Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH

Chúa chăn chiên lành

SUY TƯ VỀ NGƯỜI MỤC TỬ
( Ga 10,1-17)

Đoạn tin mừng này, Chúa Giêsu tự giới thiệu Ngài là vị mục tử nhân lành với những đặc tính sau:
Mục tử nhân lành “hy sinh” mạng sống mình cho đoàn chiên ( x Ga 10,11).
Mục tử nhân lành “biết” chiên của mình ( x Ga 10,14).
Mục tử nhân lành “ lo” cho chiên được sống dồi dào ( x Ga 10, 10).
Mục tử nhân lành “ tìm” chiên lạc và đưa chúng vào ràn. ( x Ga 10, 16).
Trong những đặc tính trên, có hai đặc tính nổi bật mà người mục tử cần phải có. Đó là “biết” chiên và “hy sinh” vì đoàn chiêm mình.

Người chăn chiên tốt lành phải là người “biết” rõ chiên mình
Biết từng con chiên một trong đàn. Biết khi nào chiên đói để cho ăn; khi nào chiến khát để cho uống. Biết con chiên nào lạc đàn để tìm về; con nào gặp nguy hiểm để tiếp cứu.
Người mục tử nhân lành còn biết cảm thương những con chiên đang trong tình trạng mệt mỏi để dắt dìu; biết yêu mến những chiên bệnh tật để tìm cách chữa trị.

Người chăn chiên tốt lành còn là người luôn sẵn sàng “hy sinh” cho đoàn chiên.
Hy sinh công sức, thời giờ để tìm đồng cỏ xanh tốt, tìm nguồn nuớc mát trong lành cho chiên uống.
Không quản khó nhọc tắm rửa cho chiên được sạch. Không ngại dậy sớm đưa chiên đi ăn, tối đưa chiên về nghỉ và hy sinh giấc ngủ canh giữ chu đáo đoàn chiên không để chúng hoảng sợ khi đối mặt với kẻ thù.
Người chăn chiên lành còn sẵn sàng liều mạng sống để chống lại thú dữ, kẻ trộm để bảo vệ cho đàn chiên mình được an toàn.

Đức Giêsu chính là vị mục tử nhân lành vì Ngài đã thi hành nhiệm vụ chăn chiên cách tuyệt hảo. Vì thế Ngài không ngần ngại tự xưng mình là Đấng Mục Tử nhân lành, chẳng những cho dân Israel mà cho toàn thể nhân loại ( x Ga 10,11-16). “Tôi chính là mục tử nhân lành, mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên” ( Ga 10,11). “ Tôi chính là mục tử nhân lành, Tôi biết chiên của Tôi và chiên Tôi biết Tôi”. (Ga 10, 15).

Linh mục là người mục tử.

Nhờ bí tích truyền chức, linh mục trở nên “Alter Christus”  và được tham dự vào đức ái mục tử, tự hiến bản thân mình để phục vụ Hội Thánh theo gương hiến thân của Đức Kitô.
Như Đức Kitô đã cảm thương với dân chúng khi nhọc mệt, đuối sức ( x. Mt 9, 35-36; Ga 6, 15). Linh mục cũng phải biểu lộ lòng cảm thương của mình cách chân thành và cụ thể đối với mọi người mà mình gặp gỡ “ anh em hãy vui với người vui, khóc với người khóc” ( Rm 12, 15).
Như Đức Kitô đã yêu mến những con chiên lạc đàn và vui mừng khi tìm gặp ( x. Mt 18, 12-14; Ga 8,11). Linh mục cũng phải tìm đến những ngưuời đang sống trong cô đơn thất vọng; những người tội lỗi, nhất là những người không mấy cảm tình với Giáo Hội… vì họ cũng là đối tượng của lòng thương xót Thiên Chúa. “ Con Người đến để tìm và cứu chữa những gì đã hư mất.” ( Lc 19,10).
Như Đức Kitô hằng biết rõ và gọi tên từng người một (x. Ga 10, 3). Linh mục phải nỗ lực quan tâm và phục vụ từng người trong họ đạo mình, không loại trừ một ai.
Như Đức Kitô đã hy sinh hiến thân vì tình yêu nhân loại ( x Ga 10, 15). Linh mục cũng hãy yêu thương chăm sóc cộng đoàn mà Chúa trao phó. Vị người mục tử nhân lành không chỉ dẫn chiên đến đồng cỏ xanh tươi và suối mát ( x TV 23,22) mà còn phải nuôi dưỡng đàn chiên bằng chính sự sống mình qua việc hiến tế theo gương Chúa Giêsu. ( x. Ga 6, 56). Để có thể nói rằng: “ Ta đến để chiên được sống và sống dồi dào” ( Ga 10,10).

Như ngọn nến cháy hao mòn theo tháng ngày để chiếu giãi ánh sáng; như hạt lúa mục nát để phát sinh sự sống mới. Linh mục cũng phải chấp nhận tiêu hao đời mình từng giây phút để phục vụ cộng đoàn dân Chúa.
Người linh mục giống Đức Kitô thì không trách khỏi qui luật “ vượt qua” (chết để được sống). ( x Ga 12, 25). Chính thánh Phanxicô Assisi cảm nghiệm quy luật này và đã thốt lên những lời nghịch lý trong bài ca bất hủ: “ Chính lúc hiến thân là khi được nhận lãnh… Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.
Nhưng để thực hiện được vai trò người mục tử nhân lành, linh mục phải có Đức Ái Mục Tử vì đó là nguyên lý và động lực thúc đẩy linh mục sống xứng danh vai trò mục tử của mình.
Lạy Chúa Giêsu là mục tử tối cao, chúng con là những linh mục bước theo Chúa trong vai trò người mục tử.
Xin cho trái tim con thuộc thuộc về Chúa và thuộc về mọi người.
Xin cho trái tim con biết yêu bằng tình yêu hiến dâng.
Xin cho trái tim con mở rộng đủ lớn để chứa mọi người và từng người một.
Xin cho con có trái tim của Chúa để con say mê Chúa và say mê con người.
Xin cho con luôn yêu Chúa để khi yêu Chúa con sẵn sàng hy sinh đời mình bảo vệ đoàn chiên và dẫn đưa đoàn chiên đến với Chúa là nguồn sống đích thực. Amen.

Chúa Nhật IV Phục Sinh
Mục tử nhân lành là một hình ảnh rất đẹp ở xứ Palestin. Danh xưng mục tử nhân lành không phải là tôn danh người ta gán cho Chúa Giêsu để ca tụng Ngài, nhưng đây chính là mạc khải của Chúa Giêsu cho biết Ngài là ai. Ngài là mục tử chính hiệu, mục tử thứ thiệt, mục tử nhân lành đúng nghĩa :
- Mục tử nhân lành là mục tử biết rõ đàn chiên :
Ngài biết rõ từng con chiên. Biết theo nghĩa Thánh kinh, tức là không phải chỉ biết trên lý thuyết, biết theo con số, nhưng là biết tường tận từng đặc điểm, từng tính cách của mỗi con chiên và Ngài có thể gọi tên từng con một, dẫu đàn chiên của Ngài là vô cùng đông đảo. Tương quan giữa Ngài và đàn chiên là rất gần gũi và mật thiết. Đàn chiên trở nên lẽ sống của Ngài.
Ngài gọi tên rồi đi trước dẫn đường cho đàn chiên theo sau. Ngài đi trước chứ không phải đi sau để “lùa”. Chiên đi sau cũng có nghĩa là chúng được Ngài cho tự do để có thể theo hoặc không theo Ngài. Ngài đi trước bằng lời nói, bằng việc làm. Ngài đi trước bằng gương sáng phục vụ cách tận tuỵ.
- Mục tử nhân lành là mục tử yêu thương đàn chiên :
Ngài không chăn dắt bằng quyền uy và bạo lực như những mục tử trong Cựu Ước. Ngài cũng không chăn dắt kiểu tắc trách, gặp chăng hay chớ như những kẻ chăn thuê. Ngài chăn dắt hoàn toàn bằng tình yêu và trách nhiệm. Tình yêu được thể hiện đặc biệt ở chổ : đối với những con chiên đau yếu, Ngài tận tuỵtận tình băng bó; những con chiên lạc đàn, Ngài tận lực kiếm tìm; những con chiên có nguy cơ làm mồi cho sói hùm, Ngài tận trung canh giữ… Ngài chưa thể an giấc, bao lâu còn những con chiên bị yếu đau, thương tích. Ngài chưa thể an phận, bao lâu còn những con chiên ngơ ngác lạc đàn. Ngài chưa thể an tâm, bao lâu còn những con chiên hoang đàng đùa giỡn trước nanh vuốt của ác thú. Mục tử nhân lành là thế, và nhất là Ngài còn sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên. chạy chữa; những con chiên thương tích, Ngài
- Mục tử nhân lành là mục tử hiến mạng vì đàn chiên :
Thường tình thì chủ chiên bắt các con chiên hiến lông, hiến thịt, hiến sữa và cả hiến mạng cho mình. Hiếm có trường hợp ngược lại. Đây là điểm khác biệt rõ nét giữa mục tử nhân lành và người chăn thuê. Chỉ có mục tử chính hiệu Giêsu nhân lành mới sẵn sàng tự nguyện hiến mạng cho đàn chiên. Ngài hiến mạng để bảo vệ sự hiệp nhất cho đàn chiên. Ngài hiến mạng để cho đàn chiên được sống và sống  dồi dào. Nói cách khác để đàn chiên có được sự hệp nhất và sự sống sung mãn, Chúa Giêsu đã phải trả bằng chính giá máu của mình. Đây là đỉnh cao của tình yêu mà Ngài dâng hiến cho đàn chiên.
Là những Kitô hữu, chúng ta được mời gọi trở nên những con chiên tốt lành của Chúa Kitô, Vị Mục Tử Nhân Lành, mục tử chính hiệu. Trở nên tốt lành qua hai tương quan tình yêu :
+ Tương quan với người mục tử : biết – nghe – đi theo. Biết mục tử của mình là Đấng đã yêu thương và hiến mạng sống vì mình. Biết qua Lời của Chúa, qua Phụng vụ các Bí tích, qua cầu nguyện…. Nghe theo tiếng người mục tử, tiếng mang lại hạnh phúc đời đời, chứ không nghe tiếng người lạ. Đi theo mục tử của mình, chứ không đi theo người lạ, kẻ trộm hay sói dữ. Nếu chiên mà nghe và đi theo người lạ thì sẽ bị lạc; nghe và đi theo kẻ trộm sẽ bị bắt; nghe và đi theo sói dữ sẽ bị ăn thịt. Chỉ khi biết nghe và đi theo chủ mình thì mới có sự sống đích thực. Vì chỉ có chủ chiên mới đưa đàn chiên tới những nơi có đồng cỏ xanh tươi, có suối nước mát lành.
+ Tương quan với các con chiên khác : hiệp nhất trong yêu thương, phục vụ trong quên mình. Biết, nghe và đi theo chủ chiên, con chiên cũng phải biết yêu thương hiệp nhất trong đàn chiên nữa. Chiên không thể cấu xé nhau, hay mạnh con nào con đó sống. Trái lại các con chiên khoẻ mạnh phải biết phục vụ nâng đỡ các con chiên ốm yếu theo gương của chủ mình. Sẽ không thể nào có một đàn chiên duy nhất, nếu các con chiên không hoà hợp với nhau, không yêu thương nâng đỡ nhau. Sẽ không thể nào trở nên gương sáng cho các con chiên khác không thuộc về đàn noi theo, nếu đàn chiên không biết hy sinh phục vụ lẫn nhau theo tinh thần của người mục tử nhân lành.
Trong ngày Chúa Nhật Chúa Chiên Lành hôm nay, chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì hồng ân được thuộc về đàn chiên của Người. Đồng thời hãy xin Chúa giúp mỗi người chúng ta luôn biết trung thành nghe và đi theo vị Mục Tử Tuyệt Hảo là chính Đức Giêsu Kitô, qua các các vị chủ chăn đại diện cho Ngài ở trần gian. Xin Chúa cũng gởi thêm cho chúng ta nhiều mục tử nhân hậu biết noi gương Đức Kitô : hết lòng yêu thương và sẵn lòng hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên được Chúa trao phó. Amen.
Lm. Giuse Nguyễn Thành Long

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2011

SỐNG LỜI CHÚA TUẦN III PHỤC SINH A

Thứ hai  (Ga 6, 22-29)
Dẫn
Làm việc để tìm kiếm cơm bánh, nuôi dưỡng thân xác là mục tiêu cơ bản nhất của con người. Nhưng con người không chỉ có nhu cầu ăn uống mà con người còn có nhu cầu tinh thần và tâm linh. Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta phải vượt lên những cái tầm thường của cuộc sống mau qua mà vươn lên những giá trị vĩnh cửu. Muốn vươn lên giá trị sự sống vĩnh cửu, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy Đến với Chúa và hãy Tin vào Ngài.
Chia sẻ
Đức Giêsu đã làm phép lạ bánh hóa nhiều để nuôi đám đông. Cho thấy Ngài quan tâm đến nhu cầu của thân xác của con người. Nhưng Ngài không dừng lại ở việc thỏa mãn nhu cầu cơ bản là “đói cho ăn, khát cho uống”. Cơm bánh chỉ là thứ lương thực mau qua dành cho thân xác, chứ không phải là thứ lương thực đem lại sự sống đời đời. Do đó Ngài muốn ban cho con người thứ lương thực trường tồn đem lại sự sống vĩnh cửu.
Để có được của ăn mau qua, nuôi dưỡng thân xác, con người phải ra công làm việc vất vã “đổ mồ hôi sót con mắt ” mới có của ăn.
Để có của ăn vĩnh cửu, nuôi dưỡng tinh thần và tâm linh, con người chỉ cần làm hai việc: Đến với Chúa Giêsu và Tin vào Ngài.
Cái đói của thân xác không cồn cào bằng cái đói tinh thần.
Con người đói công bằng và hạnh phúc, đói yêu thương và kính trọng.
Con người khát niềm vui và bình an, cảm thông và sự thật.
Trong nơi sâu thẳm, con người đói khát Ai đó để mình yêu mến tôn thờ.
Đức Giêsu mời ta hãy tin vào Ngài là Đấng được Thiên Chúa sai đến.
Hãy đến với Giêsu để bắt đầu được nếm thử tấm bánh của Ngài, vì chính Ngài là Tình yêu, Sự thật và Bình an.
Xin cho chúng ta biết siêng năng đến với Chúa Giêsu với niềm tin yêu, để chúng ta được chính Chúa nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và Bánh Thánh, là thứ lương thực không hư nát và đem lại sự sống đời đời cho chúng ta.


Thứ ba (Ga 6,30-35)

Dẫn
Giúp đỡ cơm áo gạo tiền, chỉ là phương tiện chứ không phải là mục đích của các nhà truyền giáo. Mục đích của nhà truyền giáo là tạo điều kiện để người khác có đủ sức đến gặp gỡ Chúa, đón nhận Chúa là lương thực đích thực, mang lại sự sống vĩnh cửu.
Đó là sứ điệp lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta.

Chia sẻ
Để đủ sức tiến về đất hứa, Thiên Chúa đã ban cho dân Do Thái manna làm của ăn. Nhưng họ cứ tưởng đó là bánh do Môsê ban cho họ.
Để có của ăn mang lại sự sống đời đời, Chúa Giêsu mời gọi dân chúng hãy tin vào Ngài. Nhưng dân chúng lại đòi hỏi phép lạ như Môsê.
Chúa Giêsu giải thích cho họ biết manna ngày xưa họ hưởng dùng nơi sa mạc không phải do Môsê ban cho, mà là do chính Chúa thương ban để  nuôi sống họ. Nhưng manna chỉ là lương thực nuôi dưỡng thể xác. Cha ông họ đã ăn mana nhưng rồi cũng chết.
Còn lương thực bảo đảm đem lại cho họ sự sống vĩnh cửu Thiên Chúa ban cho họ chính là Đức Giêsu. Bởi Đức Giêsu là Ngôi Con Thiên Chúa và cũng là Thiên Chúa làm người. Trong Đức Giêsu được kết hợp bởi nhân tính và Thiên Tính mang sự sống vĩnh cửu. Do đó khi hiến thân mình làm của ăn Chúa Giêsu trở nên lương thực mang sự sống vĩnh cửu. Ai tin nhận và ăn lấy Tấm Bánh Đức Giêsu thì đồng nghĩa với việc tham dự vào sự sống đời đời có nơi Chúa Giêsu.
Nếu ngày xưa, Chúa ban cho dân Do Thái manna làm của ăn, nhờ đó họ đủ sức vượt qua sa mạc, tiến vào đất hứa. Thì ngày nay, Chúa cũng ban cho chúng ta lương thực là Mình Thánh Chúa, bánh bởi trời đích thực làm của ăn nuôi dưỡng chúng ta đủ sức tiến về nhà Cha.
Xin cho chúng ta đừng quá bận tâm vào cơm bánh, thứ lương thực nuôi dưỡng thân xác đời này, ăn rồi cũng chết. Nhưng biết lưu tâm tìm kiếm thứ lương thực mang lại sự sống vĩnh cửu, đó chính là Mình Thánh Chúa.
Thứ tư (Ga 6, 35-40)

Dẫn

Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết, Chúa Giêsu đến trần gian là để thi hành thánh ý Chúa Cha: cứu độ và ban cho họ sự sống muôn đời cho con người. Tuy nhiên chỉ những ai đến và tin nhận Ngài là Đấng Thiên Sai là bánh bởi trời mới đáng hưởng sự sống trường sinh mà Ngài mang đến.

Chia sẻ
Để giúp dân chúng hiểu về thứ bánh trường sinh là chính Chúa, Chúa Giêsu đã mạc khải cho họ biết về nguồn gốc, mục đích và ý nghĩa về Ngài .
Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu khẳng định cho dân chúng biết nguồn gốc về Ngài: “Tôi từ trời mà xuống”. Để minh chứng rằng: Nếu ngày xưa Thiên Chúa ban manna từ trời xuống. Thì ngày nay, Thiên Chúa cũng ban Chúa Giêsu xuống từ trời. Như thế Chúa Giêsu chính là Bánh bởi trời ban.
Nếu xưa kia mục đích Thiên Chúa ban mana là để làm lương thực nuôi tất cả dân Do Thái lưu lạc trong sa mạc. Thì ngày nay, Chúa Giêsu cũng cho biết mục đích Ngài đến sa mạc trần gian cũng là để thi hành ý Cha, nuôi sống tất cả mọi người, không để mất một ai.
Nếu xưa kia trong sa mạc, dân chúng đã tin vào Thiên Chúa và nghe lời Môsê xem manna là bánh nuôi sống họ trên đường về đất hứa. Thì hôm nay, Chúa Giêsu cũng mời gọi họ đón nhận và tin vào Ngài chính là tấm bánh trường sinh nuôi dưỡng và thêm sức để họ tiến về quê trời mà Chúa hứa ban.
 Khi Chúa Giêsu khẳng định: “Chính Tôi là bánh trường sinh”, Ngài muốn quả quyết rằng, chỉ duy mình Ngài mới là lương thực và là sự sống cho mọi người, vì chính Ngài là Thiên Chúa, Đấng tạo dựng và thông ban sự sống cho muôn loài.
Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống trần gian và sự sống đời đời. sự sống trần gian được nuôi dưỡng bằng manna và cơm bánh. Sự sống đời đời phải được nuôi dưỡng bằng Mình Thánh Chúa.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa chính là nguồn sống và là Đấng ban sự sống đời đời. Xin cho chúng con biết gắn bó mật thiết với Chúa qua việc tin nhận Thánh Thể Chúa vào lòng, để chính nguồn sự sống đời đời Chúa nuôi dưỡng chúng con.
Họ chính là đoàn người đông đảo ca tụng hạnh phúc bất diệt trong món quà Thịt và Máu Chúa Giêsu trối lại trên Bàn Thờ hằng ngày, vì biết rằng khi ăn uống món quà vô giá ấy, họ cũng trở nên những Kitô khác mang trong mình sự sống trường sinh như chính Chúa Kitô, Con Thiên Chúa.

Thứ năm (Ga 6,44-51)
Dẫn
Tiếp tục đề tài bí tích thánh thể, Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu xác quyết chính Ngài là bánh từ trời xuống, bánh hằng sống, ai ăn sẽ được sống muôn đời. Nhưng để đến và đón nhận sự sống của Ngài cần phải được Chúa Cha ban ơn trợ giúp
Xin Chúa thương ban ơn giúp sức cho chúng ta, để chúng ta tin nhận và đến cùng Chúa Giêsu  nguồn ban sự sống đời đời.

Chia sẻ
Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục kêu gọi chúng ta đến với Ngài và tin vào Ngài. Bởi chính Người là bánh từ trời, bánh hằng sống. Ai đón nhận Ngài thì sẽ được sống đời đời.
Nhưng để đến được với Chúa, chúng ta phải được Chúa Cha lôi kéo. Tự sức ta không thể đến với Chúa được, vì con người chúng ta hèn mọn và tội lỗi.
Muốn được Chúa Cha lôi kéo, chúng ta phải đón nhận giáo huấn của Chúa qua việc lắng nghe và thi hành Lời Chúa dạy.
Chính Chúa Giêsu là Lời của Chúa Cha. Lời Chúa Cha là Lời ban sự  sống cho con người. Vì thế đến được với Chúa Giêsu là Lời, ta tiếp nhận sự sống  từ nơi Chúa Cha.
Nhiều người cho mình đã chọn Chúa, tin kính Chúa và thường xuyên đến với Chúa là do khả năng và nổ lực của bản thân mình. Nhưng thật sai lầm, vì không ai có thể tin nhận và đến với Chúa nếu không cậy nhờ ơn ban của Chúa Cha lôi kéo người ấy.
Xin Chúa ban ơn trợ giúp để chúng ta siêng năng đến với Chúa nơi Bí Tích Thánh Thể cũng như trung thành lắng nghe và thực hành lời Chúa dạy. Nhờ đó chúng ta được Chúa ban sự sống đời đời.

Thứ sáu (Ga, 52-59)
Dẫn
Thiên Chúa dựng nên con người có hồn và xác. Phần xác muốn sống phải ăn cơm bánh hằng ngày, phần hồn muốn sống còn phải rước Mình Máu Thánh Chúa. Mình Máu Thánh Chúa chính là của ăn nuôi sống linh hồn ta. Xin cho chúng ta biết yêu mến và quý trọng của ăn thiêng liêng mà Chúa Giêsu tặng bằng cách dọn mình xứng đáng  và siêng năng đến rước Chúa nơi bàn tiệc Thánh.
Chia sẻ
 Trong một thành ngữ rất quen thuộc của tiếng Anh: “Ăn gì thì trở thành cái đó”, là một thực tế của sự sống luân chuyển trong thân xác con người và các tạo vật.
Những gì ăn vào thì ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình sự sống không chỉ trong thân xác mà còn thay đổi cả sự trưởng thành đời sống tinh thần.
Chẳng hạn khi ăn thịt nhiều thì áp xuất máu sẽ bị thay đổi tăng lên, đồng thời cũng làm tính nóng trong tinh thần tăng lên theo.
Ngược lại ăn rau và hoa trái nhiều, thì cảm thấy cơ thể nhẹ nhàng dễ tiêu hóa, đồng thời tính tình cũng điềm đạm hơn.
Đó là kinh nghiệm bình thường ở những cơ thể cũng bình thường, ngoại trừ những cơ thể bất thường thì có thể khác.
Căn cứ vào kinh nghiệm dinh dưỡng nhân loại ấy, chúng ta có thể hiểu được lời Chúa Giêsu khi Ngài phán: "Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là Thịt Ta, để cho thế gian được sống... Ai ăn Thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy."
Đúng vậy, Chúa Giêsu Kitô không phải chỉ có bản tính nhân loại, mà còn mang bản tính Thiên Chúa trong Ngài, nên thịt và máu Ngài ở trong trạng thái của sự sống đời đời.
Khi ăn thịt và uống máu Ngài, một kiểu nói khiến những người Do Thái đương thời với Chúa Giêsu phải rùng mình sợ hãi và bỏ Ngài, và những người thời nay không tin Chúa Giêsu thì cho đầu óc những người Công Giáo là điên rồ, nhưng ngược lại, lại rất quen thuộc thường tình và trở nên vô cùng quan trọng đối với sự sống tinh thần và thiêng liêng của mọi Kitô hữu, nhất là những người Công Giáo. Họ chẳng những tin vào Lời Chúa Giêsu phán về việc ăn thịt và uống máu Ngài, nhưng còn có kinh nghiệm ăn thịt và uống máu ấy hằng ngày, để cảm nghiệm sự trưởng thành trong đời sống tinh thần của mình ở mức độ đời đời thế nào.
Nếu phải chia sẻ kinh nghiệm ấy, thì tất cả các tín hữu Công Giáo đều sẽ đồng loạt tuyên bố: Thịt và Máu Chúa Giêsu dưới hình bánh và hình rượu sau lời truyền phép, chính là nguồn sự sống và hạnh phúc cho họ chẳng những ở trần gian, mà nhất là trở nên bảo đảm quí giá cho sự sống bất diệt trên trời.
Vì thế trên cả thế giới, cứ vài giây đồng hồ lại có một Thánh Lễ để cung cấp cho trên tỷ người Công giáo sự sống trường sinh là thịt và máu Chúa Giêsu.
Bất cứ ai đến ăn thịt và uống máu Ngài, đều cảm nhận sự bình an khôn tả, nhiều khi nhận được cả sự chữa lành thể xác nữa.


Thứ bảy (Ga 6, 60-70)
Dẫn
“Anh em có muốn bỏ Thấy không?”. Đây không chỉ là câu hỏi Giêsu dành cho các tông đồ xưa nhưng còn cho mỗi chúng ta hôm nay.
Ta có theo Chúa hay không? Phải dứt khoát không thể nửa chừng, nước đôi. Chọn theo Chúa ta sẽ được sống. Chính Chúa mới đem lại cho chúng ta phúc trường sinh.
Xin cho chúng ta biết thân thưa với Chúa như thánh Phêrô: “ Bỏ thầy con biết đến với ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”.
Chia sẻ
Kết quả diễn từ về Bí Tích Thánh Thể của Chúa Giêsu hầu như bị thất bại.
Dân chúng thì bỏ đi. Nhiều môn đệ thì cảm thấy khó chịu, lẩm bẩm: lời gì mà chướng tai thế? Ông Talàm sao lấy thịt mình cho người ta ăn được? họ tỏ ra chán ngán và rút lui.
May thay Simon Phêrô thay mặt nhóm 12 tuyên tín vào Chúa Giêsu: “ Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Thật là an ủi và ấm lòng Chúa Giêsu biết bao!
Tin vào Bí Tích Thánh Thể luôn là thử thách lớn lao chẳng những đối
với dân chúng và các môn đệ xưa mà cho cả những người kitô hữu chúng ta ngày nay. Làm sao chúng ta có thể tin nhận Chúa Giêsu lại hiện diện nơi tấm bánh đơn sơ, bé nhỏ? Làm sao Chúa Giêsu lại biến bánh và rượu trở nên thịt và máu Ngài để nuôi sống chúng ta? Nếu không được Chúa ban ơn đức tin.
Tin Chúa quyền năng làm được mọi sự. Tin vào tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta.
Chính vì tình yêu, Chúa dựng nên chúng ta…
Chính vì tình yêu Chúa xuống thế làm người ở với chúng ta.
Chính vì tình yêu Ngài đã hiến thân chịu chết để cứu chuộc chúng ta.
Chính vì quá yêu loài người  nên Ngài đã biến bánh và rượu trở nên thịt máu Ngài nuôi dưỡng và ở lại mãi trong ta, để ban sự sống đời đời cho những ai tin nhận Ngài.
Xin cho mỗi lần tham dự thánh lễ, chúng cảm nhận được tình thương vô vàn mà Chúa dành cho chúng ta qua Bí Tích Thánh Thể; cho chúng ta ý thức dọn tâm hồn cho xứng đáng để đón nhận Chúa vào ở trong lòng chúng ta.
 

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2011

SỐNG LỜI CHÚA TUẦN II PHỤC SINH A

Thứ hai (Ga 3,1-8)

Dẫn
Tin mừng hôm nay thuật lại cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Nicôđêmô. Qua cuộc đối thoại này, Chúa giải thích cho ông Nicôđêmô hiểu được ý nghĩa của việc “tái sinh”; đồng thời Chúa Giêsu cũng cho ông ta biết giá trị và mục đích của việc “ tái sinh”  để được làm con Chúa và được vào nước trời.
Xin cho chúng ta biết quý trọng những ơn ích Chúa ban cho chúng ta ngày lãnh nhận bí tích rửa tội. Cho chúng ta biết từ bỏ tội lỗi, tính hư nết xấu, gìn gữ tâm hồn trong trắng, sống xứng đáng là con Chúa.

Chia sẻ
Nicôđêmô, thủ lãnh người Do Thái, có địc vị, có học thức cao là thành phần trong công nghị,được mọi người kính nể. Nghe những lời giảng dạy và chứng kiến những phép lạ Chúa Giêsu làm, ông cảm phục tin nhận Chúa Giêsu là tôn sư đến từ Thiên Chúa. Tuy nhiên vì có nhiều điều làm ông thắc mắc nên không ngại đêm khuya, kín đáo tìm đến Chúa Giêsu, trong khiêm tốn xin Chúa giải đáp.
Nghe những lời giảng hay, chứng kiến nhiều phép lạ nếu để vui tai, thích mắt thì chẳng ích lợi gì nếu bản thân chúng ta không thay đổi trở nên tốt hơn.
Giảng dạy và phép lạ chỉ là phương tiện, nước trời mới là đích điểm.
Nhưng làm thế nào để đạt được nước trời?
Trong cuộc đàm đạo với Nicôđêmô, Chúa Giêsu đã chỉ cho ông cách thức rất cụ thể để vào nước trời đó là phải “tái sinh”.
Nicôđimô, chỉ hiểu tái sinh theo nghĩa xác thịt, theo cách thức tự nhiên, nên ngây ngô thốt lên: “ Một người đã già rồi, làm sao có thể sinh ra được? chẳng lẽ người đó có thể trở vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao?”. Chứng tỏ ông không hiểu việc tái sinh theo nghĩa siêu nhiên Chúa Giêsu đề cập đến “Tái sinh bởi nước và Thần Khí”.
Để là người, chúng ta phải được sinh ra bởi cha mẹ. Các ngài đã truyền cho chúng ta sự sống tự nhiên.
Để trở nên người, chúng ta phải được hướng dẫn giáo dục nhờ gia đình và xã hội.
Nhưng để trở thành người con Chúa, chúng ta phải được sinh lại trong Chúa Thánh Thần nhờ bí tích rửa tội. Qua bí tích rửa tội Chúng ta được Chúa ban cho sự sống siêu nhiên.
Như thế, để làm người và nên người, chúng ta phải được sinh ra theo lối tự nhiên bởi cha mẹ. Nhưng để là người con Chúa, chúng ta phải được sinh ra theo lối siêu nhiên bởi nước và Thánh Thần qua bí tích rửa tội.
Nhờ tái sinh qua bí tích rửa tội, chúng ta được Chúa tha thứ tội lỗi, được làm Con Chúa, được gia nhập vào Hội Thánh, được trở nên tạo vật mới mặc lấy Đức Kitô và được kêu mời trở nên ánh sáng giữa trần đời.
Chúa Giêsu đã chết để tiêu diệt sự chết và sống lại để phục hồi sự sống cho chúng ta. Vì thế chúng ta được Chúa kêu mời chết đi cho con người cũ bất tòan, tội lỗi để sống con người mới hoàn hảo nhờ được tái sinh trong Chúa.
Xin cho chúng ta biết ý thức gìn giữ và pháy huy ơn trọng đại làm con Chúa  trong ngày lãnh nhận bí tích rửa tội.  Biết chừa bỏ tội lỗi, tính hư nết xấu mà sống con người mới thánh thiện tốt lành, trở nên ánh sáng tin mừng phục sinh soi chiếu vào trần đời còn nhiều bóng tối,  hầu xứng đáng được vào Nước Chúa.

Thứ ba (Ga 14,6-14)
Kính Thánh Philipphê và thánh Giacôbê tông đồ
Dẫn
Khi xây một ngôi nhà, trước hết trong đầu chúng ta phải có mô hình, rồi mới thể hiện mô hình đó ra bản vẽ, sau đó chúng ta mới dựa vào bản vẽ đó mà thực hiện.
Tương tự như thế, để xây dựng người con Chúa, ta phải theo mô hình. Mô hình đó là Đức Giêsu Kitô “Con Chúa ” và “ là đường, là sự thật và là sự sống”.
 Thánh Philipphê và Giacôbê đã nghe lời Chúa và đã xây dựng con người mình theo mô hình Đức Giêsu Kitô nên được thừa hưởng gia tài hạnh phúc nước trời.
Xin cho chúng ta biết xây dựng đời mình theo mô hình Đức Giêsu Kitô theo gương hai thánh Philipphê và Giacôbê tông đồ.

Chia sẻ
Ước nguyện được nhìn thấy Thiên Chúa không chỉ là ước nguyện của Philipphê và các tông đồ nhưng còn là ước mong của mỗi chúng ta.
Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đáp ứng mong ước đó của chúng ta bằng cách cho biết chính Người là hiện thân và là Thiên Chúa : ‘ Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”, “ Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy”.
Do đó lời Người nói là nói lời Chúa Cha. Những việc làm của Người chính là Chúa Cha làm trong Người. Nếu ai tin vào Người thì sẽ làm được những việc Người làm và còn lớn lao hơn nữa, vì Người về cùng Chúa Cha và sẽ ban ơn cho những ai tin vào Người.
Theo Đức Dalai-Lama có một điều cần quan tâm trong giáo dục. Ngài nói: “ trong phật giáo, khi nói đến giáo huấn hay giáo thuyết, chúng tôi nhìn ở hai mức độ.
Mức độ thứ nhất liên quan đến các bản văn.
Mức độ thứ hai liên quan đến sự thể nghiệm.
Liên quan đến sự thể nghiệm, điều rất quan trọng là một người muốn dạy người khác, thì chính mình phải có kinh nghiệm tối thiểu về điều mình giảng dạy, phải hoàn tất đoạn đường nào đó trong sự thể nghiệm thiêng liêng. Như thế nó hoàn toàn khác với loại hình truyền thông khác, khi người ta kể lại câu chuyện lịch sử hoặc một sử gia tuờng thuật lại những biến cố đã qua. Trong trường hợp đó, người ta kể lại sự kiện mà không hề sống. Còn việc giảng dạy về đời sống tâm linh, điều thiết yếu là người giảng dạy phải có một chút thể nghiệm và kinh nghiệm bản thân”.
Chúa Giêsu không chỉ thể nghiệm mà Người còn chính là mô hình là khuôn mẫu để mọi người noi theo “ Thầy là đường là sự thật và là sự sống”. Chỉ những ai tin nhận và xây dựng cuộc sống mình trên mô hình Đức Giêsu Kitô thì mới có được sự sống đời đời.
Xin cho chúng ta biết xây dựng đời kitô hữu mình trên khuôn mẫu là Đức Giêsu Kitô. Nghĩa là khi nói phải nói lời của Chúa. Khi làm thì làm việc trong Chúa và vì Chúa. Trong mọi sự luôn tin nhận và đi theo con đường Chúa Giêsu hướng dẫn.

Thứ tư (Ga 3, 16-21)
Dẫn
Ánh sáng và bóng tối, sống và chết luôn tồn tại nơi trần gian và trong mỗi người chúng ta. Muốn bước đi trong ánh sáng để được sự sống đời đời chúng ta cần phải đến cùng Đức Giêsu, nguồn ánh sáng và là Đấng ban sự sống.
Chia sẻ
Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã dùng đến hình ảnh ánh sáng để chỉ về Người.
Ánh sáng là thứ quan trọng và gần gũi với con người. Ánh sáng rất cần thiết cho sự sống. Không có ánh sáng thì không có sự sống. Thảo mộc , súc vật và con người nếu không có ánh sáng thì sẽ chết.
Ánh sáng giúp cho con người thấy nhau, thấy được vẽ đẹp vũ trụ vạn vật, phân biệt được màu sắc và cảnh vật.
Trong lãnh vực siêu nhiên, Chúa Giêsu muốn nói đến sự cần thiết của Ngài như ánh sáng không thể thiếu. Không có Người thì tạo vật không được tạo thành. Không có Người không có ơn cứu rỗi. Không có Người không có sự sống đích thực nơi con người.
Nhưng con người chúng ta lại sợ ánh sáng và ngại đến cùng ánh sáng vì ánh sáng phơi bày tội lỗi chúng ta trước mặt Chúa và mọi người, nên chúng ta yêu bóng tối hơn ánh sáng.
Xin Chúa giúp chúng ta đẩy lui những bóng tối của gian dối, bất công, chia rẽ hận thù và sự chết mà can đảm tắm dội ánh sáng chân lý, tình thương và sự sống của Chúa Giêsu.

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2011

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH NĂM A

KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA
( Ga 20,19-31)

BÀN TAY CỦA YÊU THƯƠNG

Truyện kể
Trong một tiết dạy vẽ, cô giáo bảo các em học sinh lớp một vẽ điều gì đã làm các em thích nhất trong đời. Cô thầm nghĩ: “ chắc rồi các em cũng lại vẽ những gói quà, những ly kem hoặc những món đồ chơi, quyển chuyện tranh…”. Thế nhưng cô đã hoàn toàn ngạc nhiên trước một bức tranh lạ của em học sinh tên là Douglas: Bức tranh vẽ một bàn tay!
Nhưng đây là bàn tay của ai? Cả lớp bị cuốn hút bởi hình ảnh đầy biểu tượng này. Một em đoán: “ Đó là bàn tay bác nông dân”. Một em khác cho rằng: “ Bàn tay thon thả thế này phải là bàn tay của một bác sĩ giải phẩu…”. Cô giáo đợi cả lớp bớt xôn xao dần rồi mới hỏi tác giả. Douglas cười ngượng ngịu: “ Thưa cô, đó là bàn tay của cô ạ!”.
Cô giáo ngẫn ngơ. Cô nhớ lại những phút ra chơi, cô thường dùng bàn tay để dắt Douglas bước ra sân, bởi em là một cô bé tật nguyền, khuôn mặt không được xinh xắn như các bạn trẻ khác, gia cảnh từ lâu lâm cảnh ngặt nghèo. Cô chợt hiểu ra, tuy cô vẫn làm điều tương tự với các em khác, nhưng hóa ra đối với Douglas, bàn tay cô lại mang một ý nghĩa sâu xa, một biểu tượng của tình yêu thương.

Nếu bàn tay cô giáo là hình ảnh đẹp nhất trong tâm hồn em bé khuyết tật Douglas, thì Bàn Tay Chúa Giêsu phải là hình ảnh tuyệt vời nhất đối với nhân loại. Bởi lẽ  bàn tay ấy mang đầy những dấu vết của lòng yêu thương. Vì thế mỗi lần hiện ra với các tông đồ, đặc biệt với Tôma qua đoạn tin mừng hôm nay, Chúa đều mời gọi các tông đồ xem đôi bàn tay của Người.

BÀN TAY  MANG DẤU VẾT TÌNH YÊU ĐỐI VỚI CHÚA CHA

Chúa Giêsu luôn hướng về Chúa Cha bằng một tình yêu mật thiết, được thể hiện qua đôi bàn tay của cầu nguyện.
Đôi bàn tay hướng về Cha trong tư thế cầu nguyện mỗi khi bắt đầu ngày sống, xin Cha hướng dẫn và ban ơn giúp sức để những việc làm trong ngày sống được hoàn thành tốt đẹp theo ý Cha.
Đôi bàn tay hướng về Cha suốt đêm dài, mỗi khi quyết định những việc làm quan trọng. Xin Cha ban ơn sáng suốt để chọn lựa điều tốt nhất, theo ý muốn của Cha.
Đôi bàn tay từng cầm bánh và rượu đưa lên cao hướng về Chúa Cha để chúc tụng, tạ ơn. Xin Cha chúc lành cho những lương thực hưởng dùng.
Đôi bàn tay đưa cao hướng lên trời, kêu xin sự sống cho La-da-rô.
Bàn tay chấp lại trong lo sợ, thiết tha khẩn cầu xin Cha cất khỏi chén đắng trong tinh thần phó thác.
Bàn tay dang rộng trên thập giá đau đớn vang xin Chúa Cha tha thứ cho những người giết hại mình.

BÀN TAY MANG DẤU VẾT YÊU THƯƠNG CON NGƯỜI

Đôi bàn tay Chúa Giêsu luôn hướng đến con người để cảm thông chia sẻ và giúp đỡ bằng tình yêu hy sinh.
Bắt đầu bằng đời sống lao động vất vả nơi gia đình Nazarét. Bàn tay từng cầm cưa, búa, đục để làm mộc cùng với thánh Giuse lo của ăn cho gia đình.
Bàn tay sẵn sàng mở ra ban ơn tha thứ biết bao tội nhân biết ăn năn sám hối như Maria Macdala, cho ngưuời phụ nữ ngoại tình, cho Giakêu…, đã chữa lành biết bao người đau ốm, bằng cách đặt tay trên mắt người mù bẩm sinh, trên tai và lưỡi của người câm điếc, trên thịt da lỡ lóe của người mắc bệnh hủi, trên trán giá lạnh của con gái Giairô, trên tay nóng sốt của bà nhạc mẫu Phêrô….
Bàn tay quyền thế đã truyền khiến giông tố và sóng gió yên lặng, đã cầm roi xua đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi đến thờ, đã xua trừ ma quỷ, đã chúc dữ cho những người biệt phái.
Bàn tay bị đâm thủng, nơi ấy vẫn còn lỗ đinh được ghi lại tình yêu Chúa dành muôn thế hệ.
Bàn tay bị nộp cho lý hình, bị đóng đinh vào thập giá và phải mang lấy thân xác nặng nề đau xé suốt ba giờ liền trên thập giá. Tất cả chỉ vì tình yêu con người.

Khi mời gọi các tông đồ nhìn xem tay Chúa vừa để chứng thực chính Người là Thiên Chúa Tình Yêu; vừa để mời gọi các ông học lấy bài học yêu thương “như Người đã yêu”.
Khi mời gọi các tông đồ nhìn vào đôi bàn tay của Chúa là để nhắc nhở các ông không chỉ thi hành mệnh lệnh loan báo tin mừng trên môi miệng mà còn phải thực hiện lời rao giảng trên đôi tay mở ra để giúp đỡ những người bé nhỏ, nghèo nàn, yếu đau. An ủi những ai đau khổ, bất hạnh và vỗ về những ai cô đơn, tội lỗi. Hàn gắn những gia đình bị rạng nứt và đổ vỡ.
Nhìn bàn tay Chúa để các tông đồ hiểu rằng việc truyền giáo sẽ không bao giờ đạt kết quả, nếu thiếu đời sống cầu nguyện.
“ Hãy xin với chủ ruộng” 
Đôi bàn tay giơ cao hướng về Chúa để xin ơn. Xin Chúa ban ơn soi sáng, lòng nhiệt thành và sức mạnh cho những nhà truyền giáo. Xin Chúa đánh đọng lòng người tiếp nhận tin mừng. Xin Chúa chúc lành cho công cuộc truyền giáo.
Đôi bàn tay dang rộng hướng về tha nhân, bằng cách chấp nhận chịu đâm thủng của những dấu đinh vất vả, hy sinh, đau khổ vì tình yêu.

Bàn tay yêu thương đó được minh chứng nơi cộng đoàn tín hữu đầu tiên.
Họ đồng tâm hướng đôi bàn tay về Chúa bằng đời sống cầu nguyện, bằng lắng nghe Lời Chúa và lời giảng dạy của các tông đồ, cùng hiệp nhau trong nghi lễ bẻ bánh.
Họ cũng dùng bàn tay hướng về anh em để chia sẻ trong tình bác ái. Tự nguyện dùng tài sản riêng làm của chung. Chấp nhận bán hết tài sản để trợ giúp cho người túng thiếu. Họ cư xử với nhau như anh em một nhà. Chính đời sống ấy lôi cuốn biết bao người xin gia nhập Kitô giáo.
Sứ mạng loan báo tin mừng tình thuơng được Chúa phục sinh trao ban cho các tông đồ, qua các tông đồ cho các kitô hữu đầu tiên và hôm nay sứ mạng ấy Chúa trao lại cho mỗi người chúng ta!
Lạy Chúa trong cuộc sống thường ngày, xin cho chúng ta biết xử dụng đôi bàn tay của mình. Một bàn tay nắm chặt bàn tay Chúa bằng đời sống cầu nguyện. Bàn tay kia nắm chặt lấy tay tha nhân bằng những hành động bác ái yêu thương, để rồi chúng con đặt bàn tay của nhau vào bàn tay Chúa nhờ thế tình yêu Chúa được đơm bông kết trái khắp nơi.


LÝ TRÍ VÀ ÐỨC GIÊSU PHỤC SINH
 
Lm. Mark Link S.J

     Giả như chúng tôi mời một anh chị em lên tòa giảng và bịt mắt anh chị em đó lại, rồi chúng tôi đặt một sô nước trước mặt anh chị em đó, và hỏi anh chị em đó đoán xem nó rỗng hay đầy. Có ba cách trả lời câu hỏi đó mà không cần phải cởi khăn bịt mắt ra. Ba cách đó thế nào?
     Cách thứ nhất là đến thẳng xô nước và thò tay vào xem có nước trong đó không. Nói cách khác, anh chị em có thể kiểm nghiệm trực tiếp xem xô ấy đầy hay rỗng. Cách này được gọi là kinh nghiệm. Ðây là tri thức mà chúng ta có được bằng kinh nghiệm trực tiếp. Ðó là tri thức do giác quan.
     Cách thứ hai để biết cái xô ấy có chứa nước hay không là thả vào đó một vật, chẳng hạn một đồng xu. Nếu vật ấy chạm vào đáy xô tạo nên một âm thanh vang và to, anh chị em sẽ biết ngay cái xô ấy rỗng. Nhưng nếu đồng xu ấy chạm tạo nên âm thanh không rõ hoặc có những hạt nước bắn tóe ra, anh chị em biết ngay cái xô ấy có nước. Tri thức này có được là nhờ lý luận.
     Cách thứ ba để biết xem cái xô ấy có nước hay không là hỏi thăm người nào mà anh chị em tin cậy. Người ấy có thể nhìn vào cái xô và nói cho anh chị em biết trong ấy có nước hay không. Cách biết này do tin vào người khác mà biết. Ðó chính là tri thức có được do niềm tin.
     Kinh nghiệm, lý luận và tin tưởng đó chính là ba cách thức để biết ở đời này.
     Bây giờ chúng ta hảy xét đến một câu hỏi khác, câu hỏi thứ hai.
     Trong ba cách để biết ấy, có cách nào giúp chúng ta biết được nhiều hơn cả
   Chúng ta biết được điều này điều kia là do kinh nghiệm bằng giác quan, hay do đầu óc suy luận, hay do tin tưởng vào người khác?
     Nếu anh chị em trả lời là do niềm tin, do sự tin tưởng nơi người khác, thì anh chị em đúng hoàn toàn. Hầu hết chúng ta biết được điều này điều kia là do chúng ta tin vào những gì người khác nói với chúng ta. Có một nhà chuyên môn ước lượng rằng 80% những kiến thức của chúng ta là do tin tưởng vào người khác mà có.
     Chẳng hạn, trong chúng ta ít có ai được may mắn du hành quanh thế giới. Cách duy nhất, để chúng ta biết về phần lớn các quốc gia trên thế giới là do người khác nói cho chúng ta biết. Nóí cách khác, chúng ta tin vào những người đã từng đến nhữmg nơi ấy. Nếu họ kể cho chúng ta rằng có một xứ sở nọ tên là Trung Hoa, và dân chúng ở đó thế này thế kia, chúng ta sẽ tin họ.
     Phương cách để chúng ta có được những tri thức thông thường còn nhận thức như thế, thì cách thức để chúng ta có được những tri thức tôn giáo càng chân thực hơn nữa. Phần lớn tri thức tôn giáo mà chúng ta có là do chúng ta tin vào những gì Kinh thánh kể lại cho chúng ta. Nói cách khác, phần lớn tri thức tôn giáo của chúng ta là do niềm tin.
     Bây giờ chúng ta xét đến câu hỏi thứ ba. Chúng ta có thể hiều biết những thực tại tôn gíao cũng bằng ba cách mà chúng ta thường dùng để hiều biết những thực tại thông thường không?     Chẳng hạn, chúng  ta có thể biết Ðức Giêu sống lại từ cõi chết không phải chỉ nhờ tin những gì Kinh Thánh nói, mà còn nhờ vào suy luận nữa không? Có nhiều người nghĩ rằng được. Họ giải thích rất hấp dẫn. Họ lập luận rằng sau khi Ðức Giêsu chết, các môn đệ bị khủng hoảng tinh thần tột độ. Họ chỉ còn là một nhóm người đại bại, một nhóm người thất chí, một nhóm người nhát sợ. Thế rồi vào Chúa nhật Phục Sinh, có một biến cố nào đó đã xảy ra cho đám người đang bị khủng hoảng, thất chí, sợ hãi này. Có một biến cố nào đó đã biến đổi họ một cách không thể tưởng tượng được. Có một biến cố nào đó thay đổi con người họ một cách thật lạ lùng, Bỗng nhiên lòng họ bừng lên niềm vui, niềm hạnh phúc thật sự. Họ không thể cầm lòng được. Họ vội chạy đi loan báo cho mọi người rằng  Ðức Giêsu đã sống lại và hiện đang sống. Họ tin điều ấy một cách chắc chắn đến độ họ thà sẵn sàng chịu bắt bớ bách hại đủ kiểu đủ cách, dầu là phải chết, còn hơn phải chối bỏ Ðức Chúa đã Phục sinh của họ.
     Ðời sống và lời giảng của nhóm người này đã thay đổi cục diện lịch sử nhân loại. Không một giả thuyết nào có thể giải thích được tại sao đời sống họ lại có thể biến đổi như thế, ngoại trừ cách gỉai thích của chính họ: Họ đã thấy Ðức Giêsu hiện còn sống.
     Giả như nhóm người thất học này đã phịa chuyện về Ðức Giêsu và sự Phục sinh của Ngài thì chắc chắn ta phải chấp nhận rằng sớm hay muộn, ít nhất phải có một người trong bọn sẽ phải nói ra sự thật, Vì không chịu nổi sự bách hại và giết chóc.
     Nhưng không một ai trong nhóm ây đã làm thế, lời chứng của họ về Ðức Giêsu sống lại không bị lay chuyển chút nào. Ngược lại, lời chứng ấy càng ngày càng mạnh mẽ và ảnh hưởng tới mọi người hơn. Họ đã cảm nghiệm được một năng lực mới lạ và diệu kỳ đã khiến họ thực hiện được nhiều phép lạ. Chính sự biến đổi không thể nào giải thích được nơi các môn đệ Ðức Giêsu khiến cho nhiều người nói rằng chính lý trí cũng minh chứng rằng Ðức Giêsu đã phục sinh. Nói cách khác, lý trí thuần lý cũng xác quyết rằng một biến cố nào đó rất ngoạn mục đã xảy ra làm biến đổi các môn đệ Ðức Giêsu. Lý trí thuần lý xác nhận rằng sự Phục Sinh của Ðức Giêsu thực sự đã xảy ra.
     Anh chị em cũng như tôi đều không được đặt tay vào cạnh sườn Chúa Giêsu như Thánh Tôma, để trực tiếp cảm nghiệm được Ðức Giêsu đã phục sinh từ cõi chết. Tuy nhiên chúng ta có thể tin tưởng vào chứng cứ của Thánh Kinh. Chúng ta cũng có thể làm hơn thế nữa. Chúng ta cũng có thể sử dụng tặng phẩm Chúa ban là lý trí để xác quyết thêm điều Kinh Thánh đã truyền dạy chúng ta. Và rồi, chúng ta cũng có thể quỳ gối xuống như Thánh Tôma đã làm và thưa với Chúa Giêsu: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con". Ðáp lại Chúa Giêsu nói với chúng ta: "hạnh phúc biết bao cho kẻ chẳng thấy mà vẫn tin".
     Ðể kết thúc chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện:
     Kính lạy Chúa, bất cứ khi nào đức tin chúng con bị chao đảo, giống như trường hợp của Thánh Tôma, thì xin Ngài hãy nhắc chúng con nhớ lại những lời Kinh thánh thuật lại về những biến cố đã xảy ra vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Cũng xin Chúa nhắc chúng con nhớ biến cố này không chỉ gây ảnh hưởng trên các môn đệ Chúa Giêsu mà còn trên toàn dòng lịch sử. Và nhất là, xin nhắc cho chúng con biết tham dự vào Tin Mừng Phục Sinh của Ngài với tha nhân chung quanh chúng con, giống như các môn đệ đã chia sẻ niềm vui ấy cho quần chúng quanh họ. Chúng con nguyện xin nhờ Ðức Kitô, Chúa chúng con.

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2011

SỐNG LỜI CHÚA TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH


Thứ hai ( Mt 28, 8-15)
Dẫn
Tin mừng hôm nay thuật lại sự kiện Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với các phụ nữ. Người chấn an các bà và sai các bà loan báo tin mừng phục sinh cho các tông đồ.
Xin cho chúng ta có được niềm vui phục sinh và can đảm minh chứng niềm vui phục sinh cho mọi người.
Chia sẻ
Để biết được thông tin chính xác, ta cần lắng nghe chính người trong cuộc thông tin lại.
Tin mừng hôm nay cho thấy có hai nguồn thông tin trái ngược nhau về sự kiện Chúa Giêsu sống lại.

Nguồn thông tin của các bà phụ nữ
Đây là những người trong cuộc vì đã trực tiếp gặp gỡ Chúa Giêsu. Đã tận tai nghe lời Chúa nói cũng như đã đụng chạm đến chân Chúa. Các bà còn được Chúa trao nhiệm vụ loan báo cho các môn đệ biết về việc Chúa sống lại và muốn gặp các môn đệ tại Galilêa.

Nguồn tin của lính canh
Những lính canh, cũng đã chứng kiến sự kiện ấy. Nhưng vì bị các thượng tế và kỳ lão mua chuộc và hù dọa nên họ nghe theo lời hướng dẫn của các thượng tế và kỳ lão phao tin không trung thực rằng: “ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ,các môn đệ hắn đã đến lấy trộm hắn đi”.
Cùng chứng những sự việc Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với các phụ nữ nhưng những lính canh đã bị áp lực và mua chuộc bởi giới thượng tế và kỳ lão nên đã thông tin sai sự thật.
Trong cuộc sống, ta cũng thường nghe được những luồng thông tin khác nhau về một sự kiện nào đó xảy ra trong xã hội cũng như trong Giáo Hội. Có những thông tin chính thống cần tin theo. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi, phe nhóm và thế lực của mình cũng không ít những thông tin sai lạc, ta cần phải dè chừng.
Hằng ngày trên báo chí, truyền thanh, truyền hình ta bắt gặp rất nhiều thông tin quảng cáo nhằm thu hút khách hàng và lợi nhuận. Bên cạnh những
thông tin thật cũng có nhiều thông tin không thật.
Sống trong một xã hội mà phải liên tục đề phòng hàng giả, người giả, thông tin giả thật là bất an.
Chắc chắc ai trong chúng ta cũng không muốn điều ấy xảy ra. Nhưng rồi chính cuộc sống chúng ta cũng bị ảnh hưởng ít nhiều. Nhiều lần vì sợ, vì tham vì bị mua chuộc… ta lại chấp nhận im lặng hay từ chối làm chứng cho chân lý. Lắm khi vì ham mê tiền bạc, chức quyền ta cũng sẵn sàng chối bỏ niền tin cách dễ dàng.
Chúa Phục sinh ban bình an cho các bà phụ nữ và sai các bà ra đi làm chứng niềm tin phục sinh. Hôm nay, Chúa phục sinh cũng ban bình an cho chúng ta và cũng mời gọi chúng ta can đảm làm chứng cho tin mừng chân lý và tình thương nhằm đem đến niềm vui và bình an cho tha nhân.
Xin cho chúng ta trở nên chứng nhân trung thành của Chúa phục sinh giữa cuộc sống hôm nay.

Thứ ba (Ga 20,11-18)

Dẫn
Tin mừng hôm nay cho ta biết, Chúa phục sinh hiện ra với bà Maria Macđala, ban lại cho bà niềm vui cũng như chỉ cho bà cách thức để sống niềm vui phục sinh đó.
Xin Chúa Giêsu phục sinh cho chúng ta biết siêng năng đến với Chúa, nhất là những lúc đau buồn, chán nản, để qua gặp gỡ Chúa chúng ta tìm lại được niềm an vui phục sinh. Và xin Chúa cũng cho chúng ta biết tích cực chia sẻ niềm vui phục sinh cho mọi người chung quanh nhất là những người đang gặp đau khổ.
Chia sẻ
Truyện kể
Có một phụ nữ vừa mất con trai, bà tìm đến một nhà hiền triết và nói:
"Có lời cầu nguyện nào mà ông biết có thể đem con trai tôi sống lại?"
Nhà hiền triết bảo:
"Hãy đem về đây cho ta một hạt giống cây mù tạt được trồng từ gia đình nào chưa từng bao giờ biết đến đau khổ".
Người phụ nữ ngay lập tức lên đường đi tìm hạt giống thần kỳ. Đầu tiên bà đến gõ cửa một ngôi nhà lớn sang trọng và hỏi:
"Tôi đang tìm hạt giống cây mù tạt từ gia đình chưa bao giờ biết đến đau khổ, có phải nơi này không?"
Họ trả lời bà đã đến nhầm chỗ và bắt đầu kể những tai họa đã xảy đến với gia đình họ. Bà ngồi lại an ủi họ rối tiếp tục lên đường đi tìm hạt giống thần kỳ.
Nhưng bất cứ nơi nào bà ghé vào, dù ở những ngôi nhà tồi tàn hay sang trọng, bà đều được nghe những chuyện đau buồn này đến chuyện bất hạnh khác.
Bà trở nên quan tâm và rất muốn chia sẻ nỗi buồn của người khác đến nỗi bà đã quên đi nỗi buồn của chính bà và quên câu hỏi về hạt giống cây mù tạt thần kỳ mà bà tìm kiếm.

Tin mừng hôm nay thuật lại chuyện Maria Macđala bị mất. Nhưng không phải mất con, mà là mất Chúa. “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi”. Bà nói với hai Thiên Thần.
Giống như người mẹ trên, Maria Macđala cũng đau buồn nên đã hỏi thăm hai Thiên Thần xem có biết Chúa đâu không? chỉ cho bà biết.
Bà cũng hỏi Chúa đang hiện ra với bà xem, cách nào tìm lại Chúa? (vì tưởng Chúa là người làm vườn).
Chúa phục sinh gọi đúng tên bà “Maria!”. Bà vui mừng khôn tả vì nhận ra Chúa. Chúa phục sinh bảo: đừng giữ Chúa lại cho riêng mình nữa, nhưng hãy ra đi để gặp gỡ và chia sẻ về những điều mà mình đã thấy. Đó như là bí quyết giúp Maria Macđala quên hết những nổi đau buồn, để rồi vui mừng ra đi loan báo niềm vui.

Giống như Maria Mađala, ai trong chúng ta cũng có những nổi buồn.
Buồn vì cuộc sống nghèo khổ, thiếu thốn và bất hạnh.
Buồn vì những bệnh tật, tội lỗi mà mình đang mang nặng không thể vượt qua.
Buồn vì phải chứng kiến những nổi đau và cái chết của người thân…
Để vượt qua những nổi đau buồn đó, Chúa phục sinh mời gọi chúng ta: “Thôi, đừng giữ Thầy lại”, nghĩa là  đừng sống theo ý mình mà sống theo ý Chúa; đừng giữ đạo theo cách của mình mà theo cách Giáo Hội hướng dẫn; đừng ích kỉ giữ Chúa cho riêng mình mà ngại đem Chúa đến cho người khác. Chúa Phục sinh còn mời gọi chúng ta ra đi “gặp gỡ anh em thầy” để chia sẻ cho họ biết về niềm tin và niềm vui phục sinh mà mình có được khi gặp gỡ Chúa. Đó cũng là cách chúng ta gặp gỡ Chúa phục sinh trong đời sống hằng ngày. Nhờ thế ta thấy cuộc sống thật có ý nghĩa mà quên đi những nổi đau buồn, vì Chúa phục sinh đang hiện diện nơi chúng ta qua anh em.

Thứ tư (Lc 24, 13-35)

Dẫn
Tin mừng hôm nay tiếp tục trình thuật về việc Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với hai môn đệ trên đường Em-mau. Chúa đã dùng Lời Chúa và cử chỉ bẻ bánh trong bữa ăn thân tình để giúp hai ông nhận ra Chúa. Mọi ưu phiền và chán nản tan biến nhường chổ cho niềm vui và hạnh phúc. Hai ông hân hoan trở về Giêrusalem báo tin phục sinh cho các tông đồ.
Xin Chúa cho chúng ta ý thức được tầm quan trọng của Lời Chúa và Thánh Thể mà yêu mến gắn kết với Thánh Thể Chúa cũng như siêng năng tìm hiểu, suy niệm và sống theo Lời Chúa hướng dẫn.

Chia sẻ
Truyện kể
Cô con gái hay than thở với cha sao bất hạnh này cứ vừa đi qua thì bất hạnh khác đã vội ập đến với mình, và cô không biết phải sống thế nào. Có những lúc quá mệt mỏi vì vật lộn với cuộc sống, cô đã muốn chối bỏ cuộc đời đầy trắc trở này.
Cha cô vốn là một đầu bếp. Một lần, nghe con gái than thở, ông dẫn cô xuống bếp. Ông bắc ba nồi nước lên lò và để lửa thật to. Khi ba nồi nước sôi, ông lần lượt cho cà rốt, trứng và hạt cà phê vào từng nồi riêng ra và đun lại để chúng tiếp tục sôi, không nói một lời.
Người con gái sốt ruột không biết cha cô đang định làm gì. Lòng cô đầy phiền muộn mà ông lại thản nhiên nấu. Nửa giờ sau người cha tắt bếp, lần lượt múc cà rốt, trứng và cà phê vào từng tô khác nhau.
Ông bảo con gái dùng thử cà rốt. "Mềm lắm cha ạ", cô gái đáp. Sau đó, ông lại bảo cô bóc trứng và nhấp thử cà phê. Cô gái cau mày vì cà phê đậm và đắng.
- Điều này nghĩa là gì vậy cha - cô gái hỏi.
- Ba loại thức uống này đều gặp phải một nghịch cảnh như nhau, đó là nước sôi 100 độ. Tuy nhiên mỗi thứ lại phản ứng thật khác.
Cà rốt khi chưa chế biến thì cứng và trông rắn chắc, nhưng sau khi luộc sôi, chúng trở nên rất mềm.
Còn trứng lúc chưa luộc rất dễ vỡ, chỉ có một lớp vỏ mỏng bên ngoài bảo vệ chất lỏng bên trong. Sau khi qua nước sôi, chất lỏng bên trong trở nên đặc và chắc hơn.
Hạt cà phê thì thật kỳ lạ. Sau khi sôi, nước của chúng trở nên rất đậm đà.
Người cha quay sang hỏi cô gái: Còn con? Con sẽ phản ứng như loại nào khi gặp phải nghịch cảnh.
Con sẽ như cà rốt, bề ngoài tưởng rất cứng cáp nhưng chỉ với một chút đau đớn, bất hạnh đã trở nên yếu đuối chẳng còn chút nghị lực?
Con sẽ là quả trứng, khởi đầu với trái tim mỏng manh và tinh thần dễ đổi thay. Nhưng sau một lần tan vỡ, ly hôn hay mất việc sẽ chín chắn và cứng cáp hơn.
Hay con sẽ giống hạt cà phê? Loại hạt này không thể có hương vị thơm ngon nhất nếu không sôi ở 100 độ. Khi nước nóng nhất thì cà phê mới ngon.
Cuộc đời này cũng vậy con ạ. Khi sự việc tưởng như tồi tệ nhất thì chính lúc ấy lại giúp con mạnh mẽ hơn cả. Con sẽ đối mặt với những thử thách của cuộc đời như thế nào? Cà rốt, trứng hay hạt cà phê?

Để thay đổi cái nhìn bi quan, chán nản của cô con gái mình, người cha đã dùng hình ảnh rất đổi quen thuộc mà dạy cho con mình bài học vượt qua.
Cũng thế, để thay đổi tâm trạng buồn phiền, chán nản, thất vọng của hai môn đệ trên đường Em-mau, Chúa Giêsu phục sinh cũng dùng những hình ảnh xem ra rất đổi bình thuờng với chúng ta.
Bằng cách xuất hiện như một người khách bộ hành để cùng chia sẻ những ưu tư, những quan tâm mà các ông đang gặp phải. Cũng như gợi lại cho hai ông nhớ lại những Lời Chúa đã tiên báo và giải thích như xưa Ngài đã từng làm. Nhờ thế lòng các ông cảm thấy bừng cháy lên bởi Lời Chúa.
Bằng việc ở lại và ngồi vào bàn dùng bữa với các ông như khi còn sống. Nhất là qua cử chỉ “ cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ”. Đúng như cử chỉ Chúa làm khi lập bí tích Thánh Thể. Lúc đó mắt họ mở ra và nhận ra Chúa.
Nhờ sống Lời Chúa và Bí Tích Thánh Thể, ta sẽ nhận ra Chúa phục sinh hiện diện nơi những người anh em mà chúng ta gặp gỡ hàng ngày, như hai môn đệ Em-mau xưa.
Nhờ Lời Chúa và Bí Tích Thánh Thể, chúng ta sẽ có cái nhìn lạc quan trước những biến cố dưới con mắt người đời bị coi là xui xẻo, mất mác, đau thương, bất hạnh…, bởi chúng ta nhận ra Chúa phục sinh hiện diện qua các biến cố ấy.
Xin cho chúng ta biết gắng bó với Lời Chúa và kết hiệp mật thiết với Bí Tích Thánh Thể. Nhờ đó chúng ta đủ sức mạnh vượt qua mọi thử thách trong cuộc đời.

Thứ Năm (Lc 24, 35-39. 41-48)

Dẫn
Để tin nhận một điều gì đó, thông thuờng người ta cần phải kiểm chứng rõ ràng.
Dẫu tin Chúa phục sinh đã được loan báo đến các môn đệ Chúa, nhưng các ông vẫn sống trong tình trạng bán tin bán nghi. Có lẽ vì thế trong lần hiện ra với các môn đệ được tin mừng tường thuật hôm nay là để giúp cho các ông xác quyết về niềm tin phục sinh của mình.
Chúa nói “phúc cho những ai khôn gthấy mà tin”. Biết thế nhưng đức tin chúng ta còn rất yếu kém. Xin Chúa gia tăng lòng tin nơi chúng ta.
Chia sẻ
“Sự quyến rũ của người vợ”
, bộ phim đang được phát sóng trên đài truyền hình VTV3 vào 22 giờ tối, các ngày trong tuần, rất lôi cuốn khán giả với những tình tiết hấp dẫn.
Eun Jae (người vợ) hiền lành chấp nhận mọi vất vả để chu toàn tốt bổn phận phục vụ cho gia đình nhà chồng. Tuy nhiên cô luôn bị bà mẹ chồng khinh bỉ, đay nghiến. Cô rất khổ tâm không chỉ vì bà mẹ chồng ác độc mà còn vì người chồng Gyo Bin đi ngoại tình với Ae Ri (bạn của cô). Vì muốn chiếm đoạt tài sản và cưới lấy Gyo Bin làm chồng, Ae Ri đã thâm độc bày mưu cho nhà chồng Eun-jae đẩy Eun Jae vào đường cùng. Kết quả là, Eun Jae bị bố chồng đuổi ra khỏi nhà và bị chồng bỏ rơi. Chưa hết, với âm mưu chiếm đoạt tài sản của bố Gyo Bin, Ae Ri đã bày kế cho Gyo Bin giết chết đứa con của anh do Eun Jae mang trong mình, vì bố Gyo-Bin thừa kế cho đức bé đó. Thế là Gyo Bin đã đẩy Eun jae xuống biển để giết chết cả vợ cùng con.
Một người đàn bà giàu có tên Lady Min tình cờ có mặt trong vùng cùng với người con trai nuôi để tìm người con gái đang bị mất tích.
Khi thấy Eun-jae đang trôi bất tỉnh trên biển, con trai nuôi bà đã ra tay cứu. Sau khi được cứu sống, Eun-jae được thay thế vào chổ của người con gái mất tích của bà Lady Min.
Nhưng nổi nghi  ngờ luôn ám ảnh người đàn bà giàu có ấy. Bà tự hỏi, không biết sự xuất hiện của Eun-jae trong ngôi nhà bà có ý đồ gì? Thế là bà quyết định đuổi Eun-jae ra khỏi nhà. Bị dồn vào chân tường, Eun-jae không thể che dấu sự thật về thân phận của mình, nên đã trình bày hết những đau khổ mà cô gánh chịu trong suốt thời gian qua khi chung sống bên nhà chồng, Nhất là nổi đau mất con. Dù cảm thông cùng cảnh đời với bà khi xưa, nhưng bà Lady-Min vẫn chưa tin, nên bà đã gặp trực tiếp mẹ của Eun-jae để xác nhận. Sau cùng, khi nhìn thấy tấm hình của Eun-jae chụp chung với gia đình. Bà Lady-Min mới tin nhận lời Eun-jae.

Xem tình tiết này tối hôm qua, tôi lại nhớ đến bài tin mừng hôm nay.
Để thuyết phục các môn đệ  tin chắc là Chúa đã sống lại, Chúa Giêsu cũng đã phải kiên nhẫn đưa ra rất nhiều bằng chứng.
Trước hết, Chúa bảo các ông hãy nhìn tay chân của Người.
Tiếp đến, Chúa bảo họ cứ sờ vào thân thể của Người.
 Dù đưa tay chân và thân thể cho các ông xem, nhưng các ông cũng vẫn còn ngỡ ngàng. Nên Chúa tiếp tục đưa thêm bằng chứng là hỏi xem các ông có gì ăn không? Và Chúa đã cầm lấy khúc cá nướng các ông trao mà ăn trước mặt các ông. Qua đó Chúa cho họ thấy rằng chính Người đã phục sinh chứ không phải là ma hiện hình.
Cuối cùng Chúa còn phải dùng đến bằng chứng của Thánh Kinh tiên báo về Người và Lời Người đã nói  khi còn sống, để mở trí cho các ông hiểu, tất cả đều được ứng nghiệm nơi Người.
Với những bằng chứng thuyết phục, Chúa Giêsu đã minh chứng là Người đã sống lại và kêu gọi các ông hãy làm chứng về sự phục sinh của Người. Nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, kêu gọi họ ăn năn sám hối để đuợc ơn tha tội.
Chúa đã kiên nhẫn tìm mọi cách để cũng cố lòng tin nơi các môn đệ.
Xin Chúa cũng cố và gia tăng lòng tin nơi chúng ta, nhất là những khi bị thử thách về đức tin.
Chúa đã trao cho các môn đệ sứ mạng làm chứng tin mừng phục sinh sau khi gặp gỡ và tin nhận Chúa. Chúa cũng tiếp tục trao phó sứ mạng làm chứng nhân cho tất cả chúng ta. Xin cho chúng ta biết siêng năng họp nhau cầu nguyện, siêng nhận lãnh các bí tích nhờ thế đức tin chúng ta đủ mạnh để sống và làm chứng cho tin mừng phục sinh.
Thứ sáu (Ga 21,1-14)
Dẫn
Tin mừng hôm nay tường thuật Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với các tông đồ ở biển hồ Tibêria, giúp các ông đánh bắt được một mẻ cá đầy. Xin Chúa ban ơn trợ giúp chúng ta, để những việc hàng ngày của chúng ta đạt được nhiều kết quả tốt đẹp theo ý Chúa.
Chia sẻ
Khi hiện ra với các bà phụ nữ, Chúa Giêsu bảo các bà về báo tin cho các môn đệ đến Galilê để gặp Người. Nghe theo lời loan báo những người phụ nữ các môn đệ trở về Galilê. Trong tâm trạng buồn bã, các ông rủ nhau đi đánh cá. Tuy Các ông là những những đánh cá chuyên nghiệp, vậy mà đánh bắt cả đêm chẳng được con cá nào. Thất vọng, mệt mỏi cuốn lưới định nghỉ ngơi, thì lúc đó, Chúa Giêsu hiện đến, bảo các ông thả lưới bên phải thuyền, nơi gần bờ. Các ông tin vào Lời ấy mà thả lưới. Kết quả, đánh được một mẻ cá đầy, không sao kéo lên nỗi. Bấy giờ, Gioan nhận ra nói đó là Chúa, Phêrô mặc ngay áo vào, nhảy xuống biển, bơi vào bờ.
Trên bờ, Chúa Giêsu đã chuẩn bị sẵn bữa ăn sáng cho các ông với cá nướng và bánh. Trong bữa ăn Người cầm bánh và cá trao cho các ông, một cử chỉ quen thuộc giúp các ông càng xác tín Chúa đã phục sinh.
Lời Chúa hôm nay xác quyết cho chúng ta hiểu rằng: “không có Ta, các ngươi không làm gì được”. Bằng chứng, Các môn đệ đã vất vã, cực nhọc suốt đêm mà chẳng có gì. Nhưng khi có sự hiện diện của Chúa, các ông bắt được rất nhiều cá.
Xin cho chúng ta đừng bao giờ kiêu căng, tự mãn về những hiểu biết và khả năng của mình, nhưng luôn khiêm tốn tin tưởng vào sự hướng dẫn của Chúa.

Thứ bảy (Mc 16,9-15)

Dẫn
Tin mừng hôm nay tóm kết về những lần hiện ra của Chúa phục sinh. Điều đáng ghi nhận là khi hiện ra với ai, Chúa cũng cố lòng tin họ, sai họ đi làm chứng cho Chúa.
Xin Chúa cũng cố lòng tin nơi chúng ta, để chúng ta can đảm làm chứng nhân cho Chúa giữa dòng đời đời hôm nay còn lắm gian nan.

Chia sẻ
Sau khi sống lại, mỗi lần hiện ra,Chúa đều kêu gọi làm chứng cho tin mừng phục sinh.
Khi hiện ra với bà Maria Macđala, Chúa sai bà đi loan tin cho các môn đệ. Nhưng các ông không tin.
Chúa phục sinh lại hiện ra với hai môn đệ trên đường Em-mau, hai ông về báo tin, nhưng các môn đệ khác cũng không tin.
Sau cùng Chúa hiện ra với các tông đồ đang ngồi ăn trong nhà tiệc ly, Nguời trách các ông không tin những kẻ đã thấy và làm chứng Nguời sống lại, rồi kêu gọi các ông đi loan báo tin mừng cứu độ.
Như thế, để đón nhận tin mừng phục sinh không phải là dễ, cần phải kiên nhẫn và thời gian.
Trãi qua hơn hai ngàn năm, Giáo Hội không ngừng rao giảng tin mừng cứu độ. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều người chưa tin nhận Chúa.
Xin cho chúng ta đừng nản lòng, nhưng luôn nổ lực thi hành lệnh truyền của Chúa Phục sinh mà kiên trì rao giảng không ngừng.
Ngày hôm nay, người ta không tin lời thầy dạy cho bằng tin vào những chứng nhân. Xin cho chúng ta ý thức không chỉ rao giảng bằng lời nhưng còn bằng đời sống chứng tá yêu thương. Nhờ thế tin mừng phục sinh có sức thuyết phục mạnh mẽ và đáng tin cậy với mọi người hơn.



  SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN XIX THƯỜNG NIÊN  Lm. Clemente Nguyễn Văn Lanh CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN-NĂM A 1V 19,9a.11-13a; Rm 9,1-5; Mt 1...