợ này là do ông Hùng biết chuyện tình gian díu của bà ở bên ngoài, và do vấn đề kinh tế gia đình khó khăn vì nạn cờ bạc của bà. (Theo Vân Trường - Ngọc hậu)Tuổi Trẻ
Nếu vì “tình gian dối” mà bà Liễu đã phản bội chồng, thì Giuđa cũng không hơn gì. Bằng cử chỉ“chấm chung” thể hiện tình yêu đối với thầy, nhưng lại là “cái chấm dối trá”, Giuđa đã phản bội Thầy mình .
Nếu vì túng thiếu “tiền bạc”, bà Liễu đã nhẫn tâm giết chồng, thì Giuđa cũng vì “30 đồng bạc” mà sẵn lòng nộp Thầy cho quân dữ.
Sự phản bội của bà Liễu và của Giuđa, đều đáng bị lên án và trừng phạt đích đáng.
Nhưng khi lên án họ, ta cũng nghĩ đến ta. Chúng ta cũng có thể trở thành người phản bội Chúa khi ta cố tình phạm tội.
Có lẽ không ai trong chúng ta muốn mình giống như Giuđa. Nhưng nhiều lúc vô tình hay cố ý, chúng ta cũng đã trở thành kẻ phản bội Chúa như Giuđa. Xin Chúa tha thứ và xin cho chúng ta biết ý thức gìn giữ cho tâm hồn mình được trong sạch.

Thứ Tư (Mt 26,14-25)

Dẫn
Bài tin mừng hôm nay cũng gần giống bài tin mừng hôm qua, thuật lại những tình tiết diễn ra của bữa tiệc ly. Nhưng tin mừng hôm nay nhấn mạnh đến nỗi buồn của Chúa Giêsu khi biết Giuđa là kẻ phản bội.
Chúa cũng sẽ rất buồn nếu ta phạm tội phản bội lại tình thương của Người.

Chia sẻ
Ngày 13 tháng 04 năm 2011, báo Tuổi Trẻ đăng bài, Nghệ An: Tang tóc chồng lên tang tóc
 Vào lúc 2g30 ngày 12-4, một tai nạn giao thông thảm khốc đã giết chết bốn người, làm bị thương hai người, trong đó có 5 người làanh em ở xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương (Nghệ An).
Năm người này đang trên đường di chuyển thi hài người thân từ sân bay Nội Bài về quê an táng.
Khi đến thị trấn Còng, huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa) do lái xe ngủ gục, xe đã đâm vào phía sau chiếc tải đang dừng bên đường gây nên tai nạn khiến tang tóc chồng lên tang tóc.
Tang tóc chồng chất lên người thân của các gia đình nạn nhân. Khiến những bà vợ gào khóc trong cơn bấn loạn và chết lặng người khi chứng kiến cái chết của chồng mình. Đêm Văn Đồng trở thành một đêm tang tóc.

Nếu tang tóc đã chồng lên tang tóc đối với người thân của các nạn nhân ở Văn Đồng, Nghệ An thế nào, thì đau buồn lại chồng lên đau buồn đối với Chúa Giêsu còn lớn hơn nhiều, trước sự phản bội của Giuđa, một môn đệ được Chúa yêu thương.
Mặc dù Chúa Giêsu đã dùng mọi cử chỉ, nói lên lòng yêu thương đối với Giuđa trong bữa tiệc ly để ông nhận ra tội lỗi của mình mà sám hối. Nhưng Giuđa vẫn dững dưng không hề thay đổi ý định nộp thầy. Thật đau buồn biết mấy!
Người đời thuờng nói, nổi đau lớn nhất không phải vì biết được sự  phản bội của người thân mà là vì phải tiếp tục yêu thương họ.
Dù Chúa Giêsu biết rõ môn đệ Giuđa mà mình tín nhiệm yêu mến phản bội. Nhưng Chúa vẫn tôn trọng tư do của ông và phải tiếp tục yêu thương ông. Quả là nổi đau chồng lên nổi đau đối với Chúa Giêsu khi phải chứng kiến sự phản bội của người trò mình yêu mến.
 Đạo lý Việt Nam coi hành động lừa thầy phản bạn là một tội ác về đạo đức, không thể tha thứ. Nhưng với Chúa Giêsu thì Ngài không bao giờ thất vọng về chúng ta. Dầu chúng ta có xấu xa tới đâu, dẫu chúng ta có tội lỗi ngập tràn. Tình yêu Chúa đối với ta không hề đổi thay. Ngài vẫn yêu thương và sẵn sàng tha thứ cho ta.
Xin cho chúng ta biết cảm nhận được nổi đau chồng chất mà Chúa đã chịu vì tội lỗi chúng ta. Và mong cho tất cả chúng ta, đừng có ai mắc phải lỗi lầm của Giuđa mà phản bội lại tình Chúa.


