Thứ Năm, 8 tháng 10, 2020

 

TÀI LIỆU CẦN THIẾT

TĨNH TÂM HẠT THÁNG 10/10/2020

 

THÔNG ĐIỆP, TÔNG HIẾN, TÔNG HUẤN,

TÔNG THƯ, SỨ ĐIỆP

                                               Đặng Tự Do. 07/Oct/2020

Không phải tất cả tài liệu do Tòa Thánh công bố đều có cùng trọng lượng như nhau. Một số tài liệu có thẩm quyền hơn những tài liệu khác và vì vậy người Công Giáo cần phản ứng với những tài liệu này theo những cách khác nhau.

Một số tài liệu được Đức Giáo Hoàng công bố dựa trên huấn quyền của ngài. Một số khác được các Công Đồng như Công Đồng Vatican II công bố.

Trong số các tài liệu được Đức Giáo Hoàng công bố, dựa trên huấn quyền của ngài, cũng có những điểm khác biệt cần lưu ý.

 

a) Một số là Thông điệp (tiếng Ý: Encicliche hay Lettere encicliche, tiếng Anh: Encyclicals hay Encyclical Letter) gửi cho Giáo hội, cho các anh em giám mục của ngài, hoặc cho tất cả những người có thiện chí.

Cho đến nay, Đức Thánh Cha Phanxicô có 3 Thông điệp:

1) Thông điệp Fratelli tutti – Tất Cả Anh Em - được công bố ngày 3 Tháng 10, 2020

2) Thông điệp Laudato si’ – Chăm Sóc Ngôi Nhà Chung - được công bố ngày 24 Tháng 5, 2015

3) Thông điệp Lumen fidei – Ánh Sáng Đức Tin - được công bố ngày 29 Tháng 6, 2013

 

b) Một số khác là Tông huấn (tiếng Ý: Esortazioni Apostoliche, tiếng Anh: Apostolic Exhortation). Đó là những lời khích lệ để trình bày các suy tư về một chủ đề đặc biệt nào đó hoặc đưa ra những cách hành động nhất định.

Cho đến nay, Đức Thánh Cha Phanxicô có 5 Tông huấn:

1) Tông huấn Querida Amazonia – Amazon Thân Yêu - được công bố ngày 2 Tháng 2, 2020

2) Tông huấn Christus vivit - Chúa Kitô Đang Sống - được công bố ngày 25 Tháng 3, 2019

3) Tông huấn Gaudete et exsultate – Mừng Rỡ Hân Hoan - được công bố ngày 19 Tháng 3, 2018

4) Tông huấn Amoris laetitia – Niềm Vui Yêu Thương - được công bố ngày 19 Tháng 3, 2016

5) Tông huấn Evangelii Gaudium – Niềm Vui Tin Mừng - được công bố ngày 24 Tháng 11, 2013

 

c) Một số là Tông thư (tiếng Ý: Lettere Apostoliche, tiếng Anh:Apostolic Letter) đề cập đến các vấn đề cụ thể hoặc nhắm đến các nhóm cụ thể trong Giáo Hội.

Tông thư mới nhất của Đức Thánh Cha Phanxicô là Tông thư thứ 38 có tựa đề Scripturae Sacrae Affectus – Lòng Sùng Kính Sách Thánh - được công bố ngày 30 tháng 9, 2020 nhân kỷ niệm 1600 ngày Thánh Giêrôm qua đời.

Một số Tông thư của Đức Thánh Cha Phanxicô không do ngài đích thân ký tên nhưng do Đức Hồng Y Pietro Parolin ký tên nhân danh Đức Thánh Cha, chẳng hạn như các Tông thư liên quan đến tuyên Thánh, tuyên Chân Phước, tuyên lên Bậc Đáng Kính…

Một số Tông thư của Đức Thánh Cha được ghi là ban hành dưới dạng tự sắc (in forma di motu proprio – in the form of motu proprio). Đó là các Tông thư được hình thành theo sáng kiến riêng của Đức Giáo Hoàng và do ngài đích thân ký tên. Những Tông thư này có hiệu quả pháp lý. Đến nay có 34 Tông thư của Đức Thánh Cha được ghi là ban hành dưới dạng tự sắc, chủ yếu là đề cập đến việc cải tổ các quy trình trong Giáo Hội.

Tông thư đầu tiên của một vị Giáo Hoàng được ghi là ban hành dưới dạng tự sắc là Tông thư của Đức Thánh Cha Innôcentê VIII được công bố vào năm 1484.

 

d) Một số là Tông Hiến (tiếng Ý: Costituzioni Apostoliche – tiếng Anh: Apostolic Constitution) đề cập đến các vấn đề về cơ cấu. Tông hiến mới nhất là Tông hiến thứ 37 có tựa đề “Episcopalis communio” - Tình Hiệp Thông Giám Mục - được công bố ngày 18 tháng 9, 2018.

 

e) Ngoài ra còn có các sứ điệp (Messaggio - Message) như Sứ Điệp Ngày Quốc Tế Giới Trẻ, Sứ Điệp Phục Sinh, Giáng Sinh Urbi et Orbi gởi dân thành Rôma và toàn thế giới. Bên cạnh đó, còn các bài diễn văn (Discorso, Speech) và các bài giảng (Omelia, Homily) trong các thánh lễ do Đức Thánh Cha cử hành.

 

Tóm tắt các thuật ngữ thông dụng

Tiếng Ý

Tiếng Anh

Tiếng Việt

Bolle

Bull

Tông Chiếu

Costituzioni Apostoliche

Apostolic Constitution

Tông Hiến

Discorso

Speech

Diễn Từ

Encicliche

Lettere encicliche

Encyclicals

Encyclical Letter

Thông Điệp

Esortazioni Apostoliche

Apostolic Exhortation

Tông Huấn

Lettere Apostoliche

Apostolic Letter

Tông Thư

Messaggio

Message

Sứ Điệp

Motu proprio

Motu proprio

Tự Sắc

Omelia

Homily

Bài Giảng

 

 

TÓM LƯỢC THÔNG ĐIỆP THỨ BA, FRATELLI TUTTI,

CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

Vũ Văn An. 05/Oct/2020

Tình huynh đệ và tình bạn xã hội là những cách mà Đức Thánh Cha chỉ ra để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, công bằng hơn và hòa bình hơn, với sự đóng góp của mọi người: con người và các định chế. Với việc cương quyết nói ‘không’ với chiến tranh và sự thờ ơ hoàn cầu hóa.

Bài viết của Isabella Piro – Vatican News

Đâu là các lý tưởng vĩ đại nhưng cũng là những cách hữu hình để thăng tiến đối với những người mong muốn xây dựng một thế giới công bằng và huynh đệ hơn trong các mối liên hệ bình thường của họ, trong đời sống xã hội, chính trị và các định chế? Đó chủ yếu là câu hỏi mà Fratelli tutti muốn trả lời: Đức Giáo Hoàng mô tả nó như một “Thông điệp xã hội” (6) mượn tựa đề “Các Khuyên Răn” của Thánh Phanxicô Assisi, người đã dùng những hạn từ này để “nói với anh em của ngài và đề nghị với họ một lối sống thấm đượm hương vị Tin Mừng ”(1). Đức Giáo Hoàng viết rằng Vị Thánh Nghèo (Poverello) “không gây chiến bằng các ngôn từ nhằm áp đặt các học thuyết; ngài chỉ đơn giản truyền bá tình yêu của Thiên Chúa ”, và “ngài đã trở thành một người cha cho mọi người và truyền cảm hứng cho một viễn kiến về một xã hội huynh đệ”(2-4). Thông điệp này nhằm cổ vũ một khát vọng phổ quát hướng tới tình huynh đệ và tình bạn xã hội. Bắt đầu với tư cách thành viên chung của chúng ta trong gia đình nhân loại, từ sự thừa nhận rằng chúng ta là anh chị em vì chúng ta là con cái của một Đấng Tạo Hóa, tất cả cùng chung một con thuyền, và do đó chúng ta cần ý thức rằng trong một thế giới hoàn cầu hóa và liên kết hỗ tương, chỉ cùng với nhau chúng ta mới có thể được cứu vớt. Văn kiện Tình huynh đệ nhân loại do Đức Phanxicô và Đại Imam của Al-Azhar ký vào tháng 2 năm 2019 là một ảnh hưởng đầy cảm hứng đã được trích dẫn nhiều lần.

Tình huynh đệ không chỉ được khuyến khích bằng lời nói, mà còn bằng việc làm. Các việc làm trở nên hữu hình trong một “loại chính trị tốt hơn”, không phụ thuộc vào lợi ích tài chính, mà phục vụ lợi ích chung, có khả năng đặt phẩm giá của mỗi con người vào trung tâm và bảo đảm việc làm cho mọi người, để mỗi người có thể phát triển các khả năng của riêng họ. Một loại chính trị, nhờ tự tách mình khỏi chủ nghĩa dân túy, có khả năng tìm được các giải pháp chống lại những gì đang tấn công các quyền lợi căn bản của con người và nhằm xóa bỏ dứt khoát nạn đói và nạn buôn người. Đồng thời, Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh rằng một thế giới công bằng hơn chỉ có thể đạt được bằng cách cổ vũ hòa bình, là thứ không chỉ đơn thuần không có chiến tranh; nó đòi hỏi "tài thủ công", một công việc liên quan đến mọi người. Liên kết với sự thật, hòa bình và hòa giải, người ta phải “chủ động”; họ phải làm việc hướng tới công lý qua đối thoại, nhân danh sự phát triển chung. Điều này dẫn đến việc Đức Giáo Hoàng lên án chiến tranh, vốn "phủ nhận mọi quyền lợi" và không còn có thể quan niệm được dù dưới dạng giả thuyết "được biện minh", vì vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học đã có những hậu quả to lớn đối với dân thường vô tội. Cũng có một sự bác bỏ mạnh mẽ hình phạt tử hình, được xác định là "không thể chấp nhận được", và một suy tư trung tâm về sự tha thứ, liên quan đến các khái niệm tưởng nhớ và công lý: Đức Thánh Cha viết rằng tha thứ không có nghĩa là quên đi, cũng không phải là từ bỏ việc bênh vực các quyền lợi của mình để bảo vệ phẩm giá của mình, vốn là một hồng phúc của Thiên Chúa. Đức Phanxicô tiết lộ rằng ở bối cảnh của Thông điệp là đại dịch Covid-19, một đại dịch “bùng phát một cách bất ngờ” khi ngài “viết thông điệp này”. Nhưng tình trạng khẩn trương về sức khỏe hoàn cầu này đã giúp chứng minh điều này: “không ai có thể đối đầu với cuộc sống trong cô lập cả” và do đó, đã đến lúc thực sự “mơ ước như một gia đình nhân loại duy nhất”, trong đó chúng ta hết thẩy là “anh chị em” (7- 8).

Được mở đầu bằng một lời dẫn nhập ngắn gọn và được chia thành tám chương, Thông điệp - như chính Đức Giáo Hoàng giải thích - tập hợp nhiều tuyên bố của ngài về tình huynh đệ và tình bạn xã hội, tuy nhiên, được sắp xếp, “trong một bối cảnh suy tư rộng lớn hơn” và được bổ sung bằng “một số thư từ, tài liệu” được gửi đến Đức Phanxicô bởi“ nhiều cá nhân và nhóm trên khắp thế giới ”(5). Trong chương đầu tiên, “Những đám mây đen trên một thế giới khép kín”, văn kiện suy nghĩ về nhiều bóp méo đương đại: sự thao túng và biến dạng của các khái niệm như dân chủ, tự do, công lý; sự mất đi ý nghĩa của cộng đồng xã hội và lịch sử; tính ích kỷ và sự thờ ơ đối với lợi ích chung; sự trổi vượt của luận lý học thị trường dựa trên lợi nhuận và văn hóa vứt bỏ; nạn thất nghiệp, phân biệt chủng tộc, nghèo đói; sự chênh lệch về quyền lợi và những sai lệch của nó như nô lệ, buôn người, khuất phục phụ nữ rồi ép phải phá thai, buôn bán nội tạng (10-24). Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh, nó bàn đến các vấn đề hoàn cầu đòi phải có các hành động hoàn cầu, cũng gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh chống lại một “nền văn hóa xây tường” chuyên tạo điều kiện cho việc gia tăng tội phạm có tổ chức, được khuyến khích bởi nỗi sợ hãi và cô đơn (27-28). Hơn nữa, ngày nay chúng ta thấy sự xuống cấp đạo đức (29), một cách nào đó có sự góp phần của các phương tiện truyền thông đại chúng, vốn làm tiêu tan lòng tôn trọng người khác và loại bỏ mọi suy xét chín chắn, tạo ra những nhóm người ảo cô lập và tự quy chiếu vào chính mình, trong đó tự do là một ảo tưởng, và đối thoại không mang tính xây dựng (42-50).

Tình yêu bắc cầu: Người Samaritanô nhân hậu

Tuy nhiên, đối với nhiều bóng tối, Thông điệp đáp lại bằng một điển hình sáng lạn, một sứ giả của hy vọng: Người Samaritanô nhân hậu. Chương thứ hai, "Một người lạ trên đường", được dành riêng cho nhân vật này. Trong đó, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng, trong một xã hội không lành mạnh, chuyên quay lưng lại với đau khổ, và “mù chữ” trong việc chăm sóc những người yếu đuối và dễ bị tổn thương (64-65), tất cả chúng ta được kêu gọi - giống như Người Samaritanô nhân hậu - trở nên hàng xóm với người khác (81), vượt qua các định kiến, lợi ích cá nhân, rào cản lịch sử và văn hóa. Thực vậy, tất cả chúng ta đều có chung trách nhiệm trong việc tạo ra một xã hội có thể bao gồm, hòa nhập và nâng dậy những người đã vấp ngã hoặc đang đau khổ (77). Đức Giáo Hoàng nói thêm: Tình yêu bắc những nhịp cầu và “chúng ta được tạo ra để yêu thương” (88); ngài đặc biệt khuyên các Kitô hữu nhận ra Chúa Kitô nơi khuôn mặt của mọi người bị loại trừ (85). Nguyên tắc về khả năng yêu thương theo “một chiều kích phổ quát” (83) cũng được tiếp tục trong chương thứ ba, “Hình dung và hình thành một thế giới cởi mở”. Trong chương này, Đức Phanxicô khuyên chúng ta đi “ ‘ra ngoài cái tôi’ ”để tìm “một hiện hữu trọn vẹn hơn nơi một người khác”(88), mở lòng mình ra với người khác theo năng động tính của đức ái khiến chúng ta hướng tới “sự thành toàn phổ quát ”(95). Thông điệp nhắc nhở rằng, ở hậu trường, tầm vóc tinh thần của đời người được đo bằng tình yêu thương, một tình yêu luôn “chiếm vị trí hàng đầu” và dẫn chúng ta đi tìm điều tốt hơn cho cuộc sống của người khác, tránh xa mọi thứ ích kỷ (92-93).

Do đó, một xã hội huynh đệ sẽ là một xã hội biết cổ vũ việc giáo dục đối thoại nhằm đánh bại con “vi-rút” của “chủ nghĩa cá nhân triệt để” (105) và giúp mọi người biết cống hiến những gì tốt nhất của chính mình. Bắt đầu bằng sự bảo vệ gia đình và tôn trọng “sứ mệnh giáo dục hàng đầu và quan yếu của gia đình” (114). Đặc biệt có hai 'công cụ' để đạt được kiểu xã hội này: lòng nhân từ, hoặc thực sự mong muốn điều tốt cho người khác (112), và tình liên đới biết quan tâm đến sự mong manh và được phát biểu trong việc phục vụ người ta chứ không phục vụ các ý thức hệ, tranh đấu chống nghèo đói và bất bình đẳng (115). Một lần nữa, Đức Giáo Hoàng khẳng định, quyền sống đúng phẩm giá không thể bị bác bỏ, và vì các quyền lợi không có biên giới, nên không ai có thể bị loại trừ, bất kể họ sinh ra ở đâu (121). Theo quan điểm này, Đức Thánh Cha cũng kêu gọi chúng ta xem xét “nền đạo đức tương quan quốc tế” (126), vì mọi quốc gia cũng thuộc về người nước ngoài và các hàng hóa của lãnh thổ không thể bị từ khước đối với những người đang có nhu cầu và phát xuất từ một nơi khác. Vì vậy, quyền tự nhiên đối với tư hữu sẽ là thứ yếu so với cùng đích chính và phổ quát của hàng hóa đã tạo ra (120). Thông điệp cũng nhấn mạnh một cách chuyên biệt đến vấn đề nợ nước ngoài: tùy thuộc vào khoản nợ gốc mà nó phải trả, tuy nhiên người ta hy vọng rằng điều này không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và sống còn của các nước nghèo nhất (126).

Di dân: quản trị hoàn cầu để lập kế hoạch dài hạn

Trong khi đó, một phần của chương thứ hai và toàn bộ chương thứ tư được dành cho chủ đề di dân, chương sau, tựa đề là “Một trái tim mở lòng ra với toàn thế giới”. Với cuộc sống của họ “đang lâm nguy” (37), chạy trốn chiến tranh, bách hại, thảm họa thiên nhiên, nạn buôn người vô lương tâm, bị tách khỏi cộng đồng gốc của họ, những người di cư phải được chào đón, bảo vệ, hỗ trợ và hòa nhập. Đức Thánh Cha khẳng định cần phải tránh việc di dân không cần thiết bằng cách tạo ra các cơ hội cụ thể để sống đúng phẩm giá tại các quốc gia nguyên gốc. Nhưng đồng thời, chúng ta cần tôn trọng quyền được tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn ở những nơi khác. Ở các nước tiếp nhận, sự cân bằng hợp lý sẽ là giữa việc bảo vệ các quyền của công dân và bảo đảm việc chào đón và hỗ trợ các di dân (38-40). Một cách chuyên biệt, Đức Giáo Hoàng chỉ rõ một số “biện pháp không thể thiếu, đặc biệt để đáp ứng những người đang chạy trốn các cuộc khủng hoảng nhân đạo nghiêm trọng”: tăng cường và đơn giản hóa việc cấp thị thực; mở các hành lang nhân đạo; bảo đảm chỗ ở, an ninh và các dịch vụ thiết yếu; cung cấp cơ hội việc làm và huấn luyện; tạo điều kiện cho việc đoàn tụ gia đình; bảo vệ trẻ vị thành niên; bảo đảm tự do tôn giáo và cổ vũ việc hòa nhập xã hội. Đức Giáo Hoàng cũng kêu gọi thiết lập trong xã hội khái niệm “quyền công dân trọn vẹn”, và bác bỏ việc sử dụng có tính kỳ thị thuật ngữ “các nhóm thiểu số” (129-131). Văn kiện viết: Điều cần thiết trên hết là việc quản trị hoàn cầu, một sự hợp tác quốc tế về di dân nhằm thực hiện việc lên kế hoạch dài hạn, vượt quá những trường hợp khẩn cấp đơn lẻ (132), nhân danh việc phát triển hỗ trợ mọi dân tộc dựa trên nguyên tắc cho không (gratuitousness). Theo cách này, các quốc gia sẽ có thể nghĩ mình như “gia đình nhân loại” (139-141). Đức Phanxicô viết rằng, những người khác với chúng ta là một quà phúc và làm giầu cho mọi người, vì các sự khác biệt tượng trưng cho một cơ hội để phát triển (133-135). Một nền văn hóa lành mạnh là một nền văn hóa biết chào đón, có khả năng mở lòng ra với người khác, mà không từ bỏ bản thân, cung cấp cho họ một điều gì đó chân thực. Như trong một khối đa diện - một hình ảnh rất thân thương đối với Đức Giáo Hoàng – toàn bộ không phải chỉ là những bộ phận đơn lẻ của nó, nhưng giá trị của mỗi bộ phận đều được tôn trọng (145-146).

Chủ đề của chương thứ năm là “Một loại chính trị tốt hơn”, một loại đại diện cho một trong những hình thức bác ái có giá trị nhất vì nó được đặt để phục vụ lợi ích chung (180) và thừa nhận tầm quan trọng của con người, được hiểu như một phạm trù mở, sẵn sàng để thảo luận và đối thoại (160). Theo một nghĩa nào đó, đây là một loại chủ nghĩa dân túy do Đức Phanxicô đề xuất, ngược với thứ “chủ nghĩa dân túy” chuyên làm ngơ tính hợp pháp của khái niệm “nhân dân”, bằng cách thu hút sự đồng thuận nhằm bóc lột họ để phục vụ cho chính mình và nuôi dưỡng tính ích kỷ nhằm gia tăng sự nổi tiếng của riêng mình (159). Nhưng một nền chính trị tốt hơn cũng là một nền chính trị biết bảo vệ việc làm, một “chiều kích thiết yếu của đời sống xã hội”, và tìm cách bảo đảm để mọi người có cơ hội phát triển các khả năng của mình (162). Đức Thánh Cha giải thích, sự giúp đỡ tốt nhất cho một người nghèo không chỉ là tiền, vốn là một phương thuốc tạm thời, mà là để giúp họ có một cuộc sống xứng đáng nhờ việc làm. Chiến lược chống nghèo đói thực sự không chỉ nhằm mục đích kiềm chế hoặc làm cho người nghèo không mếch lòng, mà còn cổ vũ nơi họ viễn tượng liên đới và phụ đới (187). Hơn nữa, nhiệm vụ của chính trị là tìm ra giải pháp cho tất cả những gì đang tấn công các nhân quyền căn bản, chẳng hạn như loại trừ xã hội; buôn bán nội tạng, các tế bào, các loại vũ khí và ma túy; bóc lột tình dục; lao động nô lệ; khủng bố và tội ác có tổ chức. Đức Giáo Hoàng đưa ra lời kêu gọi thống thiết phải dứt khoát loại bỏ nạn buôn người, một “nguồn xấu hổ cho nhân loại”, và nạn đói, vốn là “tội ác” vì lương thực là “một quyền bất khả chuyển nhượng” (188-189).

Thị trường, tự nó, không thể giải quyết mọi vấn đề. Nó đòi một cuộc cải tổ Liên Hiệp Quốc

Đức Phanxicô cũng nhấn mạnh nền chính trị mà chúng ta cần là nền chính trị biết nói “không” với tham nhũng, với sự thiếu hiệu năng, với việc sử dụng quyền lực một cách ác ý, với việc thiếu tôn trọng pháp luật (177). Đó là một nền chính trị tập trung vào phẩm giá con người và không chịu lệ thuộc tài chính vì “thị trường, tự nó, không thể giải quyết mọi vấn đề”: “sự tàn phá” của đầu cơ tài chính đã chứng minh điều này (168). Do đó, các phong trào bình dân đã nhận được một tính liên quan đặc biệt: như những “nhà thơ xã hội” tuôn chẩy “luồng năng lượng đạo đức” ấy, phải để họ dấn thân vào các hoạt động xã hội, chính trị và kinh tế, tuy nhiên, dưới sự phối hợp lớn lao hơn. Đức Giáo Hoàng tuyên bố rằng, bằng cách này, người ta sẽ có khả năng vượt quá chính sách “với” và “của” người nghèo (169). Một niềm hy vọng khác trình bầy trong Thông điệp liên quan đến việc cải tổ Liên Hiệp Quốc: trước ưu thế của chiều kích kinh tế đang vô hiệu hóa quyền lực của các quốc gia cá thể, trên thực tế, nhiệm vụ của Liên hợp quốc sẽ là cung cấp thực chất cho khái niệm “gia đình các quốc gia” hoạt động vì lợi ích chung, xóa bỏ nghèo đói và bảo vệ nhân quyền. Văn kiện của Đức Giáo Hoàng quả quyết, không mệt mỏi sử dụng “đàm phán, hòa giải và trọng tài”, Liên Hiệp Quốc phải cổ vũ sức mạnh của luật pháp hơn là luật của sức mạnh, bằng cách tạo điều kiện cho các hiệp định đa phương có khả năng bảo vệ tốt hơn ngay cả những quốc gia yếu nhất (173-175).

Từ chương thứ sáu, “Đối thoại và tình bạn trong xã hội”, còn xuất hiện khái niệm sống như “nghệ thuật gặp gỡ” với mọi người, ngay cả với các vùng ngoại vi của thế giới và với các dân tộc nguyên thủy, vì “mỗi người chúng ta đều có thể học được một điều gì đó từ những người khác. Không ai là vô dụng và không ai có thể bị hy sinh” (215). Thật vậy, đối thoại chân chính là điều giúp người ta tôn trọng quan điểm của người khác, lợi ích hợp pháp của họ và trên hết, là sự thật về phẩm giá con người. Chúng ta thấy Thông điệp viết rằng, thuyết duy tương đối không phải là một giải pháp, vì nếu không có các nguyên tắc phổ quát và các chuẩn mực đạo đức nhằm ngăn cấm điều ác nội tại, luật lệ trở thành chỉ còn là những áp đặt độc đoán (206). Từ viễn ảnh này, một vai trò đặc thù được dành cho các phương tiện truyền thông, những phương tiện trong khi không khai thác những điểm yếu của con người hay lợi dụng những điều tồi tệ nhất trong chúng ta, phải hướng đến cuộc gặp gỡ rộng lượng và sự gần gũi với những người nhỏ bé nhất, cổ vũ sự gần gũi và cảm thức gia đình nhân loại (205). Sau đó, một cách đặc biệt, Đức Giáo Hoàng nhắc đến phép lạ của “sự tốt bụng” (kindness), một thái độ cần được phục hồi vì nó là một ngôi sao “tỏa sáng giữa bóng tối” và “giải phóng chúng ta khỏi sự ác độc... sự lo lắng... sự hoạt động điên loạn” đang thịnh hành trong thời đương đại. Đức Phanxicô viết, một người tốt bụng tạo ra một cuộc sống chung lành mạnh và mở ra các nẻo đường ở những nơi mà việc gây bực tức đang đốt cháy các cây cầu (222-224).

Nghệ thuật hòa bình và tầm quan trọng của sự tha thứ

Giá trị và việc cổ vũ hòa bình được phản ảnh trong chương thứ bảy, “Những nẻo đường của cuộc gặp gỡ đổi mới”, trong đó Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng hòa bình được nối kết với sự thật, công lý và lòng thương xót. Khác xa mong muốn báo thù, nó “chủ động” và nhằm tạo ra một xã hội dựa trên việc phục vụ người khác và theo đuổi sự hòa giải và phát triển lẫn nhau (227-229). Đức Giáo Hoàng viết rằng trong một xã hội, mọi người phải cảm thấy “như ở nhà”. Vì vậy, hòa bình là một “nghệ thuật bao gồm và liên quan đến mọi người và trong đó mỗi người phải thực hiện phần việc của mình". Đức Giáo Hoàng viết tiếp: Xây dựng hòa bình là “một nỗ lực luôn có đó, một nhiệm vụ không bao giờ kết thúc”, và do đó điều quan trọng là phải đặt con người, phẩm giá của họ và lợi ích chung ở trung tâm của mọi hoạt động (230-232). Tha thứ gắn liền với hòa bình: Thông điệp viết, chúng ta phải yêu thương mọi người, không trừ ai, nhưng yêu một kẻ áp bức có nghĩa là giúp họ thay đổi và không để họ tiếp tục áp bức người lân cận. Ngược lại: người chịu bất công phải mạnh mẽ bảo vệ quyền lợi của mình để duy trì phẩm giá của mình, vốn là một hồng phúc của Thiên Chúa (241-242). Tha thứ không có nghĩa là miễn trừng phạt, mà đúng hơn là công lý và tưởng nhớ, vì tha thứ không có nghĩa là quên đi, mà là từ bỏ sức mạnh hủy diệt của cái ác và khát vọng trả thù. Đức Giáo Hoàng khuyên: Đừng bao giờ quên những “nỗi kinh hoàng” như vụ Shoah (diệt chủng Do Thái), vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, các cuộc đàn áp và thảm sát sắc tộc. Chúng phải luôn được tưởng niệm, một lần nữa, để ta không bị gây mê và giữ cho ngọn lửa của lương tâm tập thể luôn sống động. Điều cũng quan trọng là phải nhớ đến những người tốt, và những người đã chọn sự tha thứ và tình huynh đệ (246-252).

Do đó, một phần của chương thứ bảy tập trung vào chiến tranh: Đức Phanxicô nhấn mạnh, nó không phải là “bóng ma từ quá khứ mà là một mối đe dọa thường xuyên”, và nó đại diện cho “việc phủ nhận mọi thứ quyền”, “một sự thất bại của chính trị và của nhân loại ”, và “thất bại nhức nhối trước các thế lực của cái ác” vốn nằm trong “vực thẳm ”của chúng. Hơn nữa, vì vũ khí hóa học và sinh học hạt nhân đã tấn công nhiều thường dân vô tội, ngày nay chúng ta không thể nghĩ đến khả thể diễn ra “cuộc chiến tranh chính nghĩa” như trước nữa, mà phải kịch liệt khẳng định lại: “Không bao giờ có chiến tranh nữa!” Và xét rằng chúng ta đang trải qua một "cuộc chiến tranh thế giới từng phần", vì tất cả các cuộc xung đột đều có liên hệ qua lại với nhau, việc loại bỏ hoàn toàn vũ khí hạt nhân là "một mệnh lệnh đạo đức và nhân đạo". Thay vào đó, Đức Giáo Hoàng đề nghị thành lập một quỹ hoàn cầu để xóa đói bằng số tiền đầu tư vào vũ khí (255-262).

Hình phạt tử hình không thể chấp nhận được, phải được bãi bỏ

Đức Phanxicô bày tỏ quan điểm rõ ràng đối với án tử hình: nó không thể chấp nhận được và phải được bãi bỏ trên toàn thế giới, vì Đức Thánh Cha viết, “ngay một kẻ giết người cũng không đánh mất phẩm giá bản vị của họ và chính Thiên Chúa cam kết bảo đảm điều này”. Do đó, có hai lời khuyên bảo sau đây: Đừng nên coi hình phạt như có tính báo thù, mà đúng hơn như một phần của quá trình hàn gắn và tái hòa nhập xã hội, và cải thiện các điều kiện của nhà tù, tôn trọng nhân phẩm của tù nhân, và xem xét điều này “án chung thân là một hình phạt tử hình bí mật”(263-269). Người ta nhấn mạnh đến việc cần thiết phải tôn trọng “tính thánh thiêng của sự sống” (283) trong khi hiện nay “một số thành phần trong gia đình nhân loại của chúng ta, dường như, sẵn sàng có thể chịu hy sinh”, chẳng hạn như trẻ chưa sinh, người nghèo, người tàn tật và người già (18).

Bảo đảm tự do tôn giáo

Trong chương thứ tám và cuối cùng, Đức Giáo Hoàng tập trung vào “Các tôn giáo phục vụ tình huynh đệ trong thế giới của chúng ta” và một lần nữa nhấn mạnh rằng bạo lực không có cơ sở trong các xác tín tôn giáo, mà đúng hơn, trong các hình thức méo mó của chúng. Do đó, các hành vi “đáng trách”, chẳng hạn như hành động khủng bố, không phải do tôn giáo mà là do cách giải thích sai lầm các bản văn tôn giáo, cũng như “các chính sách liên quan đến đói, nghèo, bất công, áp bức”. Không được ủng hộ chủ nghĩa khủng bố bằng tiền bạc hoặc vũ khí, càng ít hơn bằng việc đưa tin của các phương tiện truyền thông, vì đó là một tội ác quốc tế chống lại an ninh và hòa bình thế giới, và như vậy phải bị lên án (282-283). Đồng thời, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng một hành trình hòa bình giữa các tôn giáo là điều có thể thực hiện được và do đó cần phải bảo đảm quyền tự do tôn giáo, một nhân quyền căn bản cho mọi tín hữu (279). Đặc biệt, Thông điệp suy tư vai trò của Giáo hội: nó tuyên bố rằng Giáo hội không “giới hạn sứ mệnh của mình vào phạm vi riêng tư”. Giáo Hội không đứng lại ở bên lề xã hội và, tuy không tham gia chính trị, nhưng Giáo Hội không từ bỏ chiều kích chính trị của chính sự sống. Thực thế, việc quan tâm đến lợi ích chung và quan tâm đến việc phát triển toàn diện con người là điều liên hệ đến toàn thể nhân loại, mà những gì là nhân bản đều có liên quan đến Giáo hội, theo các nguyên tắc Tin Mừng (276-278). Cuối cùng, trong khi nhắc nhở các nhà lãnh đạo tôn giáo về vai trò của họ như “những người trung gian chân chính”, những người xả thân để xây dựng hòa bình, Đức Phanxicô trích dẫn “Văn kiện về Tình Huynh đệ Nhân bản vì Hòa bình Thế giới và Chung sống”, mà ngài đã ký vào ngày 4 tháng 2 năm 2019 tại Abu Dhabi, cùng với Đại Imam của Al-Azhar, Ahmad Al-Tayyib: từ cột mốc đối thoại liên tôn đó, Đức Giáo Hoàng quay trở lại với lời kêu gọi rằng, nhân danh tình huynh đệ nhân bản, đối thoại phải được tiếp nhận như một con đường, hợp tác chung như cách ứng xử và hiểu biết lẫn nhau như phương pháp và tiêu chuẩn (285).

 

Chân phước Charles de Foucauld, “người anh em phổ quát”

Thông điệp kết thúc bằng việc tưởng nhớ Martin Luther King, Desmond Tutu, Mahatma Gandhi và trên hết là Chân phước Charles de Foucauld, một hình mẫu cho mọi người về ý nghĩa của việc đồng nhất hóa với những người nhỏ bé nhất để trở thành “người anh em phổ quát” (286-287). Những dòng cuối cùng của Văn kiện được dành cho hai lời cầu nguyện: một lời “dâng lên Đấng Tạo Hóa” và lời kia là “Lời cầu nguyện đại kết Kitô giáo ”, để trái tim nhân loại nuôi dưỡng“ tinh thần huynh đệ”.

 

 

BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN:

CỬ HÀNH BÍ TÍCH RỬA TỘI VỚI NGHI THỨC

ĐƯỢC SỬA ĐỔI TÙY TIỆN LÀ KHÔNG THÀNH SỰ

Ngọc Yến - Vatican News

Không thành sự khi cử hành Bí tích Rửa tội với nghi thức đã được sửa đổi cách tùy tiện và những ai đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội như thế phải được lãnh nhận Bí tích lại theo các quy tắc phụng vụ do Giáo hội thiết lập.

Ngày 06/8/2020, Bộ Giáo lý Đức tin đã đưa ra câu trả lời, được Đức Thánh Cha phê chuẩn, liên quan đến câu hỏi nghi ngờ thành sự về việc cử hành Bí tích Rửa tội với công thức: “Nhân danh cha mẹ, cha/mẹ đỡ đầu, ông bà, các thành viên trong gia đình, nhân danh cộng đoàn, chúng tôi (số nhiều) rửa con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, thay vì công thức chính thức của Giáo hội là: “Tôi/cha rửa anh/chị/con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.

Bộ Giáo lý Đức tin cho rằng “sửa đổi tùy tiện này nhằm nhấn mạnh giá trị cộng đoàn của Bí tích Rửa tội, để bày tỏ sự tham gia của gia đình, người thân và để tránh ý tưởng tập trung thánh quyền của linh mục”. Tuy nhiên, câu trả lời nhắc lại Hiến chế Sacrosanctum Concilium – Hiến chế về Phụng vụ Thánh, trong đó quy định: “Khi một người cử hành Bí tích Rửa tội thì chính Chúa Giêsu cử hành”. Tất nhiên, trong việc cử hành, cha mẹ của người lãnh nhận Bí tích, cha mẹ đỡ đầu và toàn thể cộng đoàn được mời gọi đóng một vai trò tích cực, nhưng theo Hiến chế, mỗi người, khi chu toàn phận vụ, chỉ thi hành trọn những gì thuộc lãnh vực mình tùy theo bản chất sự việc và những qui tắc phụng vụ (Sacrosanctum Concilium, 28).

Công đồng Vatican II xác định rằng không một ai, ngay cả linh mục có quyền thực hiện theo sáng kiến của mình, nghĩa là loại bỏ hoặc thêm bất cứ điều gì trong các chất thể phụng vụ. Thực vậy, sửa đổi nghi thức cử hành Bí tích không chỉ cấu thành một sự lạm dụng phụng vụ đơn giản, vi phạm một quy tắc, nhưng đồng thời gây ra một tổn hại cho sự hiệp thông Giáo hội và nhìn nhận hành động của Đức Kitô. Và trong những trường hợp nghiêm trọng việc sửa đổi đó làm cho Bí tích vô hiệu, bởi vì bản chất của hành động thừa tác vụ đòi hỏi sự thông truyền cách trung thành điều đã được lãnh nhận.

Tài liệu giải thích: Trong việc cử hành các Bí tích, cộng đoàn không hành động “cách đoàn thể”, nhưng “thừa tác” và thừa tác viên không nói như một viên chức được giao phó công việc, nhưng đóng một vai trò thừa tác như dấu hiệu sự hiện diện của Đức Kitô, Đấng hành động trong Thân Mình Người, trao ban ân sủng. Trong ánh sáng này, trong khi cử hành Bí tích, tối thiểu thừa tác viên phải có chủ ý làm theo những điều Hội thánh truyền dạy. Một chủ ý phải được thể hiện ra bên ngoài, hành động này được thực hiện không phải nhân danh thừa tác viên nhưng nhân danh Đức Kitô.

Bộ Giáo lý Đức tin kết luận: “Thay đổi nghi thức cử hành Bí tích, còn có nghĩa là không hiểu được chính bản chất của thừa tác vụ Giáo hội, đó là luôn luôn phục vụ Thiên Chúa và dân Người chứ không phải việc thực thi một quyền bính nhằm làm sai những gì đã được giao phó cho Giáo hội bằng một hành động thuộc về Truyền thống. Do đó, mỗi thừa tác viên Bí tích Rửa tội phải ý thức về việc phải hành động trong sự hiệp thông Giáo hội, và có niềm xác tín như Thánh Augustinô. Theo Thánh Augustinô, trong Bí tích Rửa tội, Đức Kitô là quan trọng nhất, vì thế sự thánh thiện của Bí tích Rửa tội không tùy thuộc vào các thừa tác viên mà tùy thuộc vào Đấng đã nói: “Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần” (Ga 1,33). (CSR_5697_2020).

 

                                                                              

KINH ĐỨC MẸ MÂN CÔI

    Lm. Daminh Nguyễn Ngọc Long

Trong suốt cả năm Hội Thánh đặt ra nhiều lễ kính Đức Mẹ. Nhưng tháng 10 hằng năm là tháng dành riêng về lòng sùng kính Đức Mẹ mân côi.

† Trong dòng lịch sử

Theo dòng lịch sử, Thánh Daminh, vị sáng lập Dòng Daminh chuyên vể giảng thuyết, đã nhận trực tiếp từ Đức Mẹ, trong một phép lạ Đức Mẹ hiện ra với ngài, kinh nguyện Mân Côi vào năm 1208. Và từ thời điểm đó thánh nhân đã truyền bá sâu rộng việc lần chuỗi mân côi kính Đức Mẹ trong Dòng của mình, và rồi dần dần lan truyền ra cho mọi người trong Hội Thánh Chúa Kitô.

Cũng theo truyền thuyết đạo đức kể lại, Đức Mẹ đã truyền cho Thánh Daminh phải quảng bá việc lần chuỗi mân côi như vũ khí chống lại bè rối Albigenser lúc đó đang hòanh hành chống lại Hội Thánh Chúa Kito.

Và từ khởi điểm đó, chuỗi kinh mân côi trở nên linh đạo của Dòng Daminh.

Còn lịch sử ngày lễ kính Đức Mẹ mân côi, ngày 07.10. hằng năm có sau này vào thế kỷ thứ 18. trong toàn thể Hội Thánh Công Giáo.

Ngày 07.10.1571 trong trận hải chiến giữa quân đội của đế quốc Osman Thổ nhĩ Kỳ và đạo binh thánh dưới thời Đức Giáo Hoàng Pio V., ở vùng biển Lepanto bên Hy Lạp, đạo binh Thánh của Hội Thánh đã dành được chiến thắng cùng chặn đường tiến xâm lăng của đội quân hùng hậu Thổ nhĩ Kỳ.

Chiến thắng này có được là nhờ lời cầu nguyện lần chuỗi đọc kinh mân côi trong toàn Hội Thánh lúc đó. Qua đó Đức Mẹ đã cầu bầu cùng Chúa ban cho sức mạnh chiến thắng kẻ thù. Để nhớ ơn này, Đức Giáo Hoàng Pio V. đã lập ra ngày lễ kính Đức Mẹ mân côi vào ngày 07.10. 1572 một năm sau để kỷ niệm chiến thắng này.

Và từ thế kỷ 18. ngày lễ này vào ngày 07.10. hằng năm lan rộng trong khắp Hội Thánh là ngày lễ kính chính thức trong lịch Phụng vụ.

† Suy niệm kinh mân côi

Việc lần chuỗi đọc kinh mân côi xưa nay là cung cách nếp sống đức tin phổ thông bình dân trong khắp Hội Thánh Chúa Kitô.

Khi đọc kinh mân côi, cùng với kinh Kính Lạy Cha, kinh kính mừng Maria chúng ta lần theo dõi cuộc đời Chúa Giêsu và Đức Mẹ qua những chặng đường suy niệm:

1. Năm chặng mùa Vui: Thiên Thần truyền tin, Đức Mẹ đi viếng thăm Bà Eisabeth, Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu nơi hang đá, Đức Mẹ đem Chúa Giêsu vào đền thờ, và Đức Mẹ Thánh Giuse tìm gặp lại được Chúa Giêsu đi lạc trong đền thờ.

Năm ngắm mùa Vui này gợi nhắc đến đời sống gia đình chúng ta. Hai vợ chồng từ lúc thành lập gia đình với nhau ngày lễ thành hôn, mối liên hệ với gia đình họ hàng của hai bên, tiếng khóc nụ cười niềm vui mừng hạnh phúc có người con chào đời trong gia đình, bồng ẵm con đến thánh đường xin tiếp nhận làn nước bí tích rửa tội, và việc dạy dỗ uốn nắn con cái trong gia đình.

2. Rồi qua những chặng đường năm sự Thương: Chúa Giêsu lo buồn, Chúa Giesu bị bắt chịu hành hạ bị đánh đập, Chúa Giêsu bị nhạo báng cho đội triều thiên có gai nhọn đâm vào da đầu, Chúa Giêsu phải vác thập gía đi đến pháp trường, và sau cùng Chúa Giêsu bị đóng đinh treo trên thập gía.

Những chặng đường đau thương này nhắc nhớ đến những đau khổ trong đời sống con người chúng ta. Lẽ dĩ nhiên ngày nay không còn cảnh bị xử dã man tàn ác thập gía như thế vào thời Chúa Giêsu nữa. Nhưng những đau khổ do chiến tranh gây ra, do khủng bố, do bị bệnh tật, do bị đối xửa bất công, bị kỳ thị, bị đe dọa bóc lột, lừa dối chèn ép, bị tuyên truyền đầu độc dưới nhiều hình thức…vẫn hằng luôn xảy ra trên thế giới vào mọi thời điểm.

3. Năm chặng đường sự mừng thuật lạ việc Chúa Giêsu phục sinh sống lại sau khi chết, việc Chúa Giêsu trở về trời, Đức Chúa Thánh Thần, Đấng là nguồn an ủi, hiện xuống, Đức Mẹ Maria được Chúa đưa về trời, Đức Mẹ Maria được đưa về trời là sự thưởng công của Chúa cho Đức Mẹ.

Năm sự mừng đời Chúa Giêsu nói lên niềm vui mừng hy vọng cho con người chúng ta rồi cũng sẽ được cùng Chúa sống lại, như Đức Mẹ được Chúa thưởng công cho về trời sống bên Ngài, khi quãng đời đau thương khổ ải ở trần gian qua đi.

Đây không phải là sự an ủi rẻ tiển hay dỗ trẻ con. Nhưng đó là điều nói lên gía trị linh thiêng cho đời sống. Gía trị đó là niềm hy vọng. Gía trị đó là đời sống không chỉ có thân xác chết là hết là rơi vào hư vô, nhưng con người còn có phần tâm linh linh hồn linh thiêng nữa, và được Thiên Chúa cứu chuộc, cho được cùng sống lại phục sinh với Chúa Giêsu Kitô.

4. Tháng 10.2002 Thánh giáo hoàng Gioan Phaolo II., khi còn đương quyền giáo hoàng, đã thiết lập „năm lần chuỗi mân côi", và đồng thời ngài cũng đã lập thêm năm sự sáng vào việc suy niệm lần chuỗi mân côi.

Năm chặng đường sự sáng lần theo cuộc đời giảng đạo của Chúa Giêsu từ lúc Ngài chịu phép Rửa ở sông Giordan, Chúa Giêsu làm phép lạ cho nước hóa thành rượu ở tiệc cưới Cana, Chúa Giêsu rao giảng nước trời và ơn thống hối, Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor và Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể.

Năm chặng của năm sự sáng đời rao giảng nước trời của Chúa Giêsu giúp ta nhớ đến những ân đức Chúa Giêsu đã thực hiện cho đời sống thiêng liêng con người, nhất là bí tích Thánh Thể, một nguồn ơn nuôi sống đức tin tâm hồn người tín hữu Chúa Kitô.

 

Đức Giáo Hoàng nghỉ hưu Benedictô XVI đã có suy niệm về kinh chuỗi mân côi là lời cầu nguyện quy hướng về Chúa Giêsu Kitô theo sát những biến chuyển diễn tả trong Kinh Thánh. Đọc kinh lần chuỗi mân côi là cách thế cầu nguyện của nọi người tín hữu Chúa Kito đang trên con đường lữ hành theo chân Chúa.

Lần chuỗi đọc kinh mân côi là lời cầu nguyện xin ơn bằng an cho đời sống mỗi người, cho gia đình mình và cho hòa bình trên thế giới.

Kinh mân côi là kinh cầu nguyện bình dân đại chúng từ hàng thế kỷ nay trong nếp sống đạo đức của người tín hữu Chúa Giêsu Kitô. Người tín hữu Công Giáo đọc kinh mân côi, kêu xin Chúa ban ân đức cứu giúp nhờ lời bầu cử của Đức Mẹ trong mọi hoàn cảnh đời sống, nhất là trong lúc gặp hoàn cảnh khó khăn bị đe dọa sức khoẻ thể lý cũng như tinh thần.

Bệnh đại dịch Corona từ những tháng ngày qua lây lan đe dọa sức khoẻ đời sống nhân lọai, phá đổ làm đảo lộn mọi chương trình sinh hoạt đạo giáo lẫn văn hóa chính trị kinh tế trong nếp sống xã hội, gây ra tình trạng ngăn chia xa cách giữa con người với nhau.

Lời kêu cầu qua việc đọc kinh mân côi là phương thức tinh thần xin ân đức của Chúa, nguồn ơn chữa lành và an ủi rất cần thiết trong cơn khủng hoảng lúc này.

                                                                  Lễ Đức Mẹ Mân Côi, 07.10.20

                                  

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2020

 

SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN XXVII THƯỜNG NIÊN 

CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN A

KÍNH TRỌNG THỂ ĐỨC MẸ MÂN CÔI

Lc 1,26-38 

Trong toàn thể nhân loại, chắc hẳn không có ai được TC ưu ái ban tặng ân phúc trọng đại cho bằng Đức Maria.  Ý thức điều đó và xác tín vào nền tảng Thánh kinh, Giáo hội hằng tôn kính và dành tặng cho Đức Mẹ nhiều tước hiệu cao quý…

Bước vào tháng 10, GH ưu ái dành một ngày Chúa nhật đầu tháng để tưởng nhớ và mừng kính trọng thể lễ Đức Mẹ, với tước hiệu “Mẹ Mân Côi”.

Sở dĩ có ngày lễ hôm nay là vì liên hệ đến một biến cố quan trọng trong dòng lịch sử Giáo Hội. Đó là sự kiện vua Hồi giáo đem một đại quân đông đảo và hùng mạnh hướng thẳng về La Mã, với lời thề sẽ san bằng đền thờ thánh Phêrô và biến nơi đây thành một chuồng ngựa.

Bấy giờ GH rất lo lắng và sợ hãi. Bởi vì với quân đội ít ỏi, khí giới thì thô sơ, lại không có kinh nghiệm tác chiến thì làm sao kháng cự lại với quân Hồi giáo hùng mạnh. Tin tưởng vào sự che chở của Đức Mẹ nên GH đã kêu gọi toàn thể tín hữu lần chuỗi Mân Côi. Nhờ đó mà đạo binh Công giáo đã ngăn chặn được bước tiến thần tốc của quân Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ, và đã giành được chiến thắng tại vịnh Lépante, vào ngày 07/10/1571.

Nhận ra cuộc chiến thắng lạ lùng ấy là nhờ ơn ban của Mẹ qua việc lần chuỗi Mân Côi. Để ghi nhớ công ơn của Đức Mẹ Đức Thánh Cha Piô V đã dạy các tín hữu rước kiệu Đức Mẹ và chọn ngày 7 tháng 10 làm lễ kỷ niệm Đức Mẹ Chiến thắng, sau này được thánh Giáo hoàng Gio-an XXIII đổi thành lễ Đức Mẹ Mân Côi (1960).

Ngày nay mỗi khi kính nhớ lễ Đức Mẹ Mân Côi, Giáo hội không nhằm nhắc lại biến cố chiến thắng ấy, cho bằng mời gọi con cái GH tích cực khám phá lại vai trò vị thế của Đức Maria trong mầu nhiệm cứu độ; và qua đó cũng muốn nhắc nhở các tín hữu về sức mạnh phi thường của Kinh Mân Côi.

1. Vai trò vị thế của Mẹ Maria.

Nhìn lại lịch sử cứu độ, qua lăng kính của Thánh kinh, chúng ta biết được công trình sáng tạo đầu tiên của Thiên Chúa đã bị phá vỡ, do tội lỗi nguyên tổ. Nhưng Thiên Chúa không muốn công trình tốt đẹp Ngài đã tạo dựng bị hủy diệt đi. Nên ngay sau khi nguyên tổ phạm tội, TC liền hứa ban Đấng Cứu Thế. Đấng ấy sẽ được sinh ra bởi một người phụ nữ. Đấng ấy sẽ tái tạo lại công trình sáng tạo của TC xinh đẹp như thuở ban đầu. 

Và khi thời gian đã đến hồi viên mãn, lời hứa ấy bắt đầu được thực hiện, khi TC sai sứ thần Gabriel đến với cô thôn nữ làng quê Nazareth, có tên là Maria, để mời gọi cô cộng tác vào chương trình cứu độ của Người.

Cũng giống như bao cô gái làng quê khác, thiếu nữ Maria đã từng ấp ủ bao mộng ước và dự phóng cho đời mình. Nhưng giờ đây, Thiên Chúa lại xen vào và đã khuấy động đời cô. Người đã làm thay đổi toàn bộ những ước vọng dự hướng tương lai của cô. 

Tuy nhiên sau khi biết được ý định của TC, thiếu nữ Maria đã sẵn lòng thân thưa với sứ Thần bằng hai tiếng "xin vâng" thật đơn sơ, nhẹ nhàng nhưng thật sâu lắng và đầy niềm tín thác. Chính nhờ bởi lời “xin vâng” tuy đơn sơ  ấy mà ơn cứu độ của TC đã đến được với nhân loại.

Với biến cố Ngôi Lời TC đã nhập thể trong cung lòng Đức Maria do quyền năng của CTT, Đức Maria đã trở thành Mẹ TC. Xứng đáng đón nhận ơn phúc của TC theo như lời chào của Sứ Thần: "Kính chào Bà đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng  được chúc phúc giữa các người phụ nữ." (Lc 1,28). Qủa vậy, có ơn phước nào lớn hơn ơn phước được làm Mẹ TC và được TC ở cùng.

Vì là Mẹ Ngôi Hai TC làm người nên Đức Maria rất có uy thế trước mặt TC. Nhưng Mẹ Maria cũng là Mẹ GH và là Mẹ của mỗi người chúng ta, nhờ bởi lời trăn trối thánh Gioan cho Đức Mẹ và Đức Mẹ cho thánh Gioan của Chúa Giêsu dưới chân thập giá.

Là con cái của Đức Mẹ nên chúng ta hãy tin tưởng vào tình thương đỡ nâng của Mẹ, bởi vì: “xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Đức Mẹ mà Đức Mẹ từ bỏ chẳng nhậm lời”. Tin tưởng như thế, chúng ta cần phải tỏ lòng yêu mến, tôn kính và vâng lời Mẹ chỉ dạy với tất cả tâm tình của người con thảo.

2. Sức mạnh của tràng chuỗi Mân Côi.

Mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi hôm nay, GH còn nhằm hướng chúng ta đến cuộc chiến khác, đó là cuộc chiến với tội lỗi do ma quỷ, thế gian và xác thịt gây ra. Nếu xưa kia đạo quân thập tự Công giáo, nhờ vào sức mạnh của việc lần chuỗi Mân côi mà chiến thắng quân Hồi giáo hùng mạnh, thì ngày nay với trận chiến ba thù, chúng ta cần phải vâng nghe lời chỉ dạy của Đức Mẹ mà siêng năng lần hạt Mân Côi. Đó là phương thế mà Đức Mẹ chỉ dạy chúng ta mỗi khi hiện ra trên ngọn cây Sồi với ba trẻ chăn cừu là: Giaxinta, Phanxicô và Lucia, tại làng quê hẻo lánh Fatima, nước Bồ Đào Nha:

(1) Ăn năn đền tội cải thiện đời sống.

(2) Tôn sùng Mẫu Tâm.

(3) Siêng năng lần chuỗi Mân Côi.

Ước gì mỗi người chúng ta tin tưởng vào sức mạnh thần thiêng của kinh Mân côi để trân quý và siêng năng lần chuỗi mỗi ngày, nhờ đó ta mới có thể vượt thắng được những cám dỗ của ba thù (ma quỷ, thế gian và xác thịt)..

Xin Chúa cũng cho chúng ta biết gắn kết đời mình với Mẹ Maria qua lời kinh mân côi, để cùng với Mẹ ta dâng lên Chúa lời tôn vinh, chúc tụng và ngợi khen vì biết bao điều cao cả Người đã làm trên cuộc đời chúng ta. Và đừng quên hiệp thông cùng với GH toàn cầu mà nguyện xin "Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con khi nay và trong giờ lâm tử". Amen.

 

Thứ hai: Lc 10,25-37

Thánh Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa là Tình Yêu”. Tình yêu của Chúa là nhưng không và phổ quát dành cho hết mọi người. Tình thương ấy đã được Chúa Giêsu hướng dẫn cách cụ thể cho người thông luật trong bài tin mừng hôm nay.

 Với cái nhìn định kiến và loại trừ, người thông luật như muốn giới hạn tình yêu của mình nơi những người cùng màu da, chủng tộc và tôn giáo. Nhưng qua câu chuyện người Sa-ma-ri tốt lành, Chúa Giêsu chỉ cho ông biết, người thân cận là tất cả mọi người. Bởi lẽ, mọi người đều được Chúa dựng nên giống hình ảnh Ngài, nên tất cả đều được Thiên Chúa yêu thương cứu độ, không loại trừ bất cứ một ai. Do đó, để xứng đáng có được sự sống đời đời làm gia nghiệp, thì phải thực thi giới luật tình yêu nhưng không và phổ quát “như Chúa đã Yêu”, qua việc tận tâm giúp đỡ mọi người, nhất là những người đang gặp hoạn nạn không phân biệt người đó là ai, theo mẫu gương của người Sa-ma-ri nhân hậu.

Xin Chúa uốn lòng chúng ta giống như trái tim Chúa, để chúng ta biết chạnh lòng trước những nổi đau của đồng loại mà tận tâm giúp đỡ. Nhờ thế chúng ta mới hy vọng có được sự sống đời đời làm gia nghiệp.

 

Thứ ba: Lc 10,38-42

Tin mừng hôm nay vẽ lên một bức tranh trong sáng với chân dung của hai người thiếu nữ tuyệt đẹp:

   + Cô Mácta nồng nhiệt đón rước Chúa Giêsu và các môn đệ vào nhà, và tất bật hy sinh chuẩn bị bữa ăn thịnh soạn cho khách quý. 

   + Cô Maria thì tế nhị và sâu lắng trong cung cách tiếp đón Chúa Giêsu, bằng việc ngồi bên chân Chúa để lắng nghe lời Người dạy bảo.  

Cả hai đều thể hiện những nét đẹp độc đáo của người phụ nữ: Hiếu khách, tận tâm hy sinh phục vụ, cũng như rất tinh tế và thân tình trong khiêm tốn lắng nghe lời dạy của Chúa.

 Xin Chúa cho chúng ta biết tôn trọng những nét đẹp tuyệt vời mà Chúa ban tặng nơi mỗi người. Đồng thời cũng biết tích cực phát huy những nét đẹp nơi bản thân để góp phần tô điểm cho cuộc sống này mỗi ngày thêm tươi đẹp hơn.

 

Thứ tư:  ĐỨC MẸ MÂN CÔI (Lc 1,26-38)

(Theo ý tưởng của cha Carolo tổng đại diện-giám đốc ĐCV St Qúy, Gp Cần Thơ)

Tin mừng hôm nay thuật lại biến cố Thiên Thần Gabriel truyền tin cho Đức Maria, khởi đầu cho chương trình cứu độ đầy yêu thương của Thiên Chúa dành cho Đức Maria cách riêng và nhân loại cách chung. Để thực hiện chương trình cứu độ, Thiên Chúa đã chọn gọi Đức Maria cộng tác trong việc cưu mang và sinh hạ Đấng Cứu Thế và Đức Maria đã đáp lời bằng hai tiếng “xin vâng”. 

Mỗi khi đọc “kinh kính mừng” là chúng ta nhắc lại lời sứ thần Gabriel truyền tin cho Đức Maria khi xưa: “kính mừng Maria đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng bà, bà có phước lạ hơn mọi người nữ….” .

Lời truyền tin này là một lời chào chúc quý giá và mang giá trị hết sức cao cả. Bởi lẽ, có ơn phúc nào cao lớn cho bằng ơn phúc được Thiên Chúa ở cùng (chính Chúa là nguồn mọi ơn phúc và Đấng ban ơn phúc. Được Thiên Chúa ở cùng thì có mọi ơn phúc nơi mình rồi). Và có vinh dự nào lớn bằng vinh dự được Thiên Chúa ưu ái chọn làm Mẹ Thiên Chúa. (Được chọn làm mẹ vua đã là vinh dự và ơn phúc quá lớn rồi huống chi là Mẹ Vua Trời).

Ý thức sứ mạng cao quý ấy trong vui mừng khôn tả vượt trí hiểu, Đức Maria đã bối rối và tự hỏi lời chào ấy có ý nghĩa như thế nào? Nhưng sau khi được Thiên Thần giải thích, Đức Maria biết đó là ý định Thiên Chúa, dù không hiểu hết, nhưng Đức Maria vẫn khiêm tốn ngoan ngoãn vâng nghe.

Có nhiều điều xảy ra trong đời sống vượt ngoài trí hiểu và khả năng chúng ta, chúng ta cảm thấy không thể thực hiện được, nhưng“đối với Thiên Chúa thì mọi chuyện đều có thể”. Từ không, Chúa đã sáng tạo nên vũ trụ vạn vật chỉ bằng lời phán truyền. Từ bùn đất, Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa. Bằng quyền năng,  Thiên Chúa đã làm cho bà Isave cao niên và son sẻ mang thai và sinh con. Nên việc cưu mang và hạ sinh Đấng Cứu Thế vẫn đồng trinh đối với Đức Maria là chuyện bình thường. Do đó, nếu ta biết tin tưởng và khiêm tốn để Chúa hành động nơi cuộc đời của ta như Đức Maria, thì Chúa cũng sẽ làm những điều kì diệu trên đời ta.

Tuy dẫu Thiên Chúa quyền năng làm được mọi sự. Nhưng Thiên Chúa lại yêu thích con người cộng tác với Chúa.

Để chọn gọi dân riêng, Chúa đã mời gọi tổ phụ Abraham cộng tác, và Abraham đã vâng lời bỏ xứ sở ra đi theo ý định Thiên Chúa. Thế là một dân riêng của Chúa đã hình thành.

Để cứu dân tộc Israel ra khỏi kiếp nô lệ bên Ai cập, Thiên Chúa đã mời gọi Môsê cộng tác, dù sợ hãi về sự kém cỏi của mình, Môsê vẫn vâng phục  ý muốn của Chúa. Thế là cuộc giải phóng đã hoàn tất.

Để cứu độ nhân loại, Thiên Chúa chọn Đức Maria, một người thiếu nữ bình thường, nghèo khó làm mẹ Đấng Cứu Thế và Mẹ đã ngoan ngoãn tin tưởng vâng nghe. Thế là chương trình cứu độ từ ngàn đời của Thiên Chúa được thực hiện.

Để cứu độ mỗi chúng ta, Chúa cũng mời gọi chúng ta hợp tác với Chúa. Như thánh Augustinô đã nói: “Chúa dựng nên con Chúa không cần con, nhưng để cứ độ con Chúa cần con cộng tác”. 

Xin cho chúng ta biết noi gương Đức Maria biết khiêm tốn và ngoan ngoãn vâng theo thánh ý Chúa trong mọi hoàn cảnh mà tích cực cộng tác với ơn cứu độ của Chúa để cứu chính mình và qua ta ơn cứu độ đến được với tha nhân.

 

Thứ năm:  Lc 11,5-13

Nếu tin mừng hôm qua, Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ và chúng ta biết phải cầu nguyện như thế nào cho đẹp lòng Chúa; thì tin mừng hôm nay, Chúa lại mong muốn các môn đệ và chúng ta hãy tin tưởng vào tình thương của Người mà kiên trì cầu nguyện.

Bằng hai hình ảnh rất thực tế: Người bạn hàng xóm cho bạn mình vay mượn 3 chiếc bánh giữa đêm khuya, cho dẫu không vì tình bạn mà là vì sự quấy rầy; và người cha sẵn sàng cho con cái mình những thứ tốt nhất theo như lời nó kêu xin. Chúa Giêsu như cũng muốn mời gọi, khích lệ chúng ta là con cái Người hãy tin tưởng, cậy trông và phó thác vào tình thương quan phòng của Chúa. Đừng bao giờ nản lòng, chán chí bỏ cuộc hay phàn nàn kêu trách Chúa khi thấy những lời mình cầu xin chưa được Chúa nhậm lời. Nhưng cần phải xét lại xem điều mình cầu xin có đẹp ý Chúa và thật sự có hữu ích cho cuộc sống và phần rỗi linh hồn của mình chưa?

Nên biết rằng trước một lời cầu nguyện sẽ luôn có 3 trường hợp xảy ra: Một là Chúa sẽ nhận lời nếu đó là lời cầu xin đẹp lòng Chúa và hữu ích cho ta. Hai là lời cầu xin của ta chưa tha thiết thiếu niềm tin hay chưa đúng thời điểm nên Chúa chưa ban ơn. Ba là lời cầu xin của ta không đẹp lòng Chúa và nguy hại đến phần rỗi đời đời của ta nên Chúa không nhậm lời. 

Nhưng hãy luôn tin rằng trong mọi trường hợp Chúa luôn lắng nghe và thấu suốt sâu xa vô cùng mọi điều chúng ta cầu xin. Nên Người sẽ chọn lựa những điều thiện hảo nhất theo sự khôn ngoan của Người mà ban tặng cho chúng ta.

Xin Chúa cho chúng ta luôn biết tin tưởng và tín thác vào tình thương của Chúa mà kiên trì cầu nguyện với tất cả tâm tình của người con thảo. Cũng như sẵn sàng đón nhận mọi biến cố vui buồn, thành công hay thất bại...xảy đến trong cuộc sống, với niềm xác tín vững vàng vào những điều tuyệt hảo mà Chúa đang thực hiện trên cuộc đời mình. 

 

Thứ sáu: Lc 11,15-26

 Suy niệm 1:

Với phép lạ trục xuất quỷ ra khỏi một người bị nó ám hại mà Tin mừng hôm nay thuật lại, vừa cho thấy uy quyền của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu; vừa cho thấy dấu chỉ của“Nước Thiên Chúa đã đến giữa các ngươi rồi”. Nhưng để có thể đón nhận nước Thiên Chúa đến nơi Đức Giêsu thì trên hết con người cần phải loại bỏ tính kiêu căng và lòng ghen tỵ. Bởi lòng ghen tị khiến cho đôi mắt chúng ta không còn khả năng nhìn thấy sự thật. Với đầu óc kiêu căng, tự mãn đẩy chúng ta đến cái nhìn hẹp hòi chủ quan nên dễ dàng phủ nhận những ý tưởng và việc làm tốt đẹp nơi người khác, giống như một số người Do Thái vì ghen tị và kiêu căng nên đã giải thích sai lạc và ác ý về phép lạ trừ quỷ của Chúa Giêsu, nhằm hạ bệ Người.

 Xin cho chúng ta biết loại trừ tính kiêu căng, ghen tỵ ra khỏi tâm hồn, nhờ đó ta mới có được cái nhìn sáng suốt của đức tin mà nhận ra sự hiện diện của Chúa qua mọi biến cố trong cuộc đời. Nhất là xin cho chúng ta biết sám hối, chay tịnh cỏi lòng và chu toàn tốt mọi nhiệm vụ Chúa trao phó, để chuẩn bị tâm hồn xứng hợp cho ngày của Thiên Chúa.

 

Suy niệm 2:

Đứng trước một sự việc, biến cố, người ta có những phản ứng khác nhau tuỳ theo cái nhìn của mỗi người. Đồng thuận hay bất đồng; ủng hộ hay chống đối; tin nhận hay khướt từ ... Đó cũng là phản ứng lẫn lộn của đám đông dân chúng khi chứng kiến phép lạ trừ quỷ câm của Chúa Giêsu mà tin mừng hôm nay nói đến. Xin cho chúng ta luôn có cái nhìn ngay thẳng và trong sáng để nhận ra sự thật trong mọi biến cố xảy đến trong cuộc sống.

Tin mừng hôm nay cho biết đám đông dân chúng cùng chứng kiến một phép lạ, nhưng họ lại có những phản ứng khác nhau:

1. Đa phần thì lấy làm ngạc nhiên.

2. Một số người thì cho rằng: "Ông ấy dựa thế quỷ vương Beelzebul mà trừ quỷ."

3. Kẻ khác thì lại muốn thử Người, nên đã đòi hỏi Người làm một dấu lạ từ trời.

Trước những phản ứng ấy, cách riêng với những người không tin, Chúa Giêsu phải kiên nhẫn giải thích cho họ hiểu rõ hai điều:

- Thứ nhất: “Đòan kết là sức mạnh và là điều kiện quan trọng để sinh tồn”. Vì thế mà Satan không thể nào chống đối lẫn nhau. "Nước nào tự chia rẽ thì sẽ điêu tàn, nhà nào tự chia rẽ thì sẽ đổ xuống. Nếu Satan cũng tự chia rẽ chống lại chính mình, thì nước nó tồn tại sao được?”. Bởi thế cho rằng Chúa Giêsu dựa thế Beelzebul mà trừ quỷ câm là không đúng!.

- Thứ hai: Để tạo nên sức mạnh chống lại Thiên Chúa và hãm hại con người, ma quỷ không ngu dại gì mà làm hại thuộc hạ của nó. Cho nên không thể nào cho rằng việc Đức Giêsu trừ quỷ con là dựa vào thế của quỷ vương được, mà phải đến từ Thiên Chúa. Bởi trong thế giới này chỉ một mình Thiên Chúa mới có quyền trên ma quỷ.

Nhưng do đâu mà một số người, chắc hẳn là những người Biệt Phái lại không tin nhận phép lạ Chúa Giêsu làm là do quyền năng Thiên Chúa? Thưa đó là vì họ ganh tỵ và thù ghét Chúa Giêsu.

Lòng ganh tỵ làm cho họ trở nên mù quáng, không còn khả năng nhận ra chân giá trị của sự việc và sự thật về con người nữa. Cũng thế, khi nuôi dưỡng sự thù ghét trong lòng nên họ đã tìm đủ mọi cách để nói xấu, hạ bệ và hãm hại Chúa Giêsu. Nhưng sự thật là sự thật, không ai có thể chối cải được. Cố tình không đón nhận chân lý chỉ gây thiệt hại và làm đau khổ cho chính bản thân mình mà thôi.

Câu chuyện sau đây một phần nói lên điều đó: Có một con đại bàng ganh tị với một con đại bàng khác vì con này bay cao hơn nó. Một hôm con đại bàng ganh tị gặp một xạ thủ. Nó xúi anh bắn hạ đối thủ của nó. Chàng xạ thủ đáp: “Được. Nhưng tôi không có tên.” Con đại bàng nhổ một cọng lông cánh đưa cho chàng xạ thủ làm tên. Nhưng chàng bắn hụt. Vì quyết tâm hại đối thủ của mình, con đại bàng ganh tị lại nhổ thêm một cọng nữa, rồi một cọng nữa... cho tới khi hai cánh nhỏ trụi nhẵn. Nó không bay được nữa. Chàng xạ thủ không bắn được con kia nên bắt lấy con đại bàng trụi cánh về làm thịt. Nếu bạn ganh tị muốn hại ai thì rốt cuộc bạn chỉ tổ hại chính bản thân mình.

Xin Chúa đừng để chúng con phải mắc phải chứng bệnh đui mù tâm hồn do virus của ghen tỵ và hận thù gây ra. Nhưng ban cho chúng con có được tâm hồn đơn sơ, trong sáng và hiền hòa để chúng con có được cái nhìn đúng đắn và đánh giá tích cực về mọi sự việc và con người. 

 

Thứ bảy: Lc 11, 27-28

Suy niệm 1:

Kinh nghĩa đức tin mà cộng đoàn chúng ta đọc hàng tuần, GH dạy rằng: “…đến ngày tận thế xác loài người ta sẽ sống lại mà chịu phán xét; kẻ lành lên thiên đàng hưởng phước đời đời, kẻ dữ sa hoả ngục chịu phạt vô cùng”.

Như thế người kitô hữu chúng ta luôn tin rằng ngày tận thế, Thiên Chúa sẽ đến và phán xét tất cả mọi người. Ngày ấy, người công chính sẽ được sống hạnh phúc với Thiên Chúa, còn kẻ gian ác sẽ bị tiêu diệt muôn đời.

Nhưng điều quan trọng là làm thế nào để ngày đó sẽ là ngày an vui và hạnh phúc cho chúng ta? Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu chỉ cho ta biết phương cách để chuẩn bị cho ngày ấy đó là: phải lắng nghe và thi hành Thánh Ý Chúa.

Hạnh phúc của chúng ta không hệ tại bởi chúng ta "là" hay "làm" người kitô hữu, nhưng trên hết và quan trọng nhất là chúng ta có lắng nghe và thi hành lời Chúa hay không?

Đức Maria đã được Chúa ban thưởng hạnh phúc nước trời và nhiều đặc ân cao trọng khác, bởi lẽ Mẹ đã luôn khiêm tốn lắng nghe và thi hành thánh ý Chúa trong mọi cảnh huống của cuộc đời.

Lạy Chúa, ai trong chúng con cũng muốn thoát khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa và khao khát có được hạnh phúc nước trời làm gia nghiệp. Xin cho chúng con biết noi gương Mẹ Maria luôn sống khiêm tốn vâng nghe và thi hành ý Chúa, để ngày Chúa đến không phải là một ngày kinh hoàng nhưng là ngày an vui và hạnh phúc cho chúng con.

 

Suy niệm 2:

Đời người ai cũng mong muốn có được hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc không phải là cái gì để đi tìm mà nó chỉ xuất hiện khi ta làm một điều gì đó. Như thế muốn có hạnh phúc ta phải làm gì? Đó là điều mà lời Chúa hôm nay sẽ chỉ cho chúng ta biết. Vậy chúng ta hãy để tâm lắng nghe lời Chúa dạy hôm nay và cố gắng đem ra thực hành thì ta sẽ đạt được điều mà tất chúng ta mong muốn.

Người Việt chúng ta có những câu nói rất chí lý nhằm diễn tả sự gắn kết máu thịt giữa cha mẹ và con cái như sau: “Con cái là triều thiên của cha mẹ” hay “Con dại cái mang”...; rộng hơn là mối liên hệ giữa dòng tộc với nhau, như người đời thường nói: “Một người làm quan cả họ được nhờ”.

Đúng vậy, trên đời này có lẽ không có mối liên hệ nào khắn khít cho bằng mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái; cũng như dòng tộc với nhau. Chính vì thế mà niềm vui của người con cũng chính là niềm vui của cha mẹ và ngược lại. Và công danh, sự nghiệp thành đạt của người con cũng chính là niềm vinh dự và hạnh phúc của cha mẹ.

Rất có thể đã từng trải nghiệm điều đó, nên một người phụ nữ đã không ngần ngại cất cao lời ngợi khen cho người mẹ nào đã cưu mang và hạ sinh Thầy Giêsu vì Thầy quá tài giỏi và uy quyền “Phúc cho dạ đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú”. Đúng vậy, với cái nhìn tự nhiên có người mẹ nào lại không cảm thấy được hạnh phúc khi nhìn thấy con mình thành đạt, được mọi người ngưỡng mộ và kính trọng.

Nhưng Chúa Giêsu không muốn người phụ nữ ấy và dân chúng dừng lại ở cái nhìn tự nhiên, chỉ kiếm tìm hạnh phúc mau qua ở đời nhờ vào mối liên hệ huyết thống, mà Người còn muốn hướng họ đến cái nhìn đức tin để nhận ra đâu mới là hạnh phúc thật có gí trị bền vững nhờ vào mối liên hệ thiêng liêng giữa con người với TC, là nguồn mọi ơn phúc. Do vậy Chúa Giêsu mới phán rằng: “Những ai nghe và giữ lời TC thì có phúc hơn”.

Khi nói những điều đó, chắc chắn Chúa Giêsu không hề xem thường hạnh phúc ở đời này; Người cũng không hề chê trách hay hạ thấp vị thế của Mẹ Maria. Trái lại, Người muốn gián tiếp ca ngợi và tôn vinh mẫu gương tuyệt hảo của Đức Mẹ. Bởi hơn ai hết Đức Maria lúc nào cũng khiêm tốn để tâm lắng nghe "Còn Maria thì ghi nhớ tất cả những việc đó và suy niệm trong lòng." (Lc 2,19) và sẵn sàng thực thi thánh ý của TC “Này Tôi là tôi tớ Chúa. Tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền” (Lc 1,38). Nhờ đó mà Đức Maria đã được TC trọng thưởng niềm hạnh phúc trọn vẹn trong nước trời. Mẹ thật xứng đáng được ca ngợi qua muôn thế hệ, như tâm tình mà Đức Mẹ cất lên trong lời kinh Magificat: "Vì Chúa đã trông đến sự thấp hèn tôi tớ Chúa, vậy từ nay muôn đời sẽ khen tôi có phước" (Lc 1,48).

Xin Chúa cho chúng ta cũng biết khiêm tốn mở tai để lắng nghe lời Chúa, mở lòng để cho lời Chúa thấm nhập và rồi can đảm mở đôi tay ra để phục vụ mọi người, nhất là những người trong gia đình và nghèo khổ với niềm tin yêu và phó thác theo mẫu gương của Mẹ Maria. Được vậy, ta mới có được hạnh phúc đời này, nhất là sẽ được Chúa ban thưởng hạnh phúc trọn vẹn ở đời sau. Amen.

  KỊCH BẢN CHỤP ẢNH, GHI HÌNH   BAN TRUYỀN THÔNG - TƯ LIỆU   I. PHÂN CÔNG NỘI BỘ Để không chồng chéo, con đề xuất chia như sau: Pl...