Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2022


SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN VI PHỤC SINH

Lm. Vĩnh Hòa

CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH C

Cv 15,1-2.22-29; Kh 21,10-14.22-23; Ga 14,23-29

Tin mừng hôm nay ghi lại những lời nhắn nhủ đầy tâm quyết của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ trước khi Ngài bước vào cuộc khổ nạn, chịu chết, sống lại và lên trời. Đây được xem như là một bản di chúc ngắn gọn, chan chứa tình yêu mà Chúa Giêsu dành cho các môn đệ cũng như nhân loại chúng ta: Bản di chúc này bao gồm tóm trong hai điều căn bản:

1. Lời căn dặn: “Các con hãy yêu mến Thầy và hãy tuân giữ lời Thầy”.

Yêu mến và giữ lời là hai mặt trong một vấn đề. Có yêu mến thì mới giữ lời và có giữ lời thì mới nói lên lòng yêu mến. Càng yêu mến ai thì ta càng muốn nghe và tha thiết giữ lời người mình yêu mến. Ngược lại càng tích cực tuân giữ lời ai đó là dấu chỉ nói lên lòng yêu mến tha thiết với người mình yêu.

Thật vậy, để trở nên người môn đệ đích thực của Chúa Giêsu, trước hết chúng ta phải có lòng yêu mến Chúa, bằng cách đặt Chúa vào vị trí cao nhất trong cuộc đời của ta. Ưu tiên chọn Chúa làm giá trị hàng đầu trong cuộc sống mình. Khi yêu mến Chúa, ta sẽ gắn bó mật thiết với Chúa. Định luật tình yêu dạy ta hiểu rằng: Yêu ai thì thích “ở gần” người đó, yêu ai thì muốn “ở bên” người đó và yêu ai thì muốn “ở với” và “ở trong” ngườiấy với khao khát trở nên một với người mình yêu.

Thước đo của lòng yêu mến Chúa nơi chúng ta nhiều hay ít hệ tại ở việc chúng ta có tuân giữ lời Chúa ở mức độ nào. Nếu chúng ta nói chúng ta yêu mến Thiên Chúa mà chúng ta không thực hành lời Chúa dạy, thì có khác gì đứa con “gọi dạ bảo vâng”, nhưng chỉ vâng vâng, dạ dạ mà không làm theo lời cha mẹ chỉ dạy, thì tình yêu đó chỉ là thứ tình yêu giả hình, thứ tình yêu đầu môi trót lưỡi. Vì thế, Chúa Giêsu luôn nhấn mạnh đến lợi ích và giá trị của việc nghe và làm theo lời Chúa: Ai nghe và thực hành lời Chúa giống như người khôn xây nhà trên nền đá”; “hãy làm theo lời Chúa chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình”. Lý thuyết và thực hành phải đi đôi mới giá trị và có ích lợi, bởi vì nếu “đức tin không việc làm là đức tin chết” (Gc 2, 17).

2. Lời hứa ban: Ban Chúa Thánh Thần và bình an đích thật cho các môn đệ.

Chúa Giêsu ra đi về với Chúa Cha sẽ làm cho các môn đệ hoang mang sợ hãi. Vì thế để chấn an các ngài, Chúa Giêsu hứa ban Thánh Thần là thần chân lý, là đấng bảo trợ…sẽ đến và ở với các ông. Ngài sẽ nâng đỡ, hướng dẫn và ban sức mạnh để các môn đệ can đảm sống và làm chứng nhân cho Chúa.

Chưa bao giờ con người lại phải đối diện trước những lo âu, bối rối, sợ hãi và bất an như ngày hôm nay. Chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh… xảy ra hàng ngày trên khắp cùng trái đất. Thất nghiệp, vật giá leo thang, trộm cắp… gia tăng đến mức báo động.  Ly dị, phá thai, bất trung, tệ nạn xã hội …không ngừng gia tăng. Vì thế hơn lúc nào hết, con người ngày hôm nay luôn khao khát có được cuộc sống bình an đích thực.

Để chốn chạy nỗi lo sợ, buồn phiền, bất an, con người thường chỉ biết dựa vào của cải vật chất để trấn an tâm hồn đấy bất an. Chẳng hạn như:  Mua bảo hiểm xe cộ, nhà cửa, nhân mạng, y tế…Hằng đêm mơ mộng để đánh con số đề, mua tấm vé kiến thiết hy vọng bớt đi những lo âu về tiến bạc. Kẻ thì lao mình vào rượu chè và những thú vui khác để tìm những phút giây thoải mái quên đi chuyện đời. Người thì uống thuốc an thần để đi tìm giấc ngủ hy vọng quên đi những muộn phiền. Kẻ dễ tin thì đi tìm thầy bói, thầy tướng, thầy số… để kiếm tìm hậu vận cho tương lai. Người giàu có thì gởi tiền và vàng vào ngân hàng để được an tâm… Nhưng tất cả những việc làm ấy chỉ là giải pháp tạm thời, thiếu căn cơ và không bền vững nên không thể đem lại nguồn bình an đích thực cho tâm hồn. Vì thế, Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “Sự bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng” (Ga 14, 27).

