Thứ Năm, 14 tháng 11, 2019

SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN XXXIII TN

CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN C
KÍNH TRỌNG THỂ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM
Mt 10, 17-22
Suy niệm 1:
Cùng GH hôm nay chúng ta mừng kính trọng thể các thánh tử đạo VN. kỉ niệm sự kiện ngày đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II tôn phong 177 vị tử đạo VN lên bậc hiển thánh. Xin các thánh tử đạo VN cầu bàu cùng Chúa cho chúng ta biết sống đức tin kiên cường theo gương các ngài.
Đạo Công giáo được loan báo đến quê hương VN chúng ta vào khoảng năm 1533. Do Tin mừng của Chúa rất phù hợp với tâm thức của người Việt nên Tin mừng đã nhanh chóng lan tỏa khắp nơi trên đất nước chúng ta. Niềm vui của Tin mừng lan tỏa không được bao lâu thì đến khoảng năm 1580, các vua quan đất Việt lại lo sợ mất ảnh hưởng và uy tín trong dân chúng nên đã ra những chiếu chỉ cấm và bắt đạo gắt gao.
Từ khoảng từ năm 1580-1888 (khoảng 300 năm) xảy ra những cuộc bách hại khốc liệt cho GH Việt Nam. Đó là thời kỳ Chúa Trịnh: Trịnh Doanh, Trịnh Sâm, Cảnh Thịnh và Vua thời nhà Nguyễn: Thiệu Trị, Minh Mạng, Tự Đức. Ước tính trong thời gian này có chừng 400.000 người bị lưu đầy, phát lưu và phân sáp. Khoảng 130.000 tín hữu đã phải chịu chết vì đạo, dưới nhiều hình thức giết người dã man khác nhau như: Gông cùm, xiềng xích, nhốt trong cũi, đánh đòn, bỏ đói, cho voi giầy, trói ném xuống sông, đổ dầu vào rốn rồi đốt, bị đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng, chặt đầu, thắt cổ, thiêu sống, tùng xẻo và bá đao.
Trong số đó có 117 vị đã được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn vinh lên bậc hiển thánh vào ngày 19/06/1988. Có 8 vị GM, 50 LM, 1 Chủng sinh, 15 thầy giảng và 44 giáo dân.
* Với bao nhiêu cực hình đau đớn không thể tưởng ấy dành cho các vị tử đạo Việt Nam. Lắm lúc ta tự hỏi: nhờ đâu mà các ngài lại đủ sức mạnh dũng khí để vượt thắng nỗi sợ hãi hùng như vậy?
- Khi suy nghĩ về điều đó, ta mới thừa nhận rằng: chỉ có sức mạnh của đức tin và tình yêu mới làm nên điều kỳ diệu nơi các ngài. Thật vậy:
1.  Nhờ đức tin đã tạo nên chỗ dựa thiêng liêng vững mạnh cho các ngài. Tin Chúa là đấng quyền năng và giàu lòng thương xót. Tin vào Chúa đã sáng tạo vũ trụ và tác tạo nên con người. Nên sự sống, sự chết thuộc trọn quyền Thiên Chúa. Chính niềm tin kiên vững vào Thiên Chúa uy quyền giống như bà mẹ và các con của bà trong sách Macabê II, mà các ngài đủ sức mạnh vượt qua nỗi sợ hãi của cái chết để trung thành với niềm tin của mình.
2. Sức mạnh tình yêu đã làm nên sức mạnh vô biên giúp cho các thánh tử đạo vượt qua những cực hình đau đớn thể xác mà an vui đón nhận cái chết đau thương. Hơn ai hết, các ngài hiểu rằng: chỉ  vì yêu nhân loại lỗi lầm mà Chúa Giêsu đã tự nguyện hiến dâng mạng sống mình chịu chết trên thập giá, đền tội thay cho con người để cho con người “được sống và sống dồi dào”. Nên tình yêu đó đã thúc bách các ngài sẵn sàng chấp nhận cái chết chỉ vì yêu Chúa. 
Nhìn vào các chiến sĩ tự nguyện xông pha vào chiến trường chiến đấu với ngoại bang để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc. Trong đó có bao chiến sĩ đã hy sinh mạng sống mình, ta hiểu được sức mạnh của tình yêu. Cũng thế, khi nhìn vào biết bao gương hy sinh của những người cha, người mẹ đã không ngại hy sinh, gian khổ, ngay cả tính mạng để cho con mình được lớn lên trong an vui và hạnh phúc. Ta hiểu thế nào là sức mạnh của tình yêu. Đúng là “tình yêu mạnh hơn sự chết”.
Là con cháu của các thánh tử đạo, chúng ta phải nguyện sống sao cho xứng đáng với những hy sinh lớn lao mà các bậc cha ông cúng ta để lại. Các ngài không đòi buộc chúng ta phải tử vì đạo như xưa. Nhưng có lẽ điều các ngài mong muốn nơi chúng ta là sống đạo theo gương của các ngài. Đó là sống đức tin kiên trung và tình yêu nồng nàn với Chúa.
- Noi gương các ngài, chúng ta phải ra sức gìn giữ và bảo vệ đức tin tinh tuyền mà các ngài đã đổ máu trao lại cho chúng ta. Can đảm sống và  làm chứng niềm tin của mình cho mọi người và mọi nơi theo gương các ngài cho dẫu phải đối mặt với muôn vàn thách đố trong cuộc sống hôm nay.  
- Luôn hằng yêu mến Chúa bằng đời sống cầu nguyện, siêng năng tham dự thánh lễ và lắng nghe và tích cực thi hành giáo huấn của Chúa chỉ dạy. Nỗ lực làm việc bác ái giúp đỡ mọi người nhất là những người nghèo khổ.
Xin các thánh tử đạo Việt Nam chúc lành và cầu bàu cùng Chúa cho chúng ta sống xứng danh là con cháu của các ngài. Amen.

Suy niệm 2:
Hôm nay Hội Thánh mừng trọng thể 117 vị thánh tử đạo Việt Nam. Các ngài thuộc đủ mọi thành phần trong Giáo Hội. Gồm các giám mục, linh mục, thầy giảng, chủng sinh và rất nhiều giáo dân. Các ngài là những công dân hiền hòa, sống đời gương mẫu, nêu cao lý tưởng trung kiên với Thiên Chúa và một lòng mến yêu tổ quốc. Bị bắt bớ, tra tấn và tù đày, nhưng không một người nào trong các ngài có ý định cầm khí giới để chống trả; trái lại, các ngài cam chịu vì Đức Kitô, cầu nguyện cho mọi người và thật lòng tha thứ cho những kẻ bách hại mình.
Ngày nay, trước những thách đố của chủ nghĩa duy vật vô thần, duy tương đối, não trạng hưởng thụ ích kỷ, lối sống gian dối và lừa lọc.... Muốn trung thành sống tinh thần Phúc Âm, chúng ta phải liên lỉ lựa chọn, từ bỏ trong đau đớn không kém gì những khổ hình mà các thánh tử đạo phải chịu trước đây. Sống Phúc Âm trong thời đại này đúng là một cuộc tử đạo liên tục.
Xin các thánh tử đạo VN cầu bầu cùng Chúa:
- Cho đồng bào Việt Nam ngày càng tin theo Chúa nhiều hơn.
- Cho chúng ta biết noi gương các ngài, trung thành bền đỗ theo Chúa đến cùng. 
- Đặc biệt là cho quý vị trong Ban Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ đã nhận các Thánh Tử Đạo Việt Nam làm bổn mạng của mình, biết luôn trung thành với Chúa trong mọi hoàn cảnh. Tích cực chu toàn tốt bổn phận Chúa và Giáo Hội trao phó mà sẵn sàng hy sinh phục vụ tha nhân bằng một tình yêu nhưng không, nhằm trở nên những chứng nhân đích thực của “Niềm Vui Tin Mừng” trong thời đại hôm nay, theo gương các thánh Tử Đạo Việt Nam.

Thứ hai: Lc 18, 35-43
Tin mừng hôm nay thuật lại phép lạ Chúa Giêsu chữa cho đôi mắt mù loà của anh chàng ăn xin bên vệ đường, gần thành Giêricô được sáng, nhờ vào đức tin kiên vững và lời kêu xin tha thiết của anh ta: “Lạy ông Giêsu, con vua Đavít. Xin dủ lòng thương tôi” và “xin cho tôi được xem thấy”.
Chúng ta cũng bắt chước anh mù này, tha thiết  xin Chúa chữa lành đôi mắt tâm hồn chúng ta, để chúng ta nhận ra Chúa chính là cứu Chúa, nhận ra mọi người là anh em, nhất là nhận ra hình ảnh của Chúa nơi những người nghèo khổ bất hạnh.
Anh mù được Tin mừng hôm nay nhắc đến rất đổi quen thuộc. Địa chỉ thường trú của anh là ở gần thành Giêricô. (Thánh Maccô còn cho biết tên đích danh của anh ta là Báctimê. Anh là con của ông Timê, chẳng xa lạ gì. Bởi lẽ hằng ngày anh thường quanh quẩn nơi đó để xin ăn).
Mà đã mang kiếp "cầm ca”, thì không ai muốn đến gần, cũng chẳng ai muốn nhìn đến làm gì cho vướng bận, tốn hao. Cung giọng bi ai của anh ngày nào cũng trỗi vang bên đường nên trở thành âm thanh khó nghe đối với những ai đi qua con đường đó.
Người đời thường nói “có tật, có tài”. Cho dù mọi nguời xa tránh làm ngơ, nhưng anh mù biết Đức Giêsu sẽ không ngoảnh mặt làm ngơ trước số phận bi đát của anh. Hơn nữa, cho dẫu mọi người hôm đó không nhận ra sứ mạng Thiên Sai của Đức Giêsu, nhưng anh mù lại nhận ra sứ mạng bí mật Thiên Sai nơi Đức Giêsu. Do đó, anh đã không ngần ngại tha thiết kêu xin Người. “Lạy ông Giêsu, con vua Đavit. Xin dủ lòng thương tôi”.
Với con mắt tâm hồn nhạy bén, anh mù đã nhận ra quyền năng chữa lành nơi Đức Giêsu. Nên cho dù bị mọi người cản ngăn, cấm đoán anh vẫn không ngừng kêu xin…
 Bằng còn mắt đức tin trong sáng, anh mù còn thấy được nơi Đức Giêsu có một kho báu rất quý giá mà trần gian không ai có được, đó là quyền năng cứu chữa. Vì thế, anh ta đã không ngần ngại xin Chúa Giêsu cứu chữa đôi mắt của anh được sáng:“xin cho tôi được sáng”. Chứ không hề xin Người tiền bạc, cơm gạo, bánh trái… như mọi ngày.
Nhờ nổ lực cảm nhận thế giới và con người bằng đôi mắt tâm hồn nhạy bén và đức tin trong sáng và rồi cố gắng hết sức mình thực hiện điều cảm nhận đó, nên anh mù đã được Chúa đoái thương chữa lành.
 Hằng ngày các môn đệ vẫn thấy, vẫn nghe Chúa Giêsu nói và chứng kiến những việc Người làm, nhưng vì mơ tưởng địa vị cao sang, chức cao quyền trọng nên đôi mắt họ đã bị che mờ, không còn nhận ra sứ mạng Messia nơi Chúa Giêsu.
Cũng như các môn đệ và đám đông hôm ấy, chúng ta đã được Chúa ban cho đôi mắt thể lý sáng ngời, nhưng vì quá bận tâm đến quyền lợi bản thân đã làm cho đôi mắt tâm hồn chúng ta trở nên mù lòa không có khả năng nhìn thấy những nhu cầu và nỗi đau của tha nhân để đồng cảm, xót thương và trợ giúp họ.
Xin Chúa ban cho chúng ta có được đôi mắt tâm hồn trong sáng để đừng bao giờ hành xử vô duyên đối tha nhân, nhất là đối với những người thiếu may mắn như đám đông dân chúng khi xưa. Trái lại, xin cho chúng ta biết sẵn sàng hy sinh phục vụ tha nhân quên mình. Nhất là đừng bao giờ có thái độ và hành vi ngăn cản những người yếu đuối, sa ngã đến với Chúa.

Thứ ba: Lc 19, 1-10
 “Gặp gỡ Đức Ki-tô, biến đổi cuộc đời mình. Gặp gỡ Đức Ki-tô đón nhận ơn tái sinh…”, đó không chỉ là niềm xác tín của cha Tiến Lộc, tác giả của bài hát này. Nhưng trên hết đó còn là chính sứ điệp của Chúa gửi đến mỗi người chúng ta qua Tin mừng hôm nay.
Tin mừng mà chúng ta vừa nghe trình thuật lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Giakêu, thủ lãnh những người thu thuế và là người giàu có. Chính nhờ cuộc gặp gỡ thân tình này đã làm cho Giakêu biến đổi cách lạ lùng và nhờ đó mà cả nhà ông được ơn cứu độ.
Ta cùng tìm hiểu đôi chút về sự biến đổi lạ lùng của Giakêu trước và sau khi gặp Chúa:
- Trước khi gặp Chúa:
Ông Giakêu là một kẻ nối giáo cho giặc, vì đã cộng tác với đế quốc Rôma thu thuế đồng bào của mình. Đây là cái nghề bị người dân khinh bỉ vì nhẫn tâm bòn rút xương máu dân mình, để làm giàu cho ngoại bang.
Giakêu là thủ lãnh những người thu thuế nên ông rất coi trọng tiền của, và cũng rất là khinh người. Nếu cần ông sẽ sẵn sàng ra tay đàn áp bất cứ ai chống đối không nộp thuế cho ông.
Ông lại là người giàu có. Sự giàu có của ông chắc chắn là do tham lam trong việc gia tăng mức thuế hơn luật định để bỏ túi riêng cho mình.
Chính vì vậy mà ông bị xem là kẻ tội lỗi công khai, được liệt kê chung vào hạng đỉ điếm.
-  Sau khi gặp Chúa:
Sau khi gặp gỡ Chúa Giêsu trong bữa tiệc thân tình tại nhà ông, không biết Chúa Giêsu nói gì. Nhưng ông lại được biến đổi lạ lùng: Ông trở nên một người quảng đại, cởi mở và sẵn sàng chi tiền làm tiệc thết đãi Chúa Giêsu, các tông đồ và những người đồng môn của ông. Ông cũng trở thành người biết tôn trọng lẽ công bằng nên tuyên bố sẽ đền bù cho những ai mà ông đã gây ra thiệt hại “Nếu tôi đã làm thiệt hại ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”. Đi xa hơn nữa, ông còn biết sống tinh thần bác ái, sẵn sàng hy sinh gia sản của mình, mà chia sẻ cho người nghèo “Tôi xin chia nửa gia tài, để bố thí cho người nghèo”.
Đúng là nhờ cuộc gặp gỡ Đức Kitô mà ông được tái sinh. Giờ đây, ông không còn là kẻ tội lỗi mà là một con người đạo đức, thánh thiện. Nếu trước đây ông bị mọi người khinh bỉ thì giờ đây ông lại là một con người đáng thương. Nếu trước đây ông sống bất công, bất chính thì giờ đây ông biết coi trọng lẽ công bằng và trở thành người công chính.
Nhờ gặp gỡ Đức Kitô Đấng “đến và cứu chữa những gì đã hư mất” mà ông và cả gia đình ông được biến đổi và xứng đáng đón nhận ơn cứu độ như lời Chúa Giêsu xác quyết: “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ, bởi người này cũng là con cái Abraham”.
Ước mong được biến đổi đời mình mỗi ngày nên tốt hơn là khao khát chính đáng của mỗi chúng ta. Nhưng để biến ước mơ đó trở thành hiện thực, chúng ta hãy bắt chước ông Gia-kêu tìm mọi cách để gặp gỡ Đức Giêsu.
Xin cho chúng ta tìm đến gặp gỡ Chúa qua việc lắng nghe và thực hành Lời Chúa, siêng năng tham dự bàn tiệc Thánh Thể, kiên trì trong cầu nguyện… Đặc biệt là gặp gỡ Đức Kitô nơi những người anh em nghèo khổ. Nhờ đó mà đời ta sẽ được Chúa biến đổi và xứng đáng được Chúa chúc lành. Amen.

Thứ tư: Lc 19,11-28
Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu dùng dụ ngôn những nén bạc để ý thức chúng ta tích cực sử dụng những ơn ban của Chúa.
Xin cho chúng ta đừng phí phạm những nén bạc ân sủng Chúa ban nhưng biết trân quý và cố gắng tận dụng những ân huệ ấy, nhằm phục vụ lợi ích cho mình, tha nhân và cho nước trời.
Dụ ngôn những nén bạc mà Tin mừng thánh Luca trình thuật hôm nay có một vài chi tiết hơi khác với Tin mừng của thánh Matthêu. Chúng ta cùng tìm hiểu về những khác biệt này và xem đâu là điểm nhấn mà Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta:
- Matthêu thì nói là “ông chủ” sắp đi xa. Còn Luca thì nói “người quý tộc” đi phương xa để lãnh nhận vương quyền,
- Trong Matthêu thì ông chủ giao phó cho 3 tên đầy tớ: người 5 yến , người 2 yến và người 1 yến, tùy theo khả năng mỗi người. Còn Luca thì nhà quý tộc phát cho 10 đầy tớ, mười nén bạc (mỗi 1 người 1 nén).
- Matthêu thì cho biết sau khi ông chủ trở về thì ban thưởng cho 2/3 đầy tớ tài giỏi và trung tín là hưởng niềm vui của chủ. Còn trong Luca thì sau khi nhà quy tộc được phong vương trở về trong tư cách là một vị vua thì ban thưởng cho 2/10 người đầy tớ tài giỏi và trung thành phần thưởng là cầm quyền cai trị số thành tương ứng với số nén bạc mà họ đã sinh lợi. 
Riêng về hình phạt cho những đầy tớ lười biếng và bất trung, cả 2 Tin mừng đều nói đến việc lấy lại và trao cho những đầy tớ tài giỏi và trung tín.
Matthêu còn nhấn mạnh đến sự trừng trị tên đầy tớ vô dụng và quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài. Ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng. 
Còn Luca thì lại nhấn mạnh đến hình phạt giết chết cả những bọn thù địch với nhà vua, những người không muốn nhà quý tộc làm vua cai trị chúng. Và với kết luận: “Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi".
So sánh những khác biệt trên cho ta thấy rằng:
- Thiên Chúa có thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau có khi là ông chủ, có khi là nhà quý tộc và có khi là vua…điều đó không quan trọng, quan trọng nhất là người yêu thương tin tưởng trao ban cho tất cả chúng ta những hồng ân.
- Những ơn ban của Chúa cho mỗi người có những thứ giống nhau, nhưng cũng có những ân sủng khác nhau theo khả năng. Nhưng điều quan trọng là ta phải trân trọng tình yêu của Chúa và cố gắng tận dụng điều kiện Chúa ban để sinh lợi cách tốt nhất.
- Chúa luôn tin tưởng trao phó cho chúng ta xử dụng theo tự do của mình. Chứ không muốn ép buộc hay làm thay cho ta.
- Bổn phận chúng ta là biết trân quý những ân huệ Chúa ban và trung làm việc nhằm sinh ích cho mình, tha nhân và cho nước trời. Bằng ngược lại xem thường mà lười biếng và bất trung thì sẽ nhận lấy hậu quả tai hại khi Chúa đến.
 Trong hững ngày cuối năm phụng vụ này, là dịp để các nhà kinh doanh quyết toán sổ sách chi thu để xem lời-lỗ thế nào. Để rồi rút ra những ưu-khuyết mà đề ra những giải pháp sao cho phù hợp nhằm giúp cho công việc kinh doanh của mình để được đứng vững và phát triển mạnh mẻ trong năm tới. 
Cũng vậy đây là dịp Chúa nhắc nhở chúng ta hãy dành chút thời giờ nhìn lại bản thân mà kiểm điểm và tính sổ đời mình trước Chúa, anh chị em và lương tâm.
Khi dừng lại kiểm điểm đời mình chân thành, ta mới có cơ hội nhận ra những lầm lỗi, thiếu sót vì đã không xử dụng tốt nhất những nén bạc mà Thiên Chúa trao ban cho đúng mục đích. Tệ hơn nữa, vì lười biếng mà ta đã đem chôn giấu những nén bạc vốn là: thời giờ, sức khỏe, năng lực, hoàn cảnh, công việc và tiền của... mà Chúa ban tặng nhưng không , để rồi làm thất thoát những ân huệ Thiên Chúa thương ban nên đã không sinh lợi gì cho ta, cho tha nhân và cho đời. Vậy cần lắm lòng khiêm nhường sám hối mà tạ lỗi cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em!. 
Xin Chúa tha thứ và giúp ta bắt đầu lại tốt đẹp hơn, theo mẫu gương của những người đầy tớ trung tín.

Thứ năm: Mt 12, 46-50
Đức Mẹ Dâng Mình Trong Đền Thánh
Cùng với GH hôm nay chúng ta dâng thánh lễ kính nhớ Đức Maria dâng mình trong đền thánh. Với lòng yêu mến Chúa và trung thành với luật Do Thái nên ngay từ nhỏ, Đức Mẹ đã sẵn sàng dâng mình vào đền thánh để phụng sự Chúa. Chính tình yêu mến và lòng thiết tha gắn kết với Chúa qua việc lắng nghe và thực thi thánh ý của Chúa trong đời sống, mà Mẹ Maria xứng đáng trở nên thành viên thân thiết trong gia đình Thiên Chúa Ba Ngôi.
Xin cho chúng ta biết noi gương Mẹ Maria biết khiêm tốn lắng nghe và thực thi Lời Chúa để xứng danh là Con Mẹ và trở nên thành viên gia đình thiêng liêng của Chúa.
Nhờ tích tích rửa tội chúng ta trở thành con Chúa và là thành viên trong GH. Nên ngoài gia đình tự nhiên liên hệ bằng huyết thống, chúng ta ta còn có một gia đình thiêng liêng nhờ được sinh ra trong đức tin.
Vì thế Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu khẳng định thành viên trong gia đình của Chúa chính là những người biết“lắng nghe và thực hành Lời Chúa”.
Nếu để trở thành người con ngoan trong gia đình tự nhiên theo huyết thống, ta phải lắng nghe và thi hành điều mà cha mẹ và anh chị hướng dẫn chỉ bảo. Cũng vậy, để trở thành con ngoan của Chúa và anh chị em thật sự với nhau trong gia đình thiêng liêng của đức tin ta phải lắng nghe và thực hành Lời Chúa với sự hướng dẫn của GH.
Hơn ai hết, Đức Maria là người luôn để tâm lắng nghe và mau mắn thi hành thánh ý Chúa trong suốt cuộc đời mình. Nên Đức Maria trở nên người Mẹ của Chúa và là kiểu mẫu cho đời sống cho chúng ta.
Khi khám phá những giọt máu trong chiếc khăn liệm thành Turin, các nhà khoa học chứng minh cho biết đó là loại máu B: Bái ái, bao dung và bình an. Dòng máu ấy cũng chính là dòng máu của Đức Maria, mẹ Chúa Giêsu.
Xin cho chúng ta luôn biết lắng nghe và thực thi Lời Chúa như Mẹ Maria để dòng máu bác ái, bao dung và bình an của Chúa Giêsu cũng lưu truyền trong thân thể chúng ta. Nhờ đó mà ta xứng đáng trở thành người thân của Chúa trong gia đình của Người.


Thứ sáu: Lc 19,45-48
Sự kiện Chúa Giêsu đánh đuổi những con buôn ra khỏi đền thờ mà bài Tin mừng hôm nay tường thuật, nhắc nhở chúng ta hai điều quan trọng trong đời sống đức tin:
-  Ý thức tầm quan trọng của ngôi Nhà Thờ vật chất: Bởi nơi đây là nơi hiện diện cách đặc biệt của TC, là nơi quy tụ những người tín hữu tôn thờ Thiên Chúa, là nơi biểu tỏ đức tin, là nơi gặp gỡ và sống tình huynh đệ bác ái Kitô giáo, là nơi tụ họp để lắng nghe và được giải thích lời Chúa, là nơi để lãnh nhận các ơn thiêng cao quý Chúa ban qua các bí tích và lời cầu nguyện… Nơi đây Đức Tin của người kitô hữu mỗi ngày được nuôi dưỡng và lớn mạnh hơn. Do đó, mỗi chúng ta cần phải ý thức tầm quan trọng và giá trị thánh thiêng của Nhà Thờ mà chung tay xây dựng và góp phần gìn giữ Nhà Thờ được sạch đẹp; luôn giữ thái độ xứng hợp khi bước vào Nhà Thờ; nhất là biết siêng năng kính viếng Chúa nơi Nhà Thờ.
- Ý thức giá trị cao quý của đền thờ tâm hồn: Sự kiện Chúa Giêsu đánh đuổi những con buôn ra khỏi đền thờ còn nhắc nhớ chúng ta về giá trị thánh thiêng của ngôi đền thờ tâm hồn. Bởi tâm hồn chúng ta chính là nơi Thiên Chúa Ba Ngôi thích ngự trị nhất. Nhưng rất có thể ngôi đền thờ tâm hồn chúng ta vẫn còn ngỗn ngang bởi những toan tính lợi danh, những đam mê dục vọng. Nơi ấy vẫn còn chất chứa nhiều tính hư tật xấu và tội lỗi nên rất cần được Chúa thanh tẩy cho thanh sạch, hầu xứng đáng là nơi ngự trị của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Xin cho mỗi người chúng ta biết góp phần tích cực trong việc gìn giữ và bảo vệ ngôi nhà thờ vật chất cũng như canh tân ngôi nhà tâm hồn của mình sao cho xứng đáng là nơi TC ngự trị. Nhờ đó mà cuộc đời của chúng ta mới có thể trổ sinh nhiều hoa trái tốt lành, mang lại niềm vui và ơn ích cho người và cho đời.

Thứ bảy: Lc 20, 27-40
Đa phần con người tin có sự sống lại và cuộc sống đời sau. Nhưng cũng phần lớn cho rằng sự sống đời sau cũng giống như sự sống đời này. Còn quan niệm người Kitô hữu chúng ta thế nào về vấn đề này? Đó là điều mà Chúa Giêsu muốn nói đến trong bài Tin mừng hôm nay. Chúng ta lắng nghe lời Chúa dạy để có quan niệm đúng đắn hơn trong vấn đề này.
Thời Chúa Giêsu có khá nhiều nhóm: Pharisêu, Biệt phái, Hêrôđê và Saducêô. Mỗi nhóm theo đuổi 1 lý tưởng khác nhau nên có những quan niệm khác biệt. Nhóm Saducêo mà Tin mừng hôm nay nhắc đến không tin vào sự sống lại giống như những người theo duy vật chủ nghĩa thời nay. Do đó, họ tìm mọi cách để đối chất với Chúa Giêsu nhằm hạ nhục và loại trừ quan niệm vào sự sống lại mà Chúa Giêsu rao giảng. Họ đặt ra 1 câu chuyện lố bịch về 1 gia đình có 7 người anh em. Theo luật Môisen thì nếu người anh lớn cưới vợ mà chẳng may chết đi không con, thì người em phải cưới lấy người vợ góa đó, để sinh con nối dõi tông đường. Vậy có cả thảy 7 người anh em cùng cưới 1 bà vợ. Nhưng lần lượt cả thảy 7 người anh em đó đều chết đi và không con. Cuối cùng người vợ góa đó cũng chết. Vậy nếu có sự sống lại thì ai sẽ là người chồng của chị ta?
Tình thế họ đặt ra xem ra rất hóc búa, nhưng Chúa Giêsu đã dựa trên nền tảng Thánh Kinh đoạn nói về Môisen diện kiến Thiên Chúa nơi bụi gai cháy sáng, để minh chứng cho biết: “Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống”. Bởi lẽ Người là “Thiên Chúa hằng hữu”. Người cũng cho biết sự sống mai sau là sự sống vĩnh cửu nên không còn phải lấy vợ cưới chồng để duy trì giống nòi nữa. Và tình trạng sự sống mai sau không giống như sự sống trần gian mà như các Thiên Thần. 
Với những lời minh chứng ấy, Chúa Giêsu đã làm cho họ phải câm miệng không còn vênh váo, khoát lát nữa.
Trong cuộc sống trần gian này mỗi người có cái nhìn khác nhau nên đưa đến những quan niệm niềm tin khác nhau. Do đó, cần tránh thái độ kiêu căng xem thường quan niệm niềm tin của người khác; trái lại phải tìm cách dung hòa với tinh thần tôn trọng trong những khác biệt.
Là người Kitô hữu, chúng ta phải tin tưởng vào Lời Chúa dạy và GH hướng dẫn nên cần phải xác tín vững chắc vào sự sống lại và sự thưởng phạt đời sau.
Xin cho chúng ta luôn biết gắn kết với Chúa trong lời cầu nguyện, siêng năng tham dự thánh lễ và kết hợp với Chúa trong Bí tích Thánh Thể, nhất là khiêm tốn lắng nghe và thực thi lời Chúa mà trung thành sống giới luật yêu thương do Chúa chỉ dạy. Nhờ đó ta mới có thể hưởng được tình trạng hạnh phúc viên mãn như các Thiên Thần mai này. 





Thứ Ba, 5 tháng 11, 2019

SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN XXXII TN

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN C
Lc 20, 27-38
Có sự sống sau khi chết hay không? Và nếu có thì tình trạng sự sống mai sau như thế nào? Đó là hai vấn nạn được đặt ra bởi những người thuộc nhóm Saduceo cũng như nhiều người trong chúng ta ngày nay. Hai vấn nạn này sẽ được Chúa Giêsu giải đáp như thế nào? Chúng ta hãy để tâm lắng nghe lời Chúa chỉ dạy hôm nay, để từ đó có được cái nhìn đúng đắn hơn về vấn đề này.
Vào thời Chúa Giêsu, trong xã hội Do Thái xuất hiện nhiều đảng phái khác nhau: Pharisêu, Biệt phái, Hêrôđê và Saducêo… Mỗi nhóm như vậy theo đuổi 1 lý tưởng nên có những quan niệm khác biệt. Nhóm Saducêo mà Tin mừng hôm nay nói đến thì lại không tin vào sự sống lại. Như vậy có thể nói nhóm này chính ông tổ của những người chạy theo chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nên không lạ gì họ tìm mọi cách để phủ nhận giáo huấn của Chúa Giêsu về sự sống lại.
Và để chống lại quan niệm có sự sống lại, những người thuộc nhóm Saducêo mới bịa ra 1 câu chuyện lố bịch như sau: Trong một gia đình nọ có 7 người anh em trai. Theo luật Môisen quy định thì nếu người anh lớn cưới vợ nhưng chẳng may chết đi mà không con, thì người em kế đó phải cưới lấy người vợ góa đó, để sinh con nối dõi tông đường. Vậy có cả thảy 7 người anh em trai đều cưới lấy cùng 1 bà vợ, bởi vì cả thảy 7 người anh em đó lần lượt đều chết đi mà không con. Cuối cùng người vợ góa đó cũng chết. Vậy nếu có sự sống lại thì ai sẽ là người chồng của người vợ ấy sau này?
Tình huống họ đặt ra xem ra khá hóc búa, tuy nhiên để giúp họ chấp nhận chân lý vào sự sống lại sau khi chết, Chúa Giêsu đã dựa vào nền tảng Thánh Kinh. Ngài đã trích dẫn đoạn thánh kinh nói về sự kiện ông Môisen diện kiến Thiên Chúa nơi bụi gai cháy sáng lạ thường mà người Do Thái nào cũng biết và tin nhận. Từ đó Chúa Giêsu giúp cho những người Saducêo nhận ra 3 điều:
Thứ nhất: “Thiên Chúa là Đấng hằng hữu”, bởi vì “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết mà là của người sống; vì hết thảy đều sống cho Người” (1)..
Thứ hai: Sự sống mai sau là sự sống vĩnh cửu nên không còn phải lấy vợ cưới chồng để duy trì giống nòi nữa (2).
Thứ ba: Tình trạng của sự sống mai sau không giống như sự sống nơi trần gian mà là như các Thiên Thần (3).
Trong cuộc thần hiện của TC nơi bụi gai với ông Môisen, TC cho biết Người là “TC của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, và Thiên Chúa của Yacob”. Mặc dầu các tổ phụ ấy đã chết từ lâu nhưng sao TC lại nói với Môisen rằng: “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của người sống”. Như vậy là TC muốn khẳng định cho biết hiện nay các tổ phụ ấy vẫn đang sống chứ không phải chết. Đây cũng là niềm tin của mọi người Do Thái thời bấy giờ. Vậy nếu những người Saducêo không tin vào sự sống lại thì họ đang phủ nhận lời mạc khải của TC; nếu thế là họ đang chống lại niềm tin của cha ông họ, và một cách mặc nhiên họ đang mâu thuẫn với niềm tin của chính mình.
Nhưng Chúa Giêsu không chỉ chứng minh cho họ biết có sự sống lại mà Người còn mạc khải cho họ hiểu thêm về tình trạng sau khi sống lại như thế nào nữa. Tình trạng sống ấy viên mãn trọn vẹn như các Thiên Thần vậy. Nên không còn bị giới hạn bởi không gian và thời gian nữa. Do đó mà không cần phải dựng vợ gả chồng sinh con đẻ cái để duy trì nòi giống như trong cuộc sống đời này nữa.
Bằng những lời giải đáp đầy thuyết phục ấy, Chúa Giêsu đã làm cho những người thuộc phái Saducêo phải cúi đầu câm miệng bởi vì họ không còn lý lẽ nào nữa để chống lại giáo huấn của Chúa Giêsu.
“Bá nhân bá tính”, mỗi người được sinh ra, lớn lên và được giáo dục trong những môi trường, hoàn cảnh khác nhau nên có những cái nhìn và quan niệm về niềm tin khác biệt. Hiểu được như vậy nên chúng ta đừng bao giờ tỏ ra thái độ kiêu căng, tự mãn xem thường các giá trị niềm tin của người khác. Nhưng trên hết cần phải biết cởi mở đón nhận và trân quý các giá trị niềm tin của các tôn giáo khác nhau.
Là những người Kitô hữu một mặt chúng ta tìm mọi cách để dung hòa niềm tin trong những điểm khác biệt; mặt khác chúng ta cần phải xác tín vững vàng niềm tin của mình trong kinh tin kính do chính Chúa và GH chỉ dạy; trong đó có niềm tin vào sự sống lại và thưởng phạt đời sau.
Xin Chúa cho chúng ta luôn biết sống thân tình với Chúa qua việc yêu thích cầu nguyện, siêng năng tham dự thánh lễ và năng rước lễ; biết noi gương Đức Maria sống khiêm tốn luôn sẵn sàng lắng nghe và thực hành giới luật yêu thương do Chúa chỉ dạy, với hy vọng sau khi trãi qua cuộc sống đời này, chúng ta sẽ được Chúa ân thưởng hạnh phúc thiên đàng.

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN C
Blaise Pascal (1623-1662), là nhà toán học cũng là triết gia thời danh đã cho rằng người khôn ngoan chính là người tin vào sự sống đời sau. Ông lý luận như sau:
Có hai người tạm đặt tên là anh “A” và anh “B”.
Anh “A” tin có Thiên Chúa, tin có đời sau. Nên Anh “A” luôn cố gắng tuân giữ và sống những điều Chúa dạy: Tôn thờ Thiên Chúa, tham dự thánh lễ ngày Chúa nhật, yêu mến anh em hết lòng và hay giúp đỡ những người nghèo khó. Anh sống công bằng và bác ái. Khi lỗi phạm anh tìm cách thống hối ăn năn. Nhờ thế, gia đình anh hạnh phúc, anh được bà con trân trọng, quí mến. Và đặc biệt anh được bình an trong tâm hồn.
Anh “B” không tin có Thiên Chúa, không tin có đời sau. Nên Anh “B” thường sống buông thả, giả hình. Anh vi phạm lỗi công bằng. Anh cố che đậy những điều sai quấy, miễn sao pháp luật không biết là được. Kết quả gia đình mất đi hạnh phúc; dân làng chê bai; mọi người chỉ sợ anh chứ không trọng anh! Anh không có sự bình an thực sự trong tâm hồn.
Và Pascal đưa ra hai giả thuyết về Thiên Chúa và đời sau:
- Giả thuyết thứ nhất: Không có Thiên Chúa và cũng không có đời sau. Nếu không có Thiên Chúa và đời sau thì ngay ở đời này anh “A” đã hơn anh “B”, bởi vì gia đình anh hạnh phúc, mọi người quí mến và tâm hồn anh được bình an. Còn gia đình anh “B” thì mất hạnh phúc, dân làng chê cười và anh cũng không có bình an trong tâm hồn. Còn sau khi chết cả anh “A” và “B” huề nhau.
Giả thuyết thứ hai: Có Thiên Chúa và có đời sau. Có Thiên Chúa và có đời sau thì anh “A” được hưởng trọn vẹn; trong lúc anh “B” mất trắng không được gì cả.
Rồi Pascal kết luận: Khi ta tin vào Thiên Chúa và sự sống đời sau ta được cả đời nay lẫn đời sau, chỉ chịu thiệt đôi chút về chức quyền, danh vọng thôi. Nếu ta không tin vào Thiên Chúa ta mất cả đời này lẫn đời sau. Như thế, người tin vào Thiên Chúa và sự sống đời sau là người khôn ngoan; người không tin vào Thiên Chúa là những người vô cùng dại dột.
Bài Phúc Âm hôm nay thuật lại sự kiện những người thuộc phái Xa-đốc không tin có sự sống lại, nên họ dựa vào luật “thế huynh" của Môisen (Đnl 25, 5-6), để bịa ra câu chuyện lố bịch như sau: “Nhà kia có 7 anh em trai. Người anh cả cưới vợ rồi chết không con. Theo luật Môsê, người em phải lấy chị goá để có con nối dõi, và cả 7 anh em đều chết không con. Khi sống lại, chị goá đó vợ sẽ là của ai ?”.  Nếu có thế giới mai sau thì bà vợ ấy thuộc về ai trong số 7 ông chồng? Chẳng lẽ 7 ông đánh nhau để dành 1 bà trên thiên đàng sao?
Đây là kiểu lý luận hàm ẩn một quan niệm về một thế giới mai sau gần giống như quan niệm bình dân của đa sống Người Việt Nam chúng ta. Nên nhiều người có thói quen đốt vàng mã, đốt đôla, đốt xe honda, đốt nhà lầu…cho người cõi âm xài…, bởi lẽ người ta tin rằng thế giới mai sau cũng giống như thế giới mình đang sống nên người chết cũng cần xe, cần tiền, cần ăn uống và vợ con…để sống thoải mái trong thế giới bên kia.
Tuy nhiên qua câu trả lời của Chúa Giêsu với những người thuộc nhóm Xa-đốc trong bài Tin mừng hôm nay xác quyết với chúng ta hai điều:
1. Có sự sống lại sau khi chết là điều hiển nhiên.
2. Tình trạng sống lại khác với tình trạng hiện nay.
- Trước hết Chúa Giêsu minh chứng cho biết tình trạng sống lại mai sau khác với cuộc sống hiện tại. Ngài nói: “Con cái đời này cưới vợ gả chồng” vì lẽ đời sống con người có sinh có tử, và vì thế nên con người cần phải dựng vợ gả chồng để truyền sinh và nối dõi tông đường. Nhưng trong đời sống mai hậu, họ không còn cưới vợ gả chồng vì hai lý do: một là vì họ sẽ không chết nữa, và họ được sống trong tình trạng như các thiên thần; hai là vì họ trở nên con cái Thiên Chúa, và là con cái của sự sống lại, nghĩa là được thừa hưởng một thế giới mới trong Thiên Chúahằng sống.  Nên họ sẽ không còn lo lắng việc đời nữa, chỉ còn việc là  phụng sự và ngợi khen Thiên Chúa, giống như nhiệm vụ của các thiên thần.
- Còn khi nói về việc kẻ chết sống lại thì Chúa Giêsu dựa vào nền tảng Thánh kinh để chứng minh. Ngài nêu ra một đoạn được ghi trong sách Xuất hành mà nhóm Xa-đốc cũng tin nhận. Đó là đọan nói về sự kiện TC hiện ra với ông Maisen nơi bụi gai đang rực cháy, khi ấy Thiên Chúa đã tự xưng với Môisen Ngài chính là Thiên Chúa của tổ phụ Abraham, Isaác và Giacóp (x. Xh 3,6).  Người còn nhắc xác quyết với Môisen rằng: Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống. Nên cho dẫu các tổ phụ Abraham, Isaac và Giacop bấy giờ đã qua đời, nhưng với lời xác quyết của Thiên Chúa với Maisen cho biết các vị ấy hiện thời vẫn còn đang sống.
Vì Thiên Chúa là Đấng hằng sống đang điều khiển lịch sử loài người. Ngài không thể là Thiên Chúa của những kẻ chết, mà phải là của những kẻ sống. Con người gồm cả hồn lẫn xác, nên không những linh hồn con người thiêng liêng không bao giờ chết được, mà cả thân xác con người, dù có hoá thành bụi đất, thì nhờ quyền năng của Thiên Chúa Hằng Sống, cũng sẽ được sống lại trong ngày tận thế (x. Ga 11,23-26).
Nhưng tiếc thay lại có những kẻ sống như thể mình không bao giờ phải chết, họ ung dung hưởng thụ những lạc thú trần tục. Họ đã chết ngay khi còn đang sống. Cũng có những kẻ sống như thể chỉ có đời này, trong đầu của họ không có từ “đời sau”. Họ đang sống mà như đã chết.
    Cuộc đời này tuy ngắn ngủi, nhưng lại rất quan trọng: nó quyết định đến vận mạng trong cuộc sống mai hậu. Một người sống đầy tình người, đầy yêu thương ở đời này chắc chắn tình trạng đời sau sẽ khác hẳn với người đời này sống ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến mình.
    Đời này là nhân, đời sau là quả: nhân nào sinh quả nấy, cây nào sinh trái nấy, “Cây tốt thì sinh trái tốt, cây xấu thì sinh trái xấu. Cây tốt không thể sinh trái xấu, cũng như cây xấu không thể sinh trái tốt” (Mt 7,17-18). Người làm tốt sẽ được thưởng, người làm điều xấu sẽ bị phạt theo như lời thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tuỳ theo việc họ làm” (Rm 2,6; Kh 2,23). Nói đến nguyên tắc “gieo gì thì gặt nấy”, phương Tây có một câu ngạn ngữ rất hay:
Nếu bạn muốn hạnh phúc một ngày, hãy mua một cái áo mới.
Nếu bạn muốn hạnh phúc một tuần, hãy làm thịt một con heo.
Nếu bạn muốn hạnh phúc một năm, hãy cưới vợ lấy chồng.
Nếu bạn muốn hạnh phúc một đời, hãy làm người sống tử tế.
Nếu bạn muốn hạnh phúc muôn đời, hãy làm người có đạo tốt.
   Vậy chúng ta tự hỏi: Tôi sẽ chọn cho mình cách sống nào? Sống để chiếm lấy vĩnh cửu hay là chỉ những kẻ chọn lấy đời này và đánh mất đời sau? Hãy luôn tâm niệm rằng ‘sống là để chết’. Mà chết là ta đang đi về đời sau để gặp Đấng mà mình tin yêu. Vì thế, cái chết không làm cho chúng ta bi quan, ngược lại, cái chết dạy ta biết cách sống. Ta hãy sống như sẽ chết, để khi chết, ta trở về nguồn cội đích thật của mình là quê hương vĩnh cửu. Nơi đó Chúa đang chờ để ban hạnh phúc muôn đời cho những ai đã “xét đáng được dự phần đời sau”.
Xin mượn lại lời của thánh Augustinô để chúng ta cùng dâng lên Thiên Chúa của sự sống lời nguyện cầu: Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và chúng con còn khắc khoải mãi cho đến khi được an nghỉ trong Chúa. Amen. (St)

CHÚA NHẬT XXXII TN NĂM C
Xưa nay người ta không coi chết là chấm hết mà tin rằng chết vẫn có một nơi hay một chốn để đến hay để về mà tiếp tục sống trong một tình trạng nào đó. Nơi ấy hay chốn ấy được nhạc sĩ tài danh Trịnh Công Sơn gọi là “một cõi đi về”. Người Trung quốc thì gọi nơi ấy là chốn Cửu tuyền hay Hoàng tuyền. Còn người Do thái thì gọi là Sheol. 
Đối với người Việt Nam thì gọi cái chết bằng những ngôn từ khác nhau như : "băng hà", “khuất núi”, “ra đi”, “mất”, “về nơi chín suối”, “quy tiên”, “chầu trời”, “qua đời”… Những từ ngữ trên nói lên niềm tin cho rằng chết không phải là hết, mà là đi về với Tổ Tiên, về cõi Trời, vào chốn Niết bàn... Thế nên mới có câu: “Sinh kí tử quy”, sống là gửi, thác mới là về là vậy!.
Riêng với người Kitô hữu chúng ta thì tin vào Thiên Chúa là Đấng tạo dựng nên sự sống, nên Người là chủ của sự sống. Ý định của Thiên Chúa là thông ban sự sống chứ không phải sự chết. Vậy sự chết bởi đâu mà có ?
 Kinh Thánh trả lời rằng: “sự chết là hậu quả của tội lỗi” (Rm 5,12; 6,23). Nhưng Thiên Chúa “vì quá yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài để những ai tin vào Người Con ấy sẽ không phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Đúng vậy trước khi làm cho Lazarô sống lại Chúa Giêsu phán với Mác-ta rằng: “Thầy là sự sống lại và là sự sống”. Lời tuyên bố ấy của Chúa Giêsu chính là lời mặc khải quan trọng về sự sống lại nơi con người. Nhưng lời ấy khiến cho nhiều người không tin, trong đó có những người thuộc nhóm Xa-đốc.
Để bảo vệ cho quan điểm không có sự sống lại, những người thuộc phái Xa-đốc đã bịa ra câu chuyện về một người phụ nữ có tới 7 đời chồng. Theo luật “thế huynh” của Môsê cho phép nếu người anh lấy vợ mà không con thì người em kế đó có quyền lấy người đàn bà ấy làm vợ. Như vậy có cả thảy 7 anh em đều lấy cùng một người đàn bà làm vợ vì tất cả đều lần lượt chết đi mà không con. Cuối cùng người đàn bà ấy cũng chết. Vậy vấn đề họ đặt ra với Chúa Giêsu là: Đời sau người bà ấy sẽ sống với ông nào? Phải chọn 1 ông chứ chả nhẽ sống cùng một lúc với 7 ông chắc không ổn rồi!
Trước hết Chúa Giêsu khẳng định cho họ biết con người sẽ sống lại, nhưng sự sống đời sau khác hẳn đời này và không còn cảnh dựng vợ gả chồng nữa, bởi tình trạng bấy giờ giống như thiên thần. Tựa như con sâu chết đi hóa kiếp thành cánh bướm đẹp lung linh sắc màu. Đời bướm khác hẳn kiếp sâu.
Qua cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu là bảo chứng hùng hồn nhất cho niềm tin vào sự sống lại cho con người. Nhờ niềm tin ấy mà những người tín hữu ở đời này lúc nào cũng cố gắng nói và làm tất cả những gì tốt lành như thánh Phaolô căn dặn: Dù không biết chắc khi nào tận thế và Chúa lại đến, nhưng các tín hữu phải sống trong niềm hy vọng và mong chờ Chúa đến. Chính niềm hy vọng và sự mong chờ này sẽ là động lực giúp họ sống tốt. Hơn nữa chính nhờ sức mạnh của niềm tin vào sự sống lại mai sau nên bà mẹ và cả thảy 7 anh em nhà Macabê đã sẵn sàng chấp nhận cái chết chứ không phạm tội, họ nhất quyết vâng lời Vua vũ trụ hơn là vâng lời vua trần gian. 
Như thế, niềm tin vào sự sống đời đời giúp con người vượt thắng mọi sợ hãi và vươn lên sống tốt lành ngay ở đời này bởi họ tin vào sự sống vĩnh cửu mai sau. (St)

Thứ hai: Lc 17, 1-6
Mạnh Tử nói: "Nhân tri sơ tính bổn thiện". Tuân Tử lại nói: "Nhân tri sơ tính bổn ác". Cùng bàn về tính thiện ác trong con người, một nhà triết học phương Tây là Honbach cũng đưa ra quan điểm: “con người khi sinh ra vốn không thiện cũng không ác. Thiện hay ác là do hoàn cảnh tạo nên”. Còn Chúa Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay thì không bàn về tính thiện- ác nơi con người. Ngài cũng không theo quan điểm trung dung, nhưng khuyên chúng ta đừng làm gương mù, gương xấu mà làm ảnh hưởng đến tha nhân, nhất là với những người bé nhỏ.
Gương xấu là gì? Gương xấu là một lời nói hay một hành động không thích hợp làm cớ, tạo dịp cho người khác vấp phạm, sa ngã, phạm tội.
Có hai hình thức gây gương mù, gương xấu: Trực tiếp và gián tiếp. Trực tiếp là một hành động hay lời nói chủ ý, cố tình làm vậy để tạo dịp cho người khác sa ngã. Gián tiếp là hành vi hay lời nói vô ý, sơ suất có thể làm cho người khác hiểu lầm mà sa ngã, nhưng thực chất người làm không muốn. Dù trực tiếp hay gián tiếp làm gương xấu thì cả hai hình thức này đều phải tránh vì nó lôi kéo người khác vào những sai lầm, tội lỗi.
Chúa Giêsu lên án rất mạnh mẻ về việc làm này. Án phạt mà Chúa Giêsu đưa ra cho những ai cố tình làm gương xấu là tử hình “Cột cối đá mà quăng xuống nước”.
Để tránh gây gương mù gương xấu cho tha nhân không là điều dễ dàng nên Chúa Giêsu đòi hỏi cần phải có lòng tin. Lòng tin chính là sức mạnh vượt thắng những khó khăn trong đời. Sống lòng tin mọi nơi mọi lúc, ta mới có thể hóa giải được những khuynh hướng xấu nơi chính bản thân. Nhờ đó ta tránh gây ra những nguyên cớ làm thiệt hại cho tha nhân.
Xin Chúa ban thêm lòng tin nơi chúng con để chúng con đủ can đảm thi hành những điều tốt lành Chúa chỉ dạy, nhờ đó chúng con loại trừ được những hành vi và lời nói xấu xa, tội lỗi gây chia rẽ bất hòa trong đời sống.

Thứ ba: Lc 17, 7-10
Để nói một điều gì khó nói, người ta hay dùng cách nói ví von
Để thổ lộ một tâm tình sâu kín, người ta hay bộc bạch qua một câu chuyện.
Để diễn tả một chân lý nào đó, người ta hay dùng một dụ ngôn.
Dụ ngôn là cách thế Chúa Giêsu hay dùng trong lời rao giảng nhằm dạy chúng ta về chân lý của lẽ sống.
Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng câu chuyện dụ ngôn về người đầy tớ để dạy chúng ta về thái độ khiêm tốn phải có trong bổn phận phục vụ.
Như người đầy tớ, sau khi đã đi cày hay đi chăn chiên về, sẽ tự thấy có bổn phận phải tiếp tục phục vụ bữa tối cho chủ, rồi sau cùng mới được ăn mà không hề kêu ca.
Chúng ta cũng vậy, khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm theo ý Chúa, thì hãy nói : "Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi" (Lc 17,10), chứ không được tự mãn, khoe khoang về những thành quả do công khó của mìnhmà đòi hỏi Chúa phải trả công như người làm thuê. Vì xét cho cùng, tất cả những gì chúng ta “có” và chúng ta “là” đều do Chúa ban: Sự sống, sức khỏe, tài năng, điều kiện hoàn cảnh…; cũng như những thành công trong công việc đều nhờ bởi ơn Chúa. Như lời Người phán: “Không có Thầy, anh em không làm được gì” (Ga 15,5).
Tạ ơn Chúa vì chúng ta thật danh dự được Chúa tin tưởng trao phó nhiệm vụ phụng thờ Chúa và phục vụ anh em.
Xin Chúa ban cho chúng ta thái độ khiêm tốn trước Chúa, trước anh em và bản thân trong khi thi hành những bổn phận hằng ngày. Để khi thành công chúng ta không kêu căng tự mãn đòi hỏi công sức; cũng như khi thất bại chúng ta không buồn tủi, chán nản, bỏ cuộc trong trách niệm phục vụ.

Thứ tư Lc 17, 11-19
Người mắc bệnh cùi thời Chúa Giêsu phải chịu nhiều đau khổ.
- Đau về thể xác:
Vì không có thuốc chữa trị, nên bệnh cùi hành hạ thân xác rất nhức nhối.
Vi trùng cùi Hansen ăn vào da thịt dần mòn làm lỡ loét mặt mày, tay chân đau buốt.
Gân cốt tay chân thường bị co vấp lại, không còn khả năng làm việc như người bình thường. Tình cảnh họ rất là đau thương.
- Khổ về tâm hồn:
Quan niệm bệnh là do tội lỗi lỗi gây nên. Cùi là bệnh nan y thời bấy giờ chứng tỏ tội của người cùi phải rất nặng.
Người cùi bị mọi người xem thường, khinh bỉ và xa lánh vì sợ lây uế. Người cùi bị buộc phải sống tách biệt với cộng đồng và bị xã hội đẩy ra bên lề cuộc sống.
Người bị bệnh cùi luôn phải sống nương tựa vào người khác nên bị xem là thành phần ăn bám của xã hội. Thật chua xót!
Việc Chúa Giêsu chữa lành bệnh cùi chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa quyền năng và giàu lòng thương xót.
Việc Chúa Giêsu chữa lành bệnh cùi đồng nghĩa với việc Chúa phục hồi phẩm giá làm người của họ, trả lại cho họ tình trạng tốt đẹp thuở ban đầu mà Thiên Chúa đã tác tạo.
Việc Chúa chữa lành bệnh cùi, tạo điều kiện cho họ hòa nhập vào xã hội. Đó cũng chính là sứ điệp mời gọi mọi người hãy mở rộng vòng tay đón nhận nhau trong tình anh em, dù họ là ai.
Việc Chúa chữa lành bệnh cùi còn là mời gọi tha thiết đối với những ai đang mang nặng những nỗi đau về thể xác hay những vết thương nơi tâm hồn hãy mạnh dạn đến với Chúa để kêu xin ơn cứu chữa của Ngài; qua đó giúp họ tự tin can đảm hòa nhập vào cộng đồng xã hội tận hưởng niềm vui, nguồn an ủi sẻ chia tình người.
Có lẽ chúng ta không mắc phải bệnh cùi về thể lý vì ngày nay đã có thuốc đặc trị. Nhưng rất có thể chúng ta lại mắc phải bệnh cùi về tâm linh:
Cùi tâm linh là khi chúng ta vô ơn đối với Thiên Chúa. Sống xa cách Chúa, không quan tâm đến thánh lễ Chúa nhật, không còn biết cám ơn Chúa qua giờ kinh sáng-tối nơi gia đình, không để tâm học hỏi Thánh kinh và giáo lý….
Cùi tâm linh là khi chúng ta tự tách rời khỏi anh em trong các sinh hoạt của họ đạo. Có thể vì mặc cảm hay vì tự cao mà ta sống cu ki một mình, không còn khả năng hòa nhập với cộng đoàn họ đạo.
Cùi tâm linh là khi chúng ta vô tâm, thờ ơ, dửng dưng, ích kỷ, tư lợi mà không biết chạnh lòng thương trước nỗi đau của người khác. Những thứ đó chính là triệu chứng bệnh cùi tâm linh rất nguy hiểm.
Vậy mỗi người chúng ta hãy ý thức về bệnh cùi tâm linh của mình và xin Chúa cứu chữa.
Xin Chúa cho chúng con biết khiêm tốn nhận ra bệnh tình nguy hiểm mà ta đang mang trong người. Và xin Chúa thương cứu chữa cho lành sạch. “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi!”.

Thứ năm: Lc 17, 20-25
Bao giờ triều đại Thiên Chúa đến và đến ở đâu? Đó không chỉ là thắc mắc của người Pharisêu mà là của tất cả chúng ta.
Qua câu trả lời, Chúa Giêsu như muốn nói với ta rằng: Bao giờ triều đại Thiên Chúa đến hay đến ở đâu không quan trọng. Quan trọng là làm sao chúng ta cảm nhận được triều đại Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta.
Làm thế nào chúng ta cảm nhận được triều đại Thiên Chúa đang ở giữa hay ở nơi chúng ta?
- Phải sống yêu thương.
Thánh Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa là Tình Yêu”. Như vậy ai sống yêu thương thì người ấy giống Thiên Chúa; giống Thiên Chúa thì tất nhiên được ở trong triều đại của Chúa; mà ở trong triều đại Chúa có nghĩa là triều đại Thiên Chúa đang đến ở giữa người đó. Linh mục Vinh Hạnh đã sáng tác một bài hát “Đâu có tình yêu thương” rất hay. Lời của bài hát viết rằng: “Đâu có tình yêu thương ở đấy có Đức Chúa trời”. Vậy nơi nào có tình yêu, thì Đức Chúa Trời hiện diện nơi đó. Và nơi đó chính là triều đại của Thiên Chúa đang đến.
- Phải đặt niềm tin vào Đức Giêsu.
Trong cuộc đàm luận với ông Nicôđêmô, Chúa Giêsu đã khẳng định: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ”(Ga 3,1-21). Nên những ai tin tưởng vào Đức Giêsu, Thiên Chúa làm Người sẽ đón nhận được ơn cứu độ. Đón nhận được cứu độ cũng đồng nghĩa với triều đại Thiên Chúa đang đến giữa họ.
- Phải sống công chính.
Thánh Phaolô xác định mạnh mẻ: “Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm 14,17). Do đó, ai biết sống đời công chính, kiến tạo bình an và gieo rắc niềm vui trong Chúa Thánh Thần, người ấy xứng đáng là công dân của nước Chúa. Là công dân nước Chúa thì tất nhiên triều đại Thiên Chúa đang đến ở giữa họ.
Tóm lại: Niềm tin, tình yêu, công chính... là những điều kiện nền tảng mà mỗi người chúng ta phải nỗ lực thực hiện, mới mong đón nhận được triều đại Thiên Chúa đang đến với ta.
Xin Chúa cũng cố niềm tin, tình yêu và sự công chính của Chúa nơi mỗi chúng ta, ngõ hầu chúng ta cảm nhận được bình an, hạnh phúc và niềm vui nơi tâm hồn. Khi đó chúng ta sẽ nhận thấy triều đại Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta. Amen.

Thứ sáu: Lc 17, 26-37
“Bao giờ triều đại Thiên Chúa đến?” (Lc 17, 20) hoặc bao giờ đến ngày tận thế? Đó không chỉ là nỗi quan tâm của những người Pharisêu mà còn là của các môn đệ Chúa Giêsu: “Thưa thầy, ở đâu vậy?” (Lc 17,37). Trãi qua mọi thời đại, con người lúc nào cũng quan tâm đến vấn đề này.
Vào những thời kì đầu của Giáo Hội, các tín hữu Thessalonica đã nghe theo những luận điệu tuyên truyền sai lạc về ngày tận thế sắp đến. Do đó họ tỏ ra chán nản, lười biếng buông xuôi hết mọi thứ, không còn lo làm việc nữa. Đến nổi thánh Phaolô phải viết thư khuyên họ, đừng tin theo những luận điệu sai lạc ấy.
Ta vẫn còn nhớ khi bước vào năm 2000, nhiều người cho rằng ngày tận thế sẽ đến, họ lo lắng và chuẩn bị đủ mọi chuyện: dự trữ lương thực, mua đèn cầy để xin làm phép, lo đi xưng tội, cố gắng sống tốt... nhằm chờ đón ngày tận thế đến.
Cũng vậy, cách đây vài năm, người ta đồn đoán rằng: theo lịch Maya, thì vào ngày 21/12/2012 là ngày tận thế, do đây là ngày kết thúc niên lịch của họ. Nhưng tất cả những đồn đoán ấy đều qua đi, mà không hề xảy ra ngày tận thế.
Vậy bao giờ thì tận thế?
Không ai biết trước được. Cả Chúa Giêsu cũng không mạc khải về thời giờ cụ thể của ngày này, chỉ có Chúa Cha biết thôi: “Còn về ngày hay giờ đó, thì dù các thiên sứ trên trời, hay cả Con Người đi nữa, cũng không ai biết được trừ một mình Chúa Cha mà thôi”(Mc 13, 32). Chúa Giêsu chỉ nói sẽ có ngày tận thế. Ngày ấy đến một cách rất là nhanh chóng và bất ngờ như “ánh chớp chói lòa chiếu sáng từ phương trời này đến phương trời kia” (Lc 17, 24).
Và để minh họa cho tính bất ngờ của ngày tận thế ấy, bài tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng hai sự kiện cụ thể trong thời cựu ước đó là: lụt Đại Hồng Thủy thời Nô-e và Mưa lửa, Diêm sinh từ trời xuống thời ông Lót để mời gọi chúng ta phải có thái độ sẵn sàng cho ngày ấy.
Cũng như ngày tận thế đến bất ngờ và nhanh chóng thế nào, thì cái chết cũng đến với mỗi chúng ta cũng mang tính cách bất ngờ như vậy. Vì thế, điều quan trọng là hãy nghe theo lời dạy của Chúa mà chuẩn bị sẵn sàng. Có sẵn sàng thì cho dù cái chết có đến bất ngờ, ta cũng không hề sợ hãi; trái lại, ngày ấy sẽ là ngày hân hoan vui mừng của ta, vì triều đại Thiên Chúa thuộc về ta.
Lạy Chúa, sống trên đời này, ai trong chúng con cũng tất bật lo cho cơm áo gạo tiền; cũng như muốn vui chơi hưởng thụ. Nhưng xin Chúa đừng để chúng con quá ham mê của cải và đam mê hưởng thụ mà quên đi nhiệm vụ chính yếu là chuẩn bị sẵn sàng cho ngày Chúa đến.

Thứ bảy: Lc 18, 1-8
Phải nói rằng cầu nguyện chính là biểu lộ của đức tin. Có tin mới cầu xin. Tin ít thì cầu xin ít, tin nhiều cầu xin nhiều. Tin vững vàng thì cầu xin kiên trì.
Vì thế, chúng ta mới hiểu tại sao Chúa Giêsu phải thốt lên: “khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?”. Nói cách khác là liệu Ngài có còn thấy con người cầu nguyện khi ngày Ngài ngự đến nữa chăng?
Với hình ảnh bà góa trong bài tin mừng hôm nay, chúa Giêsu muốn dạy chúng ta phải kiên trì trong cầu nguyện để biểu lộ đức tin mạnh mẻ của mình.
Kiên trì là gì?
Kiên trì là: bền bỉ, giữ vững, không bỏ.
Bền bỉ cầu xin như người đàn bà góa bất hạnh trong bài tin mừng hôm nay. Như thánh nữ Mônica hơn 20 năm cầu nguyện cho chồng, cho con….
Nếu bà góa kiên vững đặt hết niềm tin và lời cầu xin của mình vào ông quan tòa bất chính, thì chúng ta càng phải kiên gan giữ vững niềm tin với lời nguyện xin của chúng ta vào Thiên Chúa là người Cha chúng ta.
Nếu ông quan tòa bất chính còn đáp lại nguyện vọng của người đàn bà góa nhờ sự kiên trì không chán nản bỏ cuộc của bà ta, thì Thiên Chúa, người cha nhân ái chắc chắn sẽ không bao giờ làm ngơ trước lời cầu xin liên tục của con cái mình. Nhưng liệu lòng tin chúng ta có đủ mạnh để kiên trì cầu xin hay là chúng ta dễ dàng nản lòng bỏ cuộc?
Lạy Chúa, xin cho con luôn biết biểu lộ lòng tin của mình cách mạnh mẻ bằng việc cầu nguyện kiên trì. Để khi vui hay lúc buồn, thành công hay thất bại, mưa hay nắng, mạnh khỏe hay đau yếu… lúc nào con cũng gắn kết với Chúa qua việc cầu nguyện. Xin cho con cũng ý thức cầu nguyện là nhu cầu rất cần thiết cho đời sống đức tin như hơi thở cần cho sự sống vậy!

  KỊCH BẢN CHỤP ẢNH, GHI HÌNH   BAN TRUYỀN THÔNG - TƯ LIỆU   I. PHÂN CÔNG NỘI BỘ Để không chồng chéo, con đề xuất chia như sau: Pl...