Thứ Năm Tuần Thánh Năm

NGÀI  YÊU THƯƠNG HỌ ĐẾN CÙNG (Ga 13,1)
Định luật tình yêu dạy cho ta hiểu rằng: yêu ai thì muốn ở gần người đó, yêu ai thì muốn hy sinh  phục vụ cho người đó, yêu ai thì muốn trở nên một với người mình yêu.
Tình yêu của Chúa Giêsu thể hiện qua bài tin mừng hôm nay, cho chúng ta thấy những điều đó.
Yêu ai thì muốn ở gần người đó.
“Ngài đã yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian; và Ngài yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1).
“Đức Giêsu biết giờ của người đã đến”, thời gian mà Người phải lìa bỏ thế gian mà  trở về cùng Thiên Chúa.
Thời gian còn lại không bao nhiêu nên Ngài muốn tận dụng thời điểm mừng đại lễ vượt qua của người Do Thái để tổ chức bữa tiệc với các môn đệ,  vừa theo đúng luật định vừa tranh thủ giờ phút ngắn ngủi trong phòng tiệc ly ấm cúng để ở bên các môn đệ yêu dấu.
Thánh Gioan cho biết Đức Giêsu đã ao ước mãnh liệt được dùng bữa ăn này với các môn đệ vì đây là bữa tiệc cuối cùng. Trong bữa tiệc, Chúa Giêsu đã không ngại lên tiếng bộc lộ những tâm tình sâu kín về lòng thương của Ngài dành cho các môn đệ. Ngài gọi họ bằng những lời lẽ đầy thân thương: “những người con bé nhỏ của Thấy”. Lòng bên lòng, Chúa Giêsu giãi bày tâm sự vừa thắm thiết vừa u buồn. Vượt trên hết là linh cảm về cái chết, với những lời tiên báo về sự phản bội, bỏ rơi, hy sinh. Cuộc trao đổi thân tình dần dần đi đến kết thúc, trong khi những lời của Chúa Giêsu vẫn tiếp tục tuôn ra một cách  dịu dàng và cuốn hút, mặc dù có một chút căng thẳng khác thường ẩn trong những lời ám chỉ nghiêm trọng của Ngài về dao động giữa sự sống và sự chết. Tất cả những gì mà Chúa Giêsu thể hiện trong bữa tiệc ly là muốn được ở bên các môn đệ cách thân tình nhất, để thể tình yêu thương Ngài.
Yêu nhau là sẵn sàng hy sinh phục vụ
Yêu thương bằng lời thì có thể coi là đầu môi trót lưỡi, yêu thương bằng thái độ có thể bị coi là giả hình. Chỉ có yêu thương bằng hành động mới là tình yêu chân thực.
Chúa Giêsu không chỉ dạy các môn đệ của Ngài : “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương chúng con” mà Chúa Giêsu còn thể hiện tình yêu cụ thể bằng cách cúi xuống để rửa chân cho các môn đệ.  
Ngài không ngần ngại cởi bỏ chiếc áo cao sang của Thiên Chúa; nhận lấy chiếc áo phận người, nhận lấy phận tôi đòi cúi xuống dưới chân cho các môn đệ.
Rửa chân xong, Chúa Giêsu ngồi vào bàn tiệc và dạy cho các môn đệ  về bài học yêu thương bằng cách phục vụ: “Anh em gọi Thầy là “Thầy”, là “Chúa”, điều đó phải lắm. Vậy Thầy là Thầy, là Chúa mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau”
Bằng hy sinh khiêm tốn phục vụ, người ta đo lường được sự chân thành và mức độ của tình yêu.
Yêu nhau người ta muốn nên một với nhau
Khi Yêu nhau người ta không dừng ở việc phục vụ trong hy sinh, nhưng người ta còn muốn nên một với người mình yêu : mình với ta tuy hai mà một. Vì lẽ đó, Chúa Giêsu đã lập Bí Tích Thánh Thể, biến bánh thành Thịt và rượu thành Máu Người ở lại mãi với người mình yêu.
Người đời trước khi đi xa, xưa nay thường để lại cho người thân bằng những kỉ vật, bằng của hồi môn quý giá. Đối với Chúa Giêsu những kỉ vật những của hồi môn dù cho quý giá mấy cũng tầm thường, không đủ nói lên hết tấm lòng yêu thương của Chúa dành cho nhân loại. Nên Chúa muốn dùng kỉ vật hết sức đặc biệt và cao trọng nhất, đó chính bản thân Chúa. Nhưng bản thân bằng xường thịt của Chúa chỉ có thể trao ban một lần, không thể trao ban mãi. Vì thế, Chúa muốn lưu lại bản thân Ngài bằng hình thức nhiệm mầu dưới hình bánh và rượu làm của ăn của uống thiên liêng dưỡng nuôi linh hồn ta. Làm như thế Chúa muốn ở lại với các tông đồ và với chúng ta luôn mãi. Đồng thời qua việc kết hiệp với Mình Chúa, Chúa lưu truyền sự sống của Ngài trong thân thể và trở nên một trong chúng ta.
Để thể hiện yêu thương các môn đệ đến cùng, Chúa Giêsu còn muốn các môn đệ trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài và là hiện thân của Ngài giữa trần gian. Vì thế Chúa Giêsu trao ban chức linh mục cho các môn đệ “các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Trong thánh lễ, nhờ việc đặt tay trên bánh rượu và đọc lời truyền phép như Chúa Giêsu đã làm trong bữa tiệc ly, qua đó Chúa hiện diện nơi hình bánh rượu, trở nên của ăn bổ dưỡng thân xác nuôi sống linh hồn cho những ai đón nhận Ngài, vì Chúa nên một với chúng ta.
Tham dự cử hành nghi thức rửa chân và thánh lễ chiều thứ năm hôm nay, ước gì giúp ta hiểu được bài học khiêm tốn phục vụ và tình thương đến cùng mà Chúa dành cho chúng ta. Xin cho chúng ta cảm nhận sâu sắc tình Chúa mà nổ lực hết sức mình để đáp lại tình Chúa yêu thương bằng đời sống gắn bó thân tình với Chúa; bằng những hy sinh phục vụ quên mình vì Chúa và tha nhân, nhất là luôn biết gắn kết với Chúa nơi Bí Tích Thánh Thể để Chúa ở trong ta và ta được sống trong Chúa trong tình yêu viên mãn.

Suy Niệm Trước Thánh Thể Thứ Năm

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, chính vì biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Nhưng vì Người yêu thương quá đổinhững kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, nên Chúa đã có những sáng kiến kì diệu nhằm minh chứng cho tình yêu của mình qua việc: 
Lập nên bí tích Thánh Thể. Đây là sáng kiến độc nhất vô nhị trong toàn thể vũ trụ này. Chỉ một mình Thiên Chúa với tình yêu thương mới có thể nghĩ ra cách thức để được ở lại với con người. Đây là một tình yêu hiến mình.
Cũng chính trong tình yêu, Chúa Giêsu lập bí tích Truyền Chức Thánh để thông ban chức linh mục cho một số người Chúa tuyển chọn, với mục đích có người là hình ảnh của Chúa ở trần gian này, và thực hiện hành động ban phát lương thực là chính Mình Máu Ngài để nuôi sống những con người muốn sống gắn bó với Ngài. Đây là một tình yêu trao ban.
Cuối cùng với hành động quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ như một người đầy tớ phục vụ cho chủ mình. Chúa muốn để lại cho các môn đệ và mỗi người chúng ta bài học về tình yêu phục vụ.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, đứng trước tình yêu hiến mình, tình yêu trao ban và tình yêu phục vụ, xin cho chúng con được mời gọi đáp trả lại tình yêu của Chúa để trở nên giống Chúa trong việc hy sinh hiến mình, trong việc trao ban tình yêu và phục vụ tha nhân, nhất là những người thân trong gia đình. Lạy Chúa xin cho chúng con biết lấy tình yêu đáp đền tình yêu qua việc chia sẻ nổi đau buồn với Chúa trong vườn dầu, qua việc hy sinh Thức với Chúa một giờ trong đâm hôm nay.

Thứ Sáu Tuần Thánh

OB và ACE thân mến, chúng ta vừa nghe lại bài tường thuật về cuộc thương khó của Chúa Giêsu đã chịu vì tội lỗi chúng ta. Suy niệm về cuộc thương khó của Chúa, chúng ta cảm thấy không ai trong chúng ta vô tội trước cái chết đau thương của Chúa.
Có thể ta là những Thượng tế, những biệt phái và Pharisêu muốn tiêu diệt Chúa để Chúa đừng làm phiền, đừng nhắc nhở những sai trái của ta.
Có thể ta là dân chúng bàng quang, hoặc có tâm lý hùa theo đám đông mà không dám nói lên chính kiến của mình, để bênh vực cho những người anh em vô tội.
Có thể ta là những tên lính đã đánh đòn, đóng đinh, hành hạ Chúa cho hả cơn giận nơi những người anh em chúng ta tốt lành, hiền từ. 
Có thể ta là những người phụ nữ thành Giêrusalem khóc thương chỉ vì tội nghiệp Chúa nơi những người khốn cùng, nghèo khó chứ chưa biết phải làm sao để giúp cho họ đỡ khổ.
Có thể ta là tên trộm dữ đã bao lần oán trách cuộc đời và than trách Chúa khi thấy những điều trái ý xảy đến cho chúng ta.

Hãy xin cho chúng ta là Simon, sẵn sàng vác lấy thánh giá Chúa qua việc chấp nhận thử thách gian khổ mà Chúa gửi đến và sẵn sàng san sẻ nỗi đau với người khác.
Hãy xin cho chúng ta biết noi gương  Đức Mẹ mạnh dạn, can trường bước theo Chúa Giêsu trên đường đau khổ mà không một lời than thở, không một chút kêu ca.
Hãy xin cho chúng ta là Gioan, đón lấy sứ mạng của Chúa trao ban để sẵn sàng hiến thân phục vụ cho những chương trình, hoạch định của Chúa.
Trên hết, xin cho chúng ta giống như viên đại đội trưởng: “Thấy sự việc xảy ra như thế, viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa”. (Lc 23,47).
Lạy Chúa, đã biết bao lần chúng con ngước nhìn lên Chúa bị đóng đinh, nhưng chúng con chưa xác tín niềm tin mạnh mẽ vào Chúa; nhất là chưa dám sống chết vì niềm tin trước người đời. Xin Chúa tha thứ và ban ơn oán cải sâu xa như tông đồ Phêrô khi xưa. Amen.

Thứ Bảy: Vọng Phục Sinh A

SỨ ĐIỆP PHỤC SINH
(Mt 28, 1-10)
Tin mừng đêm vọng phục sinh tường thuật lại sự kiện hai phụ nữ Maria Mácđala và Maria đến thăm mộ Chúa từ sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần. Hai bà chứng kiến cảnh đất chuyển động dữ dội và Thiên Thần Chúa từ trời xuống lăn tảng đá đậy cửa mộ ra, rồi ngồi lên trên.. Diện mạo Người như ánh chớp, y phục nguời trắng như tuyết.
Lính canh thấy vậy thì khiếp sợ. Tuy nhiên Thiên Thần chấn an  hai bà “đừng sợ” và nói: Chúa Giêsu chịu đóng đinh, Người không còn ở đây nữa. người đã sống lại như Lời Người phán trước…Hai bà vừa mừng vừa sợ chạy về báo tin cho các tông đồ. Nhưng Chúa Giêsu đón hai bà lại. Hai bà liền phục lạy và ôm chân Chúa. Chúa bảo hai bà về báo cho các môn đệ đến Galilê. Họ sẽ gặp Người ở đó.
Trình thuật của tin mừng phục sinh tối nay muốn gởi đến chúng ta hai sứ điệp quan trọng.
Sứ điệp I:  Chúa phục sinh mang đến niềm vui
Thiên Thần Chúa đã trấn an trước nổi lo sợ của hai phụ nữ “đừng sợ” .
Sau khi Chúa Giêsu chết, các môn đệ đều hoang mang và lo sợ. Chính vì thế mà ngay khi phục sinh, Chúa muốn chấn an các môn đệ Người “Đừng sợ”. Đừng sợ thập giá của đau khổ, bởi từ nay thập giá sẽ trở thành thánh giá vinh quang”. “ Đừng sợ kẻ chỉ giết được thân xác nhưng không giết được linh hồn”. Đừng sợ ma quỷ, đừng sợ thế gian, đừng sợ thần chết vì Chúa đã chiến thắng tất cả. Ai tin nhận Người cũng sẽ chiến thắng vẽ vang như thế.
Sứ điệp II: Loan báo tin mừng phục sinh
Sau khi nhận ra Chúa phục sinh, hai bà tiến đến ôm chân Chúa và bái lạy. Ngay khi đó Chúa phục sinh trao ban cho hai bà sứ mạng loan báo. “Hãy về báo cho anh em của thày để họ đến Galilê. Họ sẽ gặp thầy ở đó”
Tin mừng phục sinh phải được loan báo cho mọi người, đó là lệnh truyền của Chúa Giêsu Phục sinh. Chính Thánh Phêrô là tông đồ đã vâng nghe và đã thi hành lệnh truyền đó qua bài đọc I.  Cv 10,34.37-43
Viên quan bách quản Roma, là người ngoại giáo, khi nghe biết về Chúa Giêsu, đã đến xin ông Phêrô làm phép rửa để được gia nhập cộng đoàn các tín hữu đầu tiên. Thánh Phêrô đã nhắc cho ông và gia đình ông niềm tin căn bản này : Đức Giêsu đã phục sinh. Đây là bài giảng đầu tiên mà Phêrô dạy dỗ cho những người tân tòng. Thánh Kinh gọi bài giảng truyền giáo này là Keryma. Lược đồ của mỗi Keryma thường là
a) Tóm tắt cuộc đời của Đức Giêsu ở trần thế.
b) Cái chết của Ngài.
c) Việc Ngài sống lại.
d) Kêu gọi hãy tin vào Ngài để được ơn cứu độ.

Chúa Giêsu đã chịu khổ hình, chịu chết trên thánh giá và đã phục sinh để đem lại sự sống đời đời cho chúng ta. Đó là tin mừng lớn lao mà chúng ta phải tin nhận và loan báo cho mọi người.
Xin cho chúng ta biết tin tưởng vào sức mạnh và quyền năng của Chúa Phục sinh mà dám chết đi cho tội lỗi, xác thịt và thế gian để được sống lại vinh hiển với Chúa.
Xin cũng cho chúng ta biết nổ lực loan báo tin mừng phục sinh cho mọi người bằng lời nói, gương lành để xua tan bóng tối sợ hải của hận thù chia rẻ, ích kỉ bất công và chết chóc mà đón nhận ánh sáng tình thương và tha thứ, của chân lý và niềm vui sự sống mà Chúa phục sinh đem đến qua đời sống chúng ta.

Chúa Nhật Phục Sinh

TÌNH YÊU VÀ LỜI CHÚA GIÚP NHẬN RA CHÚA PHỤC SINH
(Ga 20, 1-9)
Truyện kể:
Mặt trăng và Mặt Trời tranh cãi với nhau về Trái Ðất.
N. Mặt Trời nói : "Lá và cây cối, tất cả đều màu xanh".
Đ. Nhưng Mặt Trăng thì lại cho rằng, tất cả chúng mang một ánh bạc lấp lánh.
Đ. Mặt Trăng nói rằng, con người trên Trái Ðất thường ngủ.
N. Còn Mặt Trời lại bảo con người luôn hoạt động đấy chứ.
Đ. Con người hoạt động, vậy tại sao trên Trái Ðất lại yên ắng đến vậy ? Mặt Trăng cãi.
N. Ai bảo là trên Trái Ðất yên lặng ? Mặt Trời ngạc nhiên. Trên Trái Ðất mọi thứ đều hoạt động, và còn rất ồn ào, náo nhiệt nữa.
Và họ cãi nhau rất lâu, cho đến khi Gió bay ngang qua.
G. Tại sao các bạn lại cãi nhau về chuyện này chứ ? Tôi đã ở bên cạnh Mặt Trời khi Mặt Trời nhìn xuống Trái Ðất, và tôi cũng đi cùng Mặt Trăng khi Mặt Trăng xuất hiện.
Khi Mặt Trời xuất hiện, mọi thứ là ban ngày, cây cối màu xanh, con người hoạt đông. Còn khi Trăng lên, đêm về, mọi người chìm vào giấc ngủ.
Nếu chỉ nhìn mọi việc dưới con mắt của mình, thì mọi thứ chẳng có gì là hoàn hảo, trọn vẹn cả. Không thể đánh giá Trái Ðất chỉ bằng con mắt của Mặt Trời hoặc Mặt trăng được.
Tin mừng phục sinh thuật lại cho thấy ba cái nhìn khác nhau khi chứng kiến cùng một sự kiện “Ngôi mộ trống”.
- Ma-ri-a Ma-đa-lê-na cứ đinh ninh rằng xác Chúa Giêsu đã bị đánh cắp (Gioan 20, 13-15).
- Phêrô thì rất đỗi ngạc nhiên vì sự việc đã xảy ra (Lu-ca 24, 12).
- Còn Gioan, người môn đệ Chúa Giê-su thương mến, thì tin chắc rằng Chúa Giêsu đã sống lại như lời Ngài đã tiên báo (Ga 20, 9).
Sở dĩ có cái nhìn khác nhau là vì cả ba có những tâm trạng khác nhau:
Maria Macđala, với tâm trạng thương nhớ Chúa thiết tha. Có lẽ cả đêm dài bà không chợp mắt được. Bà ước ao trời mau sáng để ra thăm mộ Chúa. Nhưng khi chứng kiến tảng đá đậy mộ bị lăn ra, bà đã hốt hoảng chạy về báo tin cho các môn đệ Chúa. Tình thương mà Maria Macđala dành cho Chúa Giêsu là một tình thương đáng trân trọng. Nhưng nếu tình thương chỉ dừng lại ở mức độ cảm tính thường tình của con người thì không có khả năng nhận ra Chúa phục sinh.
Phêrô mang tâm trạng buồn vì tội lỗi đè nặng nên cũng không nhận ra gì hơn ngoài việc rất đổi ngạc nhiên khi chứng kiến những băng vải và khăn che đầu được cuốn lại xếp riêng ra cũng như ngôi mộ trống. Phải chăng lúc đó tâm trí của Phêrô vẫn còn bị ám ảnh giờ phút chối Chúa. Phải chăng lòng ông vẫn còn mang nặng nỗi u buồn về tội lỗi của mình. Ông còn phải có thời gian và kiên nhẫn như là liều thuốc đặc trị chữa lành vết thương tâm hồn bất tín mà tiến đến niềm tin vào Chúa phục sinh.
Gioan, người môn đệ Chúa yêu, mà cũng là môn đệ rất yêu Chúa, nên khi chứng kiến những băng vải còn đó bên ngôi mộ trống ông đã tin.
Để tin vào sự phục sinh của Chúa Giêsu, Gioan đã vượt lên trên tình cảm thường tình của Maria Macđala và nổi đau buồn vì mặc cảm tội lỗi của Phêrô. Cái nhìn vào sự kiện ngôi mộ trống của Gioan được định hướng bởi tình yêu trong sáng và sự hướng dẫn của Lời Chúa. Chính cái nhìn này đã cho ông niềm tin vào sự sống lại của Chúa Giêsu.
Như thế, cùng một sự kiện, nhưng lại có nhiều tâm trạng khác nhau nên đưa đến cái nhìn khác nhau.
Những biến cố vui buồn, sướng khổ, thành công thất bại…như là dấu chỉ “ngôi mộ trống” thường xuyên xảy đến cho chúng ta. Vậy trước những dấu chỉ đó ta có cái nhìn như thế nào?
Có thể giống như Maria Macdala, chỉ dừng lại ở tình cảm thường tình nên khi những biến cố ấy xảy đến trong cuộc sống, chúng ta chỉ phản ứng theo cảm tính. Vui mừng khi thành công, hạnh phúc…, đau buồn khi gặp nghèo khổ, mất mác, thất bại trong cuộc sống.
Có thể chúng ta cũng giống như Phêrô chẳng thấy gì hơn khi đối mặt với thử thách. Đối diện trước những biến cố, chỉ dừng lại ở sự ngạc nhiên như bao người, không thể nhận ra gì thêm ở phía sau biến cố ấy mà Chúa gởi đến.
Xin cho chúng ta biết nhìn mọi việc, mọi biến cố xảy đến trong cuộc đời với cái nhìn đức tin của thánh Gioan. Nhờ cái nhìn đức tin này thì cho dù đối mặt với bất cứ thử thách nào, hoàn cảnh nào ta vẫn thấy an tâm vì chính Chúa Phục sinh hiện diện và đồng hành cùng chúng ta.
Nhưng để có được cái nhìn đức tin, chúng ta cần có được tình yêu Chúa chân thành, cũng như sáng suốt nhìn những biến cố dưới ánh sáng Lời Chúa. Sống niềm tin là biết nhìn tất cả mọi việc theo tình yêu Chúa và dưới ánh sáng của Lời Chúa .
Xin Chúa cho chúng con có được tình yêu Chúa nồng nàn và ơn soi sáng bởi Lời Chúa như thánh Gioan để qua những dấu chỉ, biến cố hay sự kiện xảy đến trong cuộc sống, chúng con tin và nhận ra Chúa phục sinh. A-men.


Thứ Bảy, 8 tháng 4, 2017

CHÚA NHẬT LỄ LÁ

“THƯƠNG KHÓ” VÌ “KHÓ THƯƠNG”
( Mt 27, 11-54)
Lm. Seoka

Tin mừng hôm nay, tường thuật lại cuộc thương khó của Chúa Giêsu. 
Nguyên nhân dẫn đến cuộc “Thương khó” của Chúa Giêsu là vì Người trở nên “khó thương” đối với nhiều người, thuộc mọi thành phần trong xã hội.
Khó thương đối với dân Do Thái
Nhiều lần dân chúng đã nhiệt liệt vỗ tay, tét đùi khi chứng kiến phép lạ Chúa Giêsu thực hiện: Trừ quỷ câm ( Lc11,14-23), cứu chữa con trai của viên sĩ quan ngoại giáo (Ga 4, 43-54), chữa người bất toại 38 năm được khỏi bên bờ hồ Bết-da-tha (Ga,1-16), cho người mù từ lúc mới sinh được xem thấy (Ga 9, 1-38). Cho La-da-rô sống lại ( Ga1,1-45).
Mới hôm nào họ được no lòng, thoả dạ khi chứng kiến phép lạ Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều, nuôi năm ngàn người ăn no nê.
Trước đây, họ đã nức tiếng khen ngợi  về những lời giảng dạy khôn ngoan của Chúa Giêsu và tin nhận: “ông này thật là vị ngôn sứ”. Kẻ khác rằng “ông này là Đấng Kitô”(Ga 7,40). Họ kháo nhau: “Ông này không học hành gì mà sao lại thông thạo chữ nghĩa thế!” (Ga7,15).
Mới đây, đám đông dân chúng thành Giêrusalem nô nức phấn khởi, trải áo choàng, chặt những nhánh lá cây rải trên đường để Chúa đi qua, tay cầm cành lá, miệng reo hò tung hô Chúa, họ dành cho Chúa một nghi lễ đón rước như cho một vị vua của họ. Họ vừa đi vừa tung hô: “Hoan hô con vua Đavít” ; “Vạn tuế Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến”.
Thế mà liền sau đó họ lại chống đối, lên án và la hét đòi "đóng đinh nó vào thập giá".
Trước đây, Chúa Giêsu là thần tượng được dân chúng ngưỡng mộ yêu mến, thì trong thời điểm “thương khó”, Chúa Giêsu lại trở thành nhân vật “khó thương” đối với dân chúng.
Khó thương đối với giới chức tôn giáo
Chúa Giêsu đụng chạm đến uy tín họ
Chúa Giêsu nhiều lần lên án gắt gao lối sống giả hình của giới chức tôn giáo. Chỉ chích họ giữ đạo hình thức mà không có tâm tình yêu mến. Vạch mặt những việc đạo đức của họ làm, cốt để lòe mắt thiên hạ. Khiến cho uy tính của giới chức tôn giáo càng lúc càng bị lu mờ.
Chúa Giêsu đã đụng chạm đến quyền lợi vật chất của họ
Thu nhập kinh tế của hàng ngũ giới chức chủ yếu nhờ vào buôn bán và đổi tiền ở đền thờ. Đặc biệt vào những ngày lễ lớn, nguồn thu nhập của họ và con cháu họ rất lớn. Vậy mà Chúa Giêsu dám động đến nồi cơm của họ. Dám cả gan vào đền thờ đánh đuổi những con buôn và lật tung những bàn đổi tiền. Người còn thách thức: “Cứ phá huỷ Đền Thờ này đi, nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại.” Và còn xưng mình là Con Thiên Chúa (Mt 26,61; Mc 14,58).
Vì những lý do trên, Chúa Giêsu đã trở nên nhân vật “khó thương” trong con mắt của hàng lãnh đạo tôn giáo. Không lạ gì, họ quyết lên án tử Chúa Giêsu.
Khó thương đối với giới chức chính quyền
Để tạo được sự đồng thuận đối với giới chức chính quyền, giới chức tôn giáo đã gắn Chúa Giêsu vào tội chính trị. Họ tố cáo Chúa Giêsu đã xách động dân chúng chống lại chính quyền: “Chúng tôi phát giác ra tên này xách động dân tộc chúng tôi, và ngăn cản dân chúng nộp thuế cho hoàng đế Xêda, lại còn xưng mình là Mêsia, là vua nữa” (Lc 23, 2).
Do đó, Chúa Giêsu bị xem là nhân vật nguy hiểm đối với giới chức lãnh đạo của đế quốc Rôma, vì có âm mưu lật đổ chính quyền và lãnh đạo dân chúng nổi dậy làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Chúa Giêsu đương nhiên trở thành đối tượng nguy hiểm đối với các giới chức chính quyền. Cần phải tiêu diệt ngay.
Khó thương đối với môn đệ của mình
Chúa Giêsu đã trở nên khó thương trong mắt của môn đệ Giuđa.
Giuđa, một con người được Chúa yêu thương chọn gọi làm môn đệ. Được Chúa dạy dỗ và cho chứng kiến bao phép lạ Chúa làm. Được Chúa tín nhiệm giao cho làm thủ quỹ, giữ túi tiền. Nhưng vì tham lam tiền của, say cuồng theo đuổi mục tiêu chính trị, giải phóng dân tộc, Giuđa đã phản lại thầy. Dùng một cái hôn rẽ tiền để bán đứng thầy. Trong mắt ông, Chúa Giêsu đã trở nên ông thầy “khó thương”, đáng để cho ông lợi dụng.
Phêrô cũng chẳng hơn gì.
Tự hào về lòng trung tín đối với thầy. “Dù mọi người có bỏ thầy, thì con sẽ không bỏ thầy”. Vậy mà ông đã dễ dàng chối bỏ thầy mình trước một cô đầy tớ. Chẳng những chối một lần mà cả đến ba lần. Không chỉ chối thầy mà còn chối bỏ cả nguồn gốc, quê hương xứ sở của mình nữa. Với Chúa Giêsu, trong cuộc thương khó đã trở nên “khó thương” đối với Phêrô thế sao!
Cũng như Giuđa và Phêrô, các tông đồ khác được Chúa Giêsu hết lòng thương yêu, dạy bảo. Được Chúa ban cho diễm phúc đồng thân, đồng phận với Chúa. Nhưng vì sợ đồng tử nên đã bỏ thầy mình trong lúc hoạn nạn, để chạy thoát thân. Ôi thầy Giêsu "khó thương" đến thế.
Khó thương đối với chúng ta
Nếu xưa kia, Chúa Giêsu trở nên “khó thương” trong mắt mọi người, thuộc mọi thành phần. Từ giới chức tôn giáo đến quan chức lãnh đạo đời. Từ dân chúng ít hiểu biết đến giới trí thức kinh sư, luật sĩ. Từ những bà con làng xóm đến những môn đệ thân tín. Thì ngày nay, Chúa Giêsu cũng trở nên “khó thương” đối với nhiều người trong chúng ta như vậy.
Như Giuđa, Chúa Giêsu trở nên “khó thương” đối với chúng ta. Bởi vì Ngài không đáp ứng được những yêu sách đòi hỏi của chúng ta khi ngăn cản lòng tham lam và những việc làm giả dối của chúng ta.
Giống như Phêrô, Chúa Giêsu trở nên “khó thương” với tôi, vì Ngài bắt tôi phải trung thành với Ngài trong việc tuân giữ Lề Luật và Giáo Huấn của Ngài. Ngài còn đòi hỏi tôi phải thể hiện niềm tin trước mặt mọi người. Trong khi tôi đang sống trong xã hội vô thần. Ôi khó biết bao!
Như giới chức tôn giáo, tôi cảm thấy khó chịu. Bởi vì lời dạy của Ngài ngăn cản lối sống giả hình. Đã phá tính kiêu căng tự mãn. Công kính những việc làm sai trái của tôi.
Cũng giống như giới chức chính quyền, nhiều lúc tôi không có chút cảm tình với Chúa Giêsu. Bởi Ngài chính là đối tượng nguy hại, ảnh hưởng đến cuộc đời tôi. Chính vì Ngài mà tôi bị loại ra khỏi hàng ngũ đảng. Vì Ngài mà tôi mất đi cơ hội ngồi vào chiếc ghế lãnh đạo. Vì Ngài mà tôi mất việc…. Vì thế tôi cần phải đánh chéo tên Giêsu khỏi cuộc đời tôi.
Tệ hại hơn, giống như đám đông dân chúng, tôi cũng nông nổi nhẹ dạ, dễ nghe theo dư luận, lúc thì vỗ tay ủng hộ đạo thánh Chúa, lúc thì gào thét đả đảo Giáo Hội Chúa. Vì chức quyền, danh vọng, tiền bạc… tôi sẵn sàng gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống.
Một nỗi buồn thấm thía, sao Chúa lại trở nên “khó thương” và bị bạc bẽo đến mức như vậy?

CHÚA NHẬT LỄ LÁ – NĂM A
Lm. Anthony Trung Thành

Phụng vụ Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay có thể chia thành hai phần: Phần thứ nhất là nghi thức làm phép và rước lá; Phần thứ hai là thánh lễ như thường lệ nhưng nội dung các bài đọc mang vẻ trầm buồn, nhất là bài thương khó kể lại cuộc khổ nạn của Đức Giêsu. 
Phần thứ nhất, nghi thứ làm phép và rước lá. Trong phần này của Chúa Nhật năm A, chúng ta nghe đọc đoạn Tin mừng theo Thánh Mathêu, tường thuật lại việc Đức Giêsu vào thành thánh Giêrusalem. Quang cảnh rất hoành tráng. Đức Giêsu ngồi trên lưng lừa. Dân chúng đón tiếp một cách nồng hậu. Tin mừng cho biết: “Phần đông dân chúng trải áo xuống đường, kẻ khác thì chặt nhành cây trải lối đi. Dân chúng kẻ thì đi trước, người theo sau tung hô rằng: Hoan hô con vua Ðavit! Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến. Hoan hô trên các tầng trời!” (Mt 21,8-9). Có thể nói, đây là một cuộc khải hoàn vào thành thánh Giêrusalem của Đức Giêsu, toàn dân ủng hộ, không thấy một sự chống đối nào. 
Phần thứ hai, phụng vụ cho chúng ta nghe ba bài đọc liên quan đến cuộc khổ nạn của Đức Giêsu. 
Bài đọc I, trích sách tiên tri Isaia, đây là bài ca thứ ba về người tôi tớ đau khổ. Tác giả cho biết, người tôi tớ bị bách hại, phỉ nhổ, tra tấn và bỏ rơi nhưng vẫn nhịn nhục, chịu đựng, trung thành và tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa: “Tôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu; tôi đã không che giấu mặt mũi, tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ tôi. Vì Chúa nâng đỡ tôi…” (x. Is 50, 6-7).
Bài đọc II, trích thư gửi tín hữu Philipphê, Thánh Phaolô cho chúng ta biết Đức Giêsu chính là người tôi tớ mà tiên tri Isaia tiên báo: “Người đã tự hạ mình; vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Người.” (x. Pl 2, 6-11).
Bài Thương khó được Thánh Mathêu tường thuật lại cuộc khổ nạn của Đức Giêsu. Đây là một bằng chứng hùng hồn về tình yêu của Ngài đối với nhân loại. Qua cuộc khổ nạn này, Ngài đã để lại cho chúng ta nhiều bài học cao quý, xin được đơn cử một số bài học sau đây: 

Bài học thứ nhất: Sự can đảm, quảng đại, hy sinh vì người khác. Ngài đã chấp nhận muôn vàn đau khổ vì yêu thương nhân loại chúng ta. Đây là bằng chứng của một tình yêu cao quý. Vì,“không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15,13).
Bài học thứ hai: Sự tha thứ. Ngài tha thứ cho Giuđa là kẻ nộp Ngài. Ngài tha thứ cho Phêrô là kẻ chối Ngài. Ngài tha thứ cho các môn đệ là những người thân tín nhưng đã bỏ trốn khi Ngài gặp nạn. Ngài tha thứ cho kẻ đóng đinh Ngài vào thập giá. Ngài tha thứ cho kẻ trộm cướp bên phải và cho anh ta được vào Thiên đàng với Ngài ngay ngày hôm ấy.
Bài học thứ ba: Sự vâng phục Thánh ý Thiên Chúa Cha. Khi cảm thấy khó có thể vượt qua nỗi cô đơn, đau khổ, Đức Giêsu không tránh né nhưng phó thác và vâng theo ý Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha. Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi thì xin vâng Ý Cha.” (Mt 26,39 và 42). Đúng như Thánh Phaolô khẳng định trong bài đọc II: “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2,8)
Ngoài ra, khi suy niệm cuộc thương khó của Đức Giêsu còn giúp chúng ta hiểu hơn về ý nghĩa của đau khổ, từ đó chúng ta biết can đảm hơn để vác thập giá của mình và sẵn sàng nâng đỡ thập giá của tha nhân.
Ở Bỉ, trong trận thế chiến thứ nhất, một trận đánh khốc liệt vừa xảy ra. Trong một nhà thờ đã được biến thành nhà thương, hàng trăm thương binh nằm la liệt. Bàn thờ được biến thành bàn mổ. Thiếu thốn thuốc men, người ta phải giải phẫu các thương binh mà không có thuốc tê hay gây mê. Một thương binh đang được giải phẫu, trong một khắc đồng hồ, anh ta phải chịu “tử đạo”, tay nắm chặt, mồ hôi đầm đìa, nhưng không một lời than trách hay rên la.
Sau khi hoàn tất ca phẫu thuật, bác sĩ hỏi anh : “Tại sao anh có thể chịu đựng được như thế ? ”
Anh trả lời: “chính vì tôi đã nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh. Ngài đã chết không một tiếng rên la vì tội lỗi nhân loại. Cho nên, tôi cũng không thể than khóc vì những đau khổ mà tôi có thể chịu để đem lại hạnh phúc tự do cho người khác. ” 
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chấp nhận bước vào cuộc khổ nạn để chịu chết trên cây thánh giá vì yêu thương nhân loại chúng con. Xin cho mỗi người chúng con cũng biết chấp nhận những đau khổ trong cuộc sống để cộng tác với Chúa trong việc cứu độ nhân loại. Amen.


Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017

SUY NIỆM  LỜI CHÚA TUẦN V MÙA CHAY
Lm. Seoka

Thứ hai (Ga 8,1-11)
Dẫn
Trong tình yêu, người ta có những sáng kiến bất ngờ.
Khi yêu, người ta có thể quên hết những khuyết điểm, lầm lỗi của người mình yêu.
Khi yêu người ta tìm mọi cách làm vui lòng người mình yêu.
Khi yêu người ta sẽ không ngần ngại giúp đỡ người yêu của mình được tốt đẹp hơn.
Tình yêu là động lực thúc đẩy sự thăng tiến và biến đổi đời sống.
Đó chính là điều mà Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta những người đuợc Chúa yêu, qua bài tin mừng hôm nay.

Chia sẻ
Nếu có ai đó còn nghi ngờ về tình yêu Thiên Chúa, thì sứ điệp lời Chúa hôm nay là lời giải đáp có sức thuyết phục, xua tan hết những nghi ngại trong lòng ta về lòng thương xót của Thiên Chúa.
Biết trước mình là tội nhân, bị liệt vào bản án tử hình, ai lại không cảm thấy run sợ khi đứng trước tòa xét xử. Đó là tâm trạng của người phụ nữ phạm tội ngoại tình trong bài tin mừng hôm nay.

Vì không kiềm chế được bản năng sinh lý đòi hỏi và không tự chủ trước những nhu cầu hưởng thụ khoái lạc sai lầm, người phụ nữ trong bài tin mừng hôm nay đã phạm trọng tội và phải lãnh lấy khung hình phạt cao nhất là tử hình.
Trước mắt chị bây giờ chỉ là màn đêm vây kín. Cuộc đời chị coi như sắp kết thúc. Mạng sống của chị như ngàn cân treo sợi tóc vì bản án tử hình đã rõ. Bó tay!
Bó tay vì theo luật Môsê, ngoại tình công khai thì lãnh lấy án tử, không còn cách nào khác.
Bó tay vì không ai dám đứng về phía chị để bênh đỡ.
Bó tay vì những búa rìu dư luận nặng nề bổ lên đầu chị mà không ai có thể ngăn cản.
Nhưng trước những trói buộc của lòng người hiểm ác, của dư luật độc hại, của luật lệ cứng ngắt, tưởng chừng như không thể thoát khỏi, thì với Chúa Giêsu mọi bó buộc đã được tháo cởi.
Trước hết Chúa tháo cởi lòng người hiểm ác. Bằng khoảng lặng và cách đặt vấn đế: “ Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi!”. Tự vấn lương tâm, ai cũng nhận ra mình là tội nhân. Thay vì kết tội người khác họ quay về kết tội chính mình. Thế là Chúa đã cởi bỏ tính tự mãn, kiêu căng nham hiểm nơi lòng họ.
Đồng thời qua đó Chúa Giêsu cũng đã tháo cởi được những ánh mắt giận dữ, những lời nói độc ác, những búa rìu dư luận và lời kết án nặng nề trút lên người phụ nữ qua cách thức từ từ rút lui của họ. Chúa Giêsu hỏi: “Họ đâu rồi? không ai lên án chị sao?”. Người đàn bà đáp: “Thưa ông, không có ai cả”.
Cuối cùng với lời tha thứ: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” Chúa Giêsu cởi trói tội lỗi cho chị và mở ra bầu trời hy vọng sáng ngời.
Sau khi cởi hết những trói buộc, Chúa Giêsu không quên khuyên bảo: “ Thôi chị cứ về đi,  và từ nay đừng phạm tội nữa!”, những gánh nặng tội lỗi xưa nay nơi chị đã được trút bỏ. Từ đây chị có thể nhẹ nhàng tiến bước trong hân hoan với niềm vui và hạnh phúc của con người mới được Chúa yêu thương. Đồng thời chị cũng ý thức quyết tâm đổi mới cuộc đời xứng đáng với tình yêu và ơn tha thứ của Chúa.
Chúng ta là những tội nhân đáng chết, nhưng được Chúa yêu thương tha thứ qua bí tích giao hoà. Xin cho mùa chay này, chúng ta can đảm từ bỏ đi những tính hư nết xấu và tội lỗi, canh tân đời sống, hầu xứng đáng với tình thương ơn tha thứ mà Chúa dành cho ta.

Thứ ba (Ga 8,21-30)
Dẫn
Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho chúng ta biết Ngài là ai, đến từ đâu và con đường nào Ngài phải đi.
Xin cho chúng ta luôn vững tin vào Chúa và vững bước theo Ngài.

Chia sẻ
Một lần nữa, Chúa Giêsu cố gắng giúp cho những người biệt phải cứng lòng hiểu về Ngài.
Ngài là ai và đến từ đâu?
Đức Giêsu cho biết Ngài bởi thượng giới mà đến. Ngài không thuộc về thế gian này. Ngài Hằng Hữu. Những lời Ngài nói là những lời của Chính Thiên Chúa nói. Ai không tin nhận sẽ bị xét đoán và mang tội nơi mình mà chết.
Con đường nào Ngài phải đi?
Chúa cho người Do Thái biết con đường ngài đi họ không đi được.
Có lần Chúa Giêsu cũng nói với các môn đệ, con đường Ngài đi hiện giờ các ông không theo được. Con đường nào mà bí ẩn thế?
Người Do Thái cho rằng Ngài sẽ đi tự vẫn. Nhưng Ngài không xác định rõ ràng. Giống như Ngài đã trả lời với các môn đệ: “sau này anh em sẽ hiểu”.
Ngày nay chúng ta đã hiểu con đường ấy là con đường thập giá. Chính Chúa Giêsu cũng đã nói về con đường ấy trong bài tin mừng hôm nay: “ khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết tôi là Tôi Hằng Hữu”.
Con đường thập giá là con đường đẹp ý Chúa Cha. Nhưng lại ngược với tư tưởng và cảm nghĩ lựa chọn của con người tự nhiên.
Ai mà chẳng mong muốn được sống tiện nghi và giàu có. Ai mà chẳng mong được danh vọng chức quyền. Chẳng ai muốn thập giá của nghèo khổ, vất vả và cay đắng. Thực tế cho thấy, dù không muốn vẫn không tránh khỏi. Vì thế Chúa bảo chúng ta nếu tin vào Ngài và cầu xin với Ngài, Ngài sẽ ban ơn trợ giúp để chúng ta đủ sức mạnh vác lấy thập giá đời mình.
Chúa Giêsu cũng đã nhiều lần kêu gọi: “Ai muốn theo ta hãy từ bỏ mình vác thập giá mình mà theo”.
Đã rõ, Đức Giêsu là Đấng Hằng Hữu đến từ Thiên Chúa và con đường cứu độ của Ngài là con đường Thập Giá. Vì thế để được cứu độ thì không có con đường nào khác mà ta chọn lựa ngoài con đường thập giá mà Chúa đã đi qua.
Xin cho chúng ta biết từ bỏ mình: từ bỏ ý riêng không hợp ý Chúa.
Vác thập giá mình: chấp nhận đón nhận những hy sinh vất vả khó khăn thử thách trong cuộc sống mà không kêu than, oán trách với niềm tin tưởng và yêu mến Thiên Chúa.
Đi theo Chúa: theo Chúa chứ không theo ai khác ngoài Đức Giêsu Kitô Đấng đã chết và sống lại. Đi chứ không đứng: nghĩa là mỗi ngày phải thấy mình gần Chúa và gần anh chị em hơn.
Sống được như thế chúng ta sẽ không bị luận phạt và không mang tội nơi mình mà chết. Trái lại sẽ được sống trong Chúa với niềm hạnh phúc viên mãn.

Thứ tư (Ga 8, 31-42)
Dẫn
Thấy niềm tin của của những người Do Thái mới tin chưa trọn vẹn lắm, nên Chúa Giêsu đề nghị họ cần phải “sống lời Chúa”, để cho Lời Chúa thấm nhập vào trọn cuộc đời họ, để lời Chúa giải thoát họ khỏi nô lệ tội lỗi và xứng đáng trở thành môn đệ Chúa.
Nhưng những người này chưa đủ khiêm tốn để chấp nhận lời đề nghị của Chúa. Họ tự phụ cho mình là con cháu Abraham và không cần chỉ dạy thêm điều gì nữa.
Xin cho chúng ta biết khiêm tốn lắng nghe và làm theo lời dạy của Chúa để được giải thoát khỏi xích xiềng tội lỗi mà xứng đáng là môn đệ Chúa.

Chia sẻ
Bài tin mừng hôm nay, Chúa kêu gọi những người Do Thái mới tin Chúa hãy: “ Ở lại trong Lời Chúa, vì Lời Chúa là lời chân thật và sự thật sẽ giải phóng các ông”.
Nhưng những người Do Thái cho rằng: “ Chúng tôi là dòng dõi ông Abraham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ”.
Thế là họ hiểu sai lời Chúa. Không phải Abraham làm cho họ  tự do nhưng tự do trước Chúa là sự sạch tội. Còn ai phạm tội là trở nên nô lệ.
Đức thánh cha Bênêđictô 16 trong buổi đọc Kinh Truyền Tin hôm Chúa Nhật 13/03/2011 đã nói: “Nô lệ nghiêm trọng và sâu xa nhất là nô lệ cho tội lỗi”
Đúng vậy, hể ai phạm tội tất nhiên là nô lệ cho tội. Bởi khi phạm tội là ta xua đuổi Chúa ra khỏi lòng mình và rước ác thần satan vào cư ngụ thay thế cho Thiên Chúa.
Để khỏi nô lệ cho tội hay ma quỷ, điều kiện là ta phải ở lại trong Lời Chúa. Bởi lẽ khi ở lại với Lời Chúa là chúng ta giữ Lời Chúa. Mà giữ lời Chúa là dấu hiệu nói lên lòng ta yêu mến Chúa. Cũng đồng nghĩa là ta để cho Chúa ở lại trong ta. “Chúa chính là đường là sự thật và là sự sống”. Ở lại trong Chúa thì sự thật chiến hữu lấy ta và sự thật giải thoát ta khỏi ràn buộc của tội lỗi. Nhờ thế ta có được sự sống của Chúa.
Nhưng làm thế nào để Lời Chúa ở lại trong ta?
Tin mừng cũng cho ta biết sở dĩ họ không chịu ở lại trong lời của Chúa đó là vì họ tự mãn cho mình là con cháu Abraham là con cái Thiên Chúa.
Tự mãn kiêu căng là tội đầu trong các tội. Chính vì kiêu căng tự mãn muốn bằng Chúa nên nguyên tổ đã đánh mất thiêng đàng và trở nên nô lệ cho ma quỷ.
Chính kiêu căng tự mãn, thiên thần Luxiphe đã chống đối lại Chúa và bị trừng phạt trở nên satan.
Ta cũng thường tự mãn vỗ ngực xưng tên là người công giáo, nhưng nhiều lúc chúng ta không sống đúng với danh xưng ấy. Thay vì sống theo lời Chúa dạy, làm theo ý Chúa muốn, thì chúng ta lại làm theo ý riêng mình, sống theo những đam mê dục vọng mình. Thay vì làm tôi Chúa chúng ta lại làm tôi ma quỷ, xác thịt, thế gian.
Xin Chúa tha thứ những lầm lỗi chúng ta. Cho chúng ta biết vâng nghe và làm theo Lời Chúa để được tự do làm con cái Chúa.

Thứ năm (Ga 8,51-59)
Dẫn
Trong những cuộc đối thoại với người Do Thái, Chúa Giêsu kiên nhẫn mạc khải cho họ biết về thân thế của Ngài; cũng như về nếp sống phải có của những ai tin nhận Ngài. Nhưng với cái nhìn và kiến thức hạn hẹp cũng như ỷ vào kinh nghiệm sống của mình, họ không thể nhận biết thân thế của Chúa. Do đó cũng không chấp nhận sống theo Lời Chúa chỉ dạy.
Xin cho chúng ta đừng ỷ vào kiến thức và nếp sống đạo lâu nay của mình mà chối từ Lời chỉ dạy của Chúa và hướng dẫn của Giáo Hội.
Nhưng xin cho chúng ta vững tin vào Chúa, sẵn sàng lắng nghe và thi hành Lời Chúa và Giáo Huấn Giáo Hội chỉ bảo để được sống sung mãn.

Chia sẻ
Tin mừng hôm nay có hai điểm cần lưu ý:
Thứ nhất, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến mối tương quan giữa Ngài với Chúa Cha.
Thứ hai, Chúa Giêsu nói đến giá trị cao quý của việc tuân giữ Lời Chúa.

1. Thánh Gioan luôn nói đến mối tương quan mật thiết giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha.
Tin mừng hôm nay cũng vậy, thánh Gioan cho biết: Chúa Giêsu quả quyết Ngài biết Thiên Chúa Cha, nhưng những người khác thì không biết. Chính Chúa Cha sai Ngài đến trần gian. Những lời Ngài dạy bảo là Lời của Chúa Cha. Chúa Giêsu không hề tìm vinh danh cho chính mình mà chỉ tìm vinh danh cho Đấng đã sai mình. Vì thế mà Ngài được Chúa Cha tôn vinh.

2. Ngài đến từ Chúa Cha, biết rõ về Chúa cha, nói những lời của Chúa Cha. Mà Lời của Chúa Cha chính là “Lời ban sự sống đời đời”, vì thế Chúa Giêsu cho biết: “ Nếu ai tuân giữ Lời Ngài, thì sẽ không bao giờ phải chết”.
Người Do Thái tự hào là con cháu Abraham nên họ xứng đáng thừa hưởng lời chúc phúc mà Chúa đã hứa với tổ phụ Abraham trước đây.
Nhưng Chúa Giêsu cho họ biết là con cháu Abraham thôi chưa đủ điều kiện, nhưng phải là con cháu có đức tin giống như Abraham mới xứng đáng thừa hưởng gia nghiệp nước trời.
Tin Chúa nên Abraham đã nghe Lời chỉ dạy của Chúa mà sẵn sàng ra đi, dù không biết đi đâu. Như thế tin Chúa thì phải nghe lời Chúa.
Mà Lời Chúa thì mang lại sự sống đời đời, nên ai tuân giữ Lời Chúa thì không chết bao giờ. Giống như cành nho gắn liền với thân nho, cành nho được sống vì tiếp nhận nhựa sống từ thân nho nuôi dưỡng.
Gắn kết với Lời Chúa ta sẽ được Chúa thông truyền sự sống. Mà Chúa  là sự sống vĩnh cửu, nên ta sẽ được tham dự vào sự sống đời đời của Chúa.

Xin cho chúng ta xác tín được giá trị cao quý Lời của Chúa và cố gắng thi hành Lời Chúa dạy, để đón nhận sự sống đời đời Chúa thương ban.

Thứ sáu (Ga 10, 31-42)
Dẫn
Trong suốt những ngày qua, chúng ta đọc những đoạn tin mừng của thánh Gioan ghi lại các cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và những người Do Thái không tin Ngài. Cũng như các cuộc tranh luận trước, cuộc tranh luận trong tin mừng hôm nay, một lần nữa Chúa Giêsu mạc khải sự thật quan trọng về Ngài. Ngài xác định rõ ràng: Ngài là Con Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa.
Xin cho mọi người tin tưởng vào Đức Giêsu chính là Thiên Chúa làm người, cứu độ chúng ta.

Chia sẻ
Bài tin mừng hôm nay Chúa Giêsu mạc khải hai chân lý đức tin rất quan trọng đó là: “ Tôi là Con Thiên Chúa” và “ Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong chúa Cha”. Qua đây Chúa Giêsu cho biết Ngài chính là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa.
Đây là một giáo lý rất quan trọng. bởi vì nếu Chúa Giêsu chỉ là một người như bao người, thì lời giảng dạy của Ngài cũng chỉ là để nghe cho vui tai và chỉ được khen là hay ho cũng như lời giảng dạy của những nhà chuyên môn hùng biện, hay như các đấng hiền triết, hoặc như các vị sáng lập các tôn giáo khác mà thôi. Nhưng Ngài là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa nên lời giảng dạy của Ngài quý giá hơn bất cứ người nào trên trần gian.
Người Do Thái không chấp nhận điều đó. Những phép lạ cả thể, những lời giảng dạy khôn ngoan nhưng không làm họ tin. Lý do vì họ cứng lòng và cố chấp.
Ngày nay không chỉ có những người cứng lòng tin như người Do Thái xưa mà còn đó những con người vô thần. Lối sống của họ chỉ nghĩ đến huởng thụ hiện tại, chỉ thích vui cuồng sống vội. Họ xem giáo huấn của Chúa thật rắc rối, là chướng ngại vật, là bức tường cản ngăn lối sống phóng túng, trụy lạc, tội lỗi của họ. Để rồi họ sẵn sàng ném đá tiêu diệt nhằm lọi bỏ Thiên Chúa ra khỏi lòng họ và cuộc sống họ như người Do Thái xưa.
Chúng ta hãy cầu xin cho những người vô thần. vô thần trong tư tưởng, trong lập trường cũng như vô thần trong lối sống biết nhìn vào thiên nhiên, nhìn vào vạn vật, nhìn vào các biến cố xảy ra nhất là nhìn vào bản thân mình mà khám phá ra sự hiện hữu của Chúa mà tin vào Chúa Giêsu. Với chúng ta cũng cần nhìn lại cách thế sống và thể hiện niềm tin vào Chúa như thế nào?

Thứ bảy (Ga  11,45-56)
Dẫn
Sự đố kị và lòng hận thù khiến người ta mù quáng không còn nhận ra lẽ phải và bất chấp mọi thủ đoạn, ngay cả giết người. Đó là cách thế hành xử của các thượng tế và biệt phái đối với Chúa Giêsu trong bài tin mừng hôm nay.

Chia sẻ
Jean de La Fontaine từng viết bài thơ ngụ ngôn “Le Loup et l’Agneau” kể về con chó sói và con cừu non cùng ra suối uống nước. Con sói muốn ăn thịt con cừu bèn tìm đủ cách buộc tội con cừu.
Đầu tiên con sói bảo con cừu làm bẩn nước suối của con sói.
Bị con cừu bẻ: “Thưa ông, ông uống ở thượng lưu, tôi uống ở hạ lưu, thì chỉ có ông làm bẩn nước của tôi chứ làm sao tôi có thể làm bẩn nước của ông được?
con sói nói: “Năm ngoái mày đã phỉ báng tao!
Con cừu trả lời: “Thưa ông, năm ngoái tôi chưa ra đời.”
Con sói nói: “Thế thì thằng anh mày đã phỉ báng tao!
Con cừu đáp: “Thưa ông tôi là con một.”
Con sói rống lên: “Thế thì một đứa trong lũ chúng mày đã nói xấu tao, thằng chăn chúng mày đã nói xấu tao, con chó chăn chúng mày đã nói xấu, tao phải trả thù!” Thế rồi con sói vồ con cừu nhai ngấu nghiến.
La Fontaine kết luận: “Lý lẽ kẻ mạnh bao giờ cũng thắng
Đọc tin mừng hôm nay, ta có cảm tưởng các thượng tế và biệt phái giống như con sói. Họ tìm mọi cách, diện đủ các lý do để tiêu diệt Chúa Giêsu.
Họ đã triệu tập một công nghị để bàn tính với nhau cách đối phó với Chúa Giêsu thế nào. Vì thấy Chúa làm được nhiều việc, có nhiều người tin theo Chúa, sợ mất ảnh hưởng vì thế phải khử trừ Ngài cho xong.
Sau khi diện đủ mọi lý do tôn giáo để kết tội Chúa Giêsu như: Chúa đã lộng ngôn phạm thượng xưng mình là Con Thiên Chúa. Rồi lại công khai tuyên bố phá hủy đền thờ Giêrusalem, nhất là đã liên tục vi phạm ngày sabát…nhưng những cáo buộc ấy không thành. Vì thế, họ chuyển sang ghép Ngài vào tội chính trị. Họ vu cáo Ngài vi phạm tới luật lệ của nhà nước và quyền của đế quốc Rôma. Rồi họ ra chỉ thị truy nả Ngài trong toàn dân. Với lời khích động: “Thà một người chết thay cho toàn dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt”
Quyết định Chúa Giêsu phải chết để thay cho toàn dân quả là một quyết định do lòng ghen tỵ hận thù, thật bất công. Nhưng trong chương trình của Thiên Chúa, thì cái chết của Chúa Giêsu là để cho mọi người được sống đời đời. Thay cho hành động hận thù và bất công của các thượng tế và biệt phái là hành động tình thương của Thiên Chúa, nhằm quy tụ con cái tản mác khắp nơi về một mối trong hiệp nhất yêu thương.
Xin cho chúng ta đừng vì ghen ghét và hận thù mà tìm đủ mọi cách để hãm hại người khác. Nhưng xin Chúa ban cho chúng ta có được lòng quảng đại, yêu thương tha thứ và sẵn sàng hy sinh, chịu gian lao khốn khó như Chúa Giêsu.


  SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN XIX THƯỜNG NIÊN  Lm. Clemente Nguyễn Văn Lanh CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN-NĂM A 1V 19,9a.11-13a; Rm 9,1-5; ...