Bình an của Ngài không phải là thứ bình an bên ngoài, giả tạo. Nhưng là bình an bên trong, nghĩa là không giống như sự yên ổn hay hòa bình, vì yên ổn hay hòa bình là ở bên ngoài còn bình an thì ở bên trong.

Bình an là tình trạng tâm hồn đang tương quan tốt với Thiên Chúa và tha nhân.

Bình an của Chúa là bình an khi có Chúa làm chủ đời sống mình, luôn tin tưởng, phó thác và vâng theo ý Chúa trong mọi cảnh huống của cuộc đời.

Bình an của Chúa là có một tâm hồn trong sạch, được giao hòa với Chúa và anh em.

Bình an của Chúa ban tặng còn được hiểu là bình an với anh em mình. Sống hoà thuận với nhau, không thấy mình có điều gì làm phiền lòng anh em và thấy anh em không có điều gì làm phiền lòng mình.

Chỉ có bình an của Chúa mới làm cho chúng ta được hạnh phúc. Bởi vì bình an là thông hiệp với Thiên Chúa. Chúa Giêsu nhờ thông hiệp mật thiết với Thiên Chúa Cha nên Ngài luôn thấy bình an ngay khi kẻ thù đang đến gần và sắp giết chết Ngài.

Xin Chúa cho chúng ta luôn hết lòng tuân giữ và thực hành lời Chúa bằng tình yêu mến. Biết đặt Chúa vào vị trí quan trọng trong cuộc sống và sẵn sàng chọn Chúa làm gia nghiệp đời ta. Làm được như thế chứng tỏ là chúng ta yêu mến Chúa và xứng danh là con cái đích thực của Chúa và nhờ đó ta mới xứng đáng đón nhận sự bình an đích thực của Chúa ban tặng.

 

Thứ hai: Cv 16, 11-15; Ga 15, 26-16, 4

Tin mừng hôm nay, thánh Gioan ghi lại những lời trăn trối đầy yêu thương của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ trước khi Ngài rời xa các ông để bước vào cuộc khổ nạn, chịu chết, sống lại và lên trời.

Đoạn tin mừng hôm nay ghi lại hai lời trăn trối rất quan trọng mà Chúa Giêsu để lại cho các môn đệ:

1. Hứa ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ.

Để động viên và an ủi các môn đệ trong tình cảnh đau buồn của kẻ ở người đi, Ngài hứa sẽ không bỏ rơi các môn đệ như những đứa con mồ côi, mà Ngài sẽ ban cho các ông một Đấng Phù Trợ khác, cũng là Thần Chân Lý đến ở với các ông luôn mãi, đó là Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần sẽ hướng dẫn và bảo trợ các ông trong sứ vụ làm chứng nhân cho Chúa sau này.

2. Nhắc nhở các ông về sứ mạng làm chứng nhân cho Chúa.

Vì các tông đồ là những người “đã ở với Chúa Giêsu từ ban đầu”, nên lời chứng của các tông đồ có giá trị, dễ thuyết phục người nghe. Tuy nhiên để khỏi bị vấp ngã trong sứ vụ sau này, Chúa cũng báo trước cho các môn đệ biết, sẽ gặp nhiều khó khăn và thử thách, bởi sự chống đối của người đời vì họ không hiểu và không nhận biết Chúa Cha và Ngài: “Người ta sẽ loại các con ra khỏi hội đường. Đã đến giờ kẻ giết các con tưởng làm thế là phụng sự Thiên Chúa; và vì họ không biết Cha, cũng không biết Thầy.” Nhưng hãy an tâm thi hành sứ mạng, vì có Chúa Thánh Thần là Đấng Phù Trợ và là Thần Chân Lý luôn ở bên bảo vệ, che chở và hướng dẫn các ông.

3. Vai trò phù trợ của Chúa Thánh Thần được minh chứng cách cụ thể qua trình thuật hoạt động truyền giáo của tông đồ Phaolô trong bài đọc 1 hôm nay.

Sách Cvtđ ghi nhận, cuộc hành trình truyền giáo thứ hai của Phaolô đang lúc bị trắc trở vì CTT ngăn cản không cho ông đi xuống phía nam và cũng không cho ngài đi lên bắc nên buộc ngài phải rẽ sang hướng tây, xuống tàu để vào vùng đất Châu Âu. Để giúp cho Phaolô khỏi phải bỡ ngỡ không biết đi đến đâu để truyền giáo, Chúa Thánh Thần đã đưa dẫn một chàng thanh niên Macêđônia đến với Phaolô và mời gọi ngài đến Philipphê mà rao giảng (các nhà nghiên cứu cho rằng chàng thanh niên Macêđônia đó là thầy thuốc Luca, bởi vì kể từ lúc ấy, trình thuật của sách Cvtđ chuyển sang dùng đại danh từ “chúng ta” một cách bất ngờ).

Phái đoàn truyền giáo bấy giờ gồm 4 người: Xila, Timôthê, Luca và Phaolô đến thành Philipphê là trung tâm của tỉnh Macêđônia, thuộc quyền cai trị của chính quyền Rôma, có thể nói đây là địa điểm đầu tiên thuộc vùng đất Châu Âu. Tại đây Chúa Thánh Thần lại tiếp tục an bài cho Phaolô gặp được “một bà tên là Lyđia, buôn vải gấm, quê ở Thyatira, có lòng thờ Chúa”, bà sẵn sàng mở lòng để đòn nhận lời rao giảng của Phaolô và đã chịu phép rửa cùng với những người trong gia đình bà. Bà cũng là người hiếu khách nên đã nài xin Phaolô cùng đoàn truyền giáo đến ở nhà bà mà thi hành sứ vụ: “Nếu các ngài xét thấy tôi đã nên tín đồ của Chúa, thì xin đến ngụ tại nhà tôi.”. Nhờ vậy mà Phaolô có điều kiện để nhanh chóng thành lập cộng đoàn tín hữu tại Philipphê. Đây được xem là cộng đoàn tiên khởi bên vùng đất Châu Âu.

Sứ mạng làm chứng nhân cho Chúa là bổn phận và trách nhiệm của mỗi tín hữu chúng ta. Nhưng để làm chứng có kết quả tốt ngoài việc nhiệt tình hết lòng với sứ vụ, ta còn phải cần phải biết khiêm tốn lắng nghe sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và sự cộng tác của nhiều người với niềm tin tưởng, phó thác vào sự an bài của Chúa.

 

Suy niệm 2:

Phúc âm tuần này, cách cụ thể hôm nay đề cao vai trò của CTT trong sứ mạng làm chứng cho Chúa Kitô. Ngài là Đấng Phù Trợ và là Thần Chân Lý nên Ngài sẽ hướng dẫn và nâng đỡ cho các môn đệ thực thi sứ mạng làm chứng cách có hiệu quả nhất. Sứ mạng làm chứng hay loan báo tin mừng cũng là nhiệm vụ Chúa trao ban cho mỗi người kitô hữu chúng ta. Vậy chúng ta hãy cầu xin CTT hướng dẫn và trợ giúp ta thi hành thật tốt sứ mạng quan trọng này.

Lịch sử của GH trãi qua hơn 2000 năm cho thấy, việc loan báo tin mừng lúc nào cũng gặp phải những khó khăn, chống đối. Có những chống đối đến từ bên ngoài nhưng cũng có những khó khăn xuất phát từ bên trong GH. Tuy nhiên không vì thế mà GH chùn bước và bỏ cuộc. Kinh nghiệm giúp chúng ta hiểu rằng, để làm tốt sứ mạng này, ta cần phải lưu tâm đến những điều do Chúa Giêsu chỉ dạy:

- Lưu tâm đến vai trò quan trọng của CTT, bởi “Ngài là Đấng Phù Trợ và là Thần Chân Lý bởi Cha mà ra”, Ngài sẽ hướng dẫn, bảo vệ và bên đỡ chúng ta trong mọi hoàn cảnh. Vì thế mà chúng ta cần phải luôn cầu xin và nghe theo sự hướng dẫn khôn ngoan của CTT.

- Phải tích cực làm chứng nhân cho Chúa trong nhẫn nại và kiên trì, bằng lời nói và việc làm cụ thể. Đức thánh Gíao Hoàng Phaolô VI nói: “Người thời nay tin vào các chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có tin vào thầy dạy là vì các thầy dạy ấy đã là những chứng nhân”.

Chính thánh Phêrô cũng đã mời gọi các tín hữu đang sống trong hoàn cảnh chịu bách hại:“hãy can đảm trả lời mọi chấp vấn cho những ai thù ghét mình với giọng điệu hiền hòa và lòng kính trọng. Nhất là phải luôn sống tốt lành ngay chính theo lương tâm hướng dẫn. Được như vậy mới làm cho những kẻ thù ghét và bách hại mình phải xấu hổ vì đã đối xử không tốt với chúng ta.” (x. 1 Pr 3,15-18).

Nguyện xin CTT nâng đỡ, hướng dẫn và thúc giục chúng ta nỗ lực thi hành sứ mạng làm chứng cho Chúa trong mọi hoàn cảnh, với mong muốn danh thánh của Chúa được mọi người biết đến và tin nhận. Amen.

 

Thứ ba: Cv 16, 22-34; Ga 16, 5b-11

Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục cho các môn đệ biết vai trò và sứ mạng của Chúa Thánh Thần. Ngài là Thần Chân Lý nên Ngài sẽ vạch ra cho thế gian thấy được những sai lầm của họ. Chúa Thánh Thần đến sẽ chứng minh cho thế gian nhận ra ba thứ sai lầm:

1.  “Về tội lỗi”: đối với người Do Thái xưa, đó là tội đã không tin vào Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, nên họ đã không nghe và sống theo giáo huấn Người hướng dẫn. Còn đối với chúng ta ngày nay, mặc dầu chúng ta tin Chúa, nhưng vì kiêu căng chúng ta lại thích làm theo ý riêng mình hơn là sống theo ý muốn của Chúa. Từ đó đưa dẫn chúng ta đi vào con đường lầm lạc, tội lỗi. Chúa Thánh Thần sẽ cho chúng ta nhận ra điều đó.

2. “Về sự công chính”: đối với người Do Thái, vì không nhìn nhận Chúa Giêsu là Đấng Công Chính nên họ đã lên án và giết chết Ngài. Đối với chúng ta ngày nay, do ảnh hưởng bởi chủ nghĩa tương đối nên chúng ta dễ dàng bóp méo hình ảnh về một Thiên Chúa chân thật. Hơn nữa, do bị ảnh hưởng bởi giới tục hóa, nên con người thời nay dễ dàng bị chủ nghĩa vô thần, tiền bạc, khoái lạc cuốn trôi. Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã từng nhận định: “Tội lớn nhất hiện nay của nhân loại là con người đang đánh mất dần cảm thức về tội lỗi.”.

3. “Về việc xét xử”: ngày xưa Thượng Hội đồng Do Thái đã xử án tử Chúa Giêsu và nhiều người Do Thái đã đồng tình với bản án ấy, bởi vì được xử không chỉ bởi phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm mà còn là giám đốc thẩm, một cơ quan có thẩm quyền cao nhất. Tuy nhiên sau cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, họ mới nhận ra đó là bản án sự sai lầm vì không dựa vào công lý mà lại dựa trên dư luận và hận thù. Chúng ta ngày nay nhiều khi cũng dựa vào dư luận và cảm tính nên có cái nhìn không đúng về người khác dẫn đến những sai lạc tai hại.

Đoạn sách Cvtđ hôm nay cũng cho biết, do thánh Phaolô trục xuất thần Ốp ra khỏi người đầy tớ gái, đụng chạm đến túi tiền của chủ cô ta, vì từ nay cô ta không còn khả năng bói toán làm lợi cho người chủ này nữa, nên họ đã túm lấy Phaolô và Xila, lôi đến quảng trường, đưa ra trước nhà chức trách mà tố cáo Phaolô và Xila là người Do Thái đã gây xáo trộn trong thành phố, vì đã truyền bá những tập tục chống lại người Rôma. Nên cả đám đông chống đối hai ông, các quan tòa thì tức giận ra lệnh đánh đòn Phaolô và Xila nhừ tử rồi nhốt hai ông vào trong ngục, giao người canh giữ cẩn thận. Dầu vậy, Phalô và Xila luôn tin tưởng vào sự quan phòng của Chúa, nên hai ông vẫn lạc quan ca hát và cầu nguyện. Với vai trò bảo trợ, CTT đã ra tay giải thoát hai ông thoát khỏi xiềng xích và nhà tù cách lạ lùng, Ngài còn cảm hóa cả viên cai ngục và cả gia đình ông tin theo Chúa Giêsu, với niềm hy vọng vào ơn cứu độ, nhờ lời giảng dạy của Phaolô. Hơn hết, CTT còn soi sáng cho quan tòa nhận ra sự sai lầm của mình nên ông đã xin lỗi Phaolô và Xila rồi ra lệnh thả hai ngài. Phaolô trở lại nhà bà Lyđia để thăm và khuyên nhủ các tín hữu. Sau đó ngài rời Philipphê để đến Thêxalônia.

Xin cho chúng ta luôn biết tin tưởng phó thác vào sự hướng dẫn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần. Nhất là cho chúng ta luôn biết khiêm tốn nhận ra những lầm lỗi, yếu đuối của mình và can đảm sửa đổi đời sống cho ngày càng hoàn thiện hơn.

 

Suy niệm 2:

Chúa Giêsu biết sự ra đi của Ngài về với Chúa Cha sẽ để lại một khoản trống rất lớn đối với các môn đệ, khiến cho các ông phải u sầu vì không còn được Thầy ở bên, mặt giáp mặt, theo nghĩa hữu hình. Biết được điều đó nên Người đã chấn an các môn đệ và hứa ban CTT đến ở với các ông. CTT là Đấng Phù Trợ nên Ngài có vai trò bên vực và bảo vệ các môn đệ, qua việc “chứng minh rằng thế gian sai lầm” ở ba điểm:

- Sai lầm thứ nhất là “về tội lỗi”, vì họ đã không tin vào Đức Giêsu là đấng cứu độ.

- Sai lầm thứ hai là “về sự công chính”, vì không tin nhận Người đến từ Chúa Cha và những lời giảng dạy của Người là chân lý.

- Sai lầm thứ ba là “về án phạt”, vì thủ lãnh thế gian này đã bị xét xử. Cho thấy uy quyền TC nơi Đức Giêsu và hậu quả của việc chống đối Người.

Qua đoạn Tin Mừng, chúng ta có thể rút ra được những bài học này là mỗi người chúng ta, cần phải khiêm tốn nhìn nhận về mình còn nhiều sai sót lỗi lầm, bởi vì không ai là hoàn hảo cả. Chúng ta luôn cần phải nhờ ơn Chúa Thánh Thần soi sáng hướng dẫn, ta mới thấy rõ và thấy đúng được những lầm lạc của mình. Việc nhận ra những sai lầm là điều rất cần thiết và rất hữu ích để chúng ta kịp thời chấn chỉnh lại đời sống mà thăng tiến bản thân cho phù hợp thánh ý TC.

Lạy Chúa Thánh Thần, Ngài đang hiện diện từng giây phút trong đời sống chúng con. Thế mà, lắm lúc chúng con đã quên mất sự hiện diện của Ngài. Tuy nhiên, chúng con biết Chúa vẫn rất yêu thương chúng con, Ngài không rời bỏ chúng con ngay cả lúc chúng con lãng quên Ngài. Chúng con thật lòng xin lỗi Chúa và xin Chúa tiếp tục ban ơn soi sáng, để chúng con nhận ra những sai lầm, yếu đuối, tội lỗi của mình mà chấn chỉnh lại đời sống cho đẹp lòng Chúa hơn. Amen.

 

Thứ tư:  Cv 17, 15. 22-18,1; Ga 16, 12-15

Suy niệm 1:

Tin mừng hôm nay tiếp tục đề cập đến vài trò và sứ mạng của CTT. Ngài có vai trò tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu, giúp các môn đệ cũng như chúng ta nhận ra được sự thật toàn vẹn. Xin cho chúng ta biết mở lòng đón nhận CTT vào trong tâm hồn để Ngài hướng dẫn chúng ta đến với thật toàn vẹn.

Trong suốt 3 năm theo Chúa Giêsu bôn ba trên khắp mọi nẻo đường Palestina để rao giảng tin mừng, các môn đệ đã nghe biết bao lời giáo huấn của Chúa Giêsu và chứng kiến biết bao phép lạ Ngài làm, thế nhưng lúc ấy các ông không hiểu hay không hiểu hết chân lý do Chúa Giêsu truyền dạy. Nên có lần các ông thốt lên: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” (Ga 6,60).

Mãi đến khi Chúa Giêsu sắp về cùng Chúa Cha, vậy mà các ông vẫn không hiểu hết những lời giảng dạy của Ngài. Dầu vậy Chúa Giêsu vẫn kiên nhẫn chấp nhận sự giới hạn của các ông với hy vọng thời gian và nhờ ơn sủng của CTT, các ông sẽ hiểu được những lời Ngài giảng dạy.

Qủa thật, trước đây có nhiều điều các môn đệ không hiểu nỗi, nhưng sau khi đón nhận CTT trong ngày lễ ngũ tuần, các môn đệ đã thay đổi cách lạ lùng. Các ngài đã nhận ra chân lý của tin mừng nên đã sẵn sàng sống chết để làm chứng cho chân lý đã tin nhận.

Con người chúng ta hay kiêu căng tự mãn cho rằng mình hiểu biết tất cả, nhưng thật ra chúng ta rất giới hạn, chỉ biết ra một phần của sự thật. Bầu trời thì bao la, kiến thức thì mênh mong như đại dương, ta làm sao hiểu hết được mọi lãnh vực trong đời sống; nhất là những chân lý mầu nhiệm làm sao ta có thể suy thấu nếu không được sự hướng dẫn và soi sáng của CTT.

Vậy xin Chúa Thánh Thần thanh luyện tâm hồn ta nên trinh trong, để lương tâm ta luôn trong sáng, ngỏ hầu ta có thể dễ dàng nghe được tiếng nói của CTT nơi tâm hồn chúng ta mà, nhận ra chân lý toàn vẹn do Chúa Giêsu giảng dạy. Amen.

 

Suy niệm 2:

Cả cuộc đời của Đức Giêsu là lời mạc khải tròn đầy về Thiên Chúa, về kế hoạch và đường lối cứu độ của Ngài, nhưng không phải tất cả những gì Đức Giêsu nói và những việc Đức Giêsu làm được các môn đệ hiểu, để đến với sự thật toàn vẹn.

Đức Giêsu trong Tin mừng hôm nay đã khẳng định với các môn đệ: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em, nhưng bây giờ anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn.”  Như thế, để hiều tất cả những gì Đức Giêsu giảng dạy cách toàn vẹn, các môn đệ cần đến sự soi sáng và hướng dẫn của Thánh Thần.

Vì thế, trước khi đi vào cuộc thương khó, chịu chết, sống lại và đi về nhà Cha, Đức Giêsu đã nói với các môn đệ về Thần Khí sự thật, về vai trò của Người trong việc mạc khải. Các môn đệ sẽ hiểu hết tất cả những gì Đức Giêsu mạc khải, và nhất là sẽ đến được với chân lý toàn vẹn nhờ Thần Khí sự thật. Quả vậy, đúng như lời Đức Giêsu nói, Thần Khí sự thật được ban xuống bởi Đức Giêsu từ Chúa Cha cho các môn đệ trong ngày lễ Ngũ Tuần.

Nhờ sự xuất hiện của Thần Khí sự thật, không những các môn đệ đã hiểu, đã đến được với chân lý toàn vẹn, mà các ngài còn đủ khôn ngoan, can đảm và sức mạnh để rao giảng và làm chứng cho tin mừng của Chúa.

Sách Cv kể rằng, lần đầu tiên Phêrô rao giảng sau khi lãnh nhận Thánh Thần vào ngày lễ Ngũ Tuần, đã có hơn 3000 người xin lãnh nhận phép rửa.

Những lời rao giảng của các ông vừa khôn ngoan, vừa mạnh mẽ, vượt lên trên khả năng tự nhiên của các ông. Phêrô chỉ là người làm nghề chài lưới, Matthêu là người thu thuế,... vậy mà rao giảng, viết sách y như một nhà thông thái. Làm được những việc lớn lao cả thể ấy, không phải do sức riêng, nhưng do Thánh Thần.

Đức Giêsu là mạc khải tròn đầy của Thiên Chúa, nhưng mạc khải ấy chỉ được hiểu đầy đủ, trọn vẹn nhờ Thần Khí sự thật được ban xuống theo đúng lời hứa của Đức Giêsu. Xin cho mỗi tâm hồn tín hữu Chúa luôn mở ra và được đổ đầy Thần Khí sự thật, để ai nấy đều hiểu được mạc khải của Đức Giêsu và nhất là được Đức Giêsu dẫn đến với sự thật toàn vẹn. Amen.

 

Thứ năm: Cv 18, 1-8; Ga 16, 16-20

Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với các môn đệ về những vui buồn trong đời sống. Niềm vui và nỗi buồn là lẽ thường tình trong cuộc sống bất tất trong cuộc đời này, nên ta cần phải bình tỉnh đón nhận trong niềm hy vọng và phó thác vào tình thương và quyền năng của Chúa.

Xin Chúa cho chúng ta đừng bao giờ thất vọng khi gặp đau buồn và cũng đừng phá phấn khích khi gặp được niềm vui, nhưng luôn biết giữ được sự quân bình trong mọi hoàn cảnh của đời sống với lòng tin tưởng phó thác vào sự quan phòng của Chúa Giêsu phục sinh luôn ở cùng chúng ta.

Chúa Giêsu biết rằng sự ra đi về với Chúa Cha sẽ làm cho các môn đệ đau buồn vì không thấy Ngài, Tuy nhiên nỗi buồn ấy sẽ biến thành niềm vui vì Ngài về cùng Chúa Cha và sẽ bảo vệ, nâng đỡ, hỗ trợ các môn đệ tích cực hơn. Nhất là mở ra một tương lai sáng ngời cho niềm hy vọng vào sự sống mai sau.

Trong thế gian này, không ai tránh khỏi những vui buồn. Tuy nhiên có những niềm vui chóng vánh, sau đó để lại nỗi buồn vô hạn bởi đó chỉ là niềm vui của thế gian. Nhưng có những nỗi buồn khiến ta tê tái lòng nhưng chưa hẳn là tăm tối, vì phía bên kia đường hầm tăm tối là ánh sáng rạng ngời của niềm vui.

Chúa Giêsu cũng từng trãi qua những đau buồn tột cùng của kiếp người nhưng với niềm tin tưởng và phó thác vào quyền năng và tình thương Chúa Cha nên Ngài đã đón nhận với thái độ an nhiên và niềm hy vọng vào sự phục sinh và mang đến ơn cứu độ cho nhân loại.

Vì thế ta đừng quá phấn khích khi có được niềm vui chóng qua của thế gian, vì thường sau khi lao vào những cuộc vui ấy, ta dễ dàng đánh mất chính mình, hậu quả tai hại là để lại nơi tâm hồn ta một sự trống vắng, bất an và chán chường.

Xin cho chúng ta biết đón nhận những đau buồn vốn xảy ra cách thường tình trong cuộc đời này. Nhưng trong những lúc ấy xin cho chúng ta biết kiên nhẫn đón nhận với niềm tin và hy vọng vào sức mạnh và tình thương của Chúa Giêsu Phục, tin rằng chúng ta sẽ dễ dàng vượt qua vì “ơn Ta đủ cho con”. Nhờ đó mà nỗi buồn sẽ biến thành niềm vui. Amen.

 

Thứ sáu: Cv 18, 9-18; Ga 16, 20-23a

Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng hình ảnh người mẹ sắp sinh con để sánh ví với nỗi buồn-niềm vui của người môn đệ Chúa nơi trần gian này.

Xin cho chúng ta biết tích cực đón nhận những nghịch cảnh xảy ra trong đời với niềm tin tưởng và hy vọng vào sự phục sinh vinh quang của Chúa Giêsu Kitô.

Cuộc sống chúng ta có nhiều niềm vui, có những niềm vui chóng qua nhưng cũng có những niềm vui lâu dài, bền vững.

Có những niềm vui đến từ vật chất, khiến lòng ta cảm thấy vui, vì nó đáp ứng được những đòi hỏi ham muốn của thể xác. Nhưng niềm vui ấy chóng qua.

Có những niềm vui đến từ những giá trị tinh thần, khiếm tâm hồn ta cảm thấy hạnh phúc vì cảm nếm được những điều ngọt ngào và mới mẽ trong đời sống phong phú này. Nhưng xét cho cùng niềm vui đến từ giá trị tinh thần rồi cũng qua đi, bởi vì nó chỉ là niềm vui do thế gian ban tặng.

Có một thứ niềm vui tồn tại vĩnh viễn, niềm vui này không ai lấy mất được. Đó là niềm vui trong Chúa mà Chúa Giêsu nói đến trong bài tin mừng hôm nay.

Các thánh tử đạo cũng trãi qua những đau khổ và ngay cả hy sinh mạng sống mình, nhưng các ngài cảm thấy chan chứa niềm vui dầu phải bước ra pháp trường chịu chết. Bởi lẽ, các ngài có Chúa trong tâm hồn.

Dịch Covid-19 là kinh nghiệm cho chúng ta nhận ra điều ấy, đau khổ, mất mác nhưng không làm ta mất đi niềm tin và hy vọng. Là người tín hữu ta luôn tin rằng ánh sáng luôn chiếu tỏa phía sau con đường hầm tăm tối. Chúa có cách để viết đường thẳng từ những đường cong.

Niềm vui mà Chúa Giêsu nói đến không phải là niềm vui gây ra đau khổ cho bản thân và người khác; nỗi buồn của người môn đệ Chúa không phải là nỗi buồn gặm nhắm con tim và gây ra đau khổ cho người khác, mà là nỗi buồn trong niềm tin và hy vọng vào một tương lại tốt đẹp, tựa như người phụ nữ sắp sinh con với niềm vui và hy vọng vào tương lại tuyệt đẹp chờ đợi phía trước khi biết được có một sự sống chào dời.

Chúa Giêsu cũng đã trãi qua đau buồn nhưng nỗi buồn đó lại đem đến niềm vui ơn cứu rỗi cho nhân loại sau cái chết và sự phục sinh của Người.

Chúng ta chỉ có niềm vui ấy khi chúng ta đi theo con đường Chúa đi, nghe theo giáo huấn do Chúa chỉ dạy và sống với ơn thánh do Chúa thương ban.

 

Thứ bảy: Cv 18, 23-28; Ga 16, 23b-28

Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu nói đến sự liên kết mật thiết giữa Chúa Cha và chúng ta, qua vai trò trung gian của Ngài. Nên Ngài khuyên các môn đệ cũng như chúng ta hãy cầu xin với Chúa Cha, nhân danh Ngài với lòng tin tưởng sẽ được Chúa Cha lắng nghe và ban cho chúng ta có được niềm vui trọn vẹn.

Ý thức điều đó, chúng ta hãy siêng năng cầu nguyện với Chúa Cha nhờ danh Chúa Giêsu, đó là sứ điệp được nhấn mạnh trong tin mừng hôm nay.

Ta có thể chia đoạn tin mừng hôm nay làm hai phần:

1. Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ hãy năng tưởng đến Chúa Cha mà dâng lên Người những lời nguyện xin. Tuy nhiên những lời nguyện xin ấy phải được hiệp nhất trong Ngài, tin chắc sẽ đẹp lòng Chúa Cha và sẽ được Chúa Cha lắng nghe và nhận lời. Nhưng hình như các môn đệ ít năng tưởng đến Chúa Cha và ít khi cầu xin với Người. Lời nhắc bảo này của Chúa Giêsu cũng nhằm đến chúng ta, vì chúng ta cũng ít khi nhớ đến Chúa Cha để cầu xin với Người. Vậy chúng ta hãy ghi nhớ điều Chúa Giêsu chỉ dạy, mà hiệp thông với Ngài trong lời cầu xin với Chúa Cha.

2. Chúa Giêsu nói cho ta biết lý do tại sao Chúa Cha nhận lời cầu xin của chúng ta.

- Bởi vì Chúa Cha luôn yêu thương chúng ta con cái của Người: “Chính Cha yêu mến các con, bởi vì chúng con yêu mến Thầy”.

- Chúng ta được Chúa Giêsu cứu chuộc bằng giá máu của Người, mà Chúa Giêsu là con yêu dấu Chúa Cha “Thầy bởi Thiên Chúa mà ra”. Nên khi nhân danh Chúa Giêsu mà cầu xin là Chúa Cha sẽ nghe lời cầu xin của chúng ta.

- Chúa Giêsu từ Chúa Cha mà đến thế gian và từ thế gian mà trở về cùng với Chúa Cha “Thầy bởi Cha mà ra, và đã đến trong thế gian, rồi bây giờ Thầy bỏ thế gian mà về cùng Cha”, từ đó mở đường cho chúng ta đến được với Chúa Cha. Hơn nữa khi ngự bên hữu Chúa Cha trong vinh quang nước trời, Chúa Giêsu sẽ không quên chúng ta “Thầy đi để dọn chỗ cho các con. Và khi Thầy đã ra đi và dọn chỗ cho các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó.  (Ga 14, 3)

“Tựa như một thái tử sống trong một vương quốc thịnh vượng, hùng cường, giàu sang, Thái Tử ấy có một vị vua cha rất nhân từ, bao dung và sẵn lòng giúp đỡ con dân nghèo khổ. Thái Tử ấy đến thăm và sống với dân nghèo nên cảm thương tìm mọi cách để cứu giúp họ. Nay Thái Tử ấy về lại với vua cha nên tha thiết kêu gọi dân chúng gửi lời cầu xin vua cha, bởi Thái Tử tin chắc chắn vua cha sẽ ban phúc cho họ nhờ nhân danh Thái Tử vì vua cha hài lòng về điều đó.”.

Đó cũng là điều mà Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta hôm nay. Vậy chúng ta cũng hãy tin tưởng cậy dựa vào công nghiệp Chúa Giêsu mà năng cầu xin với Chúa Cha trong niềm tin tưởng và yêu mến, tin chắc rằng Chúa Cha sẽ sẵn sàng ban cho chúng ta dồi dào ơn phúc, để cuộc đời chúng ta có được niềm vui trọn vẹn.

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2022


SUY NIỆM LỜI CHÚA  TUẦN V PHỤC SINH

Lm Vĩnh Hòa

CHÚA NHẬT V PHỤC SINH C

Cv 14,21b-27; Kh 21,1-5a; Ga 13,31-33a.34-35

Trước khi về cùng Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu đã để lại cho các môn đệ cũng như cho tất cả chúng ta lời nhắn nhủ yêu thương: “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.

Yêu thương theo lệnh truyền của Chúa không chỉ là yêu thương người thân cận như chính mình, nhưng còn là yêu thương tất cả mọi người bằng một tình yêu “như Chúa yêu”. “Như Chúa yêu” là bao dung tha thứ là khiêm tốn phục vụ và sẵn sàng hy sinh chính mạng sống mình cho người mình yêu. Xin cho chúng ta có được tình yêu như Chúa để xứng đáng được gọi là bạn hữu của Chúa.

“Yêu như Thầy”(Ga 15,12). Nghĩa là Chúa Giêsu mong muốn nơi các môn đệ của Ngài, trong đó có tôi và bạn, phải yêu giống như Ngài. Yêu giống Ngài là biết chấp nhận tất cả những cái hay cái dở, những cái tố cái xấu và tất cả những sự bất toàn, yếu đuối … của tha nhân.

"Yêu như Thầy" là phải biết kiên nhẫn trước những yếu đuối lỗi lầm, trước những giới hạn về niềm tin cũng như về mặt nhân bản của tha nhân.

"Yêu như Thầy" là biết quan tâm tới những nhu cầu cần thiết của tha nhân. Sự quan tâm ấy không phải chỉ bằng lời nói, nhưng còn bằng những hành động rất cụ thể và thiết thực.

"Yêu như Thầy" là biết bao dung và sẵn sàng tha thứ mọi lỗi lầm của những ai xúc phạm đến ta. 

"Yêu như Thầy" là sẵn sàng cúi xuống rửa chân và khiêm tốn phục vụ tha nhân như Thầy Giêsu; mà đỉnh cao của tình yêu như Thầy là sẵn sàng hy sinh thí mạng sống mình cho người mình yêu được sống và sống dồi dào. Bởi "Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình" (Ga 15,13).

Vì muốn tình yêu của Chúa được thấm nhập vào tâm hồn mỗi người và được lan tỏa khắp nơi nên Chúa Giêsu tha thiết mời gọi các môn đệ Ngài, trong đó có mỗi chúng ta "hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương". 

Xin Chúa cho chúng ta có được tình yêu như Chúa để mọi người nhận ra Chúa nơi mỗi người chúng ta. Được như thế chúng ta mới xứng danh là môn đệ của Chúa.

 

Thứ hai: Cv 14, 5-18; Ga 14, 21-26.

Suy niệm 1:

Tuần này, phụng vụ lời Chúa bài đọc 1 tiếp tục mời gọi chúng ta đồng hành với Phaolô và Barnaba trên những nẻo đường truyền giáo cho dân ngoại lần thứ nhất. Đoạn sách Cvtđ hôm nay nói đến những vui buồn, sướng khổ khi thi hành sứ mạng truyền giáo.

-  Vui vì được nhiều người dân ngoại đón nhận Tin mừng của Chúa.

- Sướng vì những khả năng làm phép lạ do Chúa ban để củng cố niềm tin cho tín hữu và góp phần thuận lợi cho việc loan báo Tin mừng.

Nhưng bên cạnh đó cũng gặp rất nhiều đau khổ.

- Đau vì bị hiểu lầm bởi dân ngoại, bị ghi kỵ, làm nhục và chống đối liên tục của những người gốc Do Thái.

- Khổ vì ném đá, bị bắt và bị đánh đập đến nữa sống nữa chết và bị trục xuất ra khỏi thành của họ.

Nhưng cho dù sướng hay khổ, vui hay buồn, thành công hay thất bại vẫn không thể nào làm sờn lòng nản chí tông đồ Phaolô và Barnaba. Bởi hai ông luôn ý thức được truyền giáo chính là lệnh truyền tâm quyết của Chúa Giêsu phục sinh trao ban cho các ngài trước khi về trời: "Các con hãy đi giảng dạy muôn dânlàm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần" (Mt 28,19). 

Loan báo Tin mừng còn mang một giá trị cao quý khác gắn liền với đời sống của Phaolô, nên nếu không thi hành sứ vụ ấy ngài sẽ cảm thấy đau khổ: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng.”(1 Cr 9,16).

Làm chứng nhân cho Chúa là một vinh dự cao quý do Chúa Phục Sinh trao ban, nhưng đây lại là nhiệm vụ đầy dẩy cam go thử thách. Để thi hành nhiệm vụ này, Phaolô và Barnaba đã phải hy sinh bằng mồ hôi, nước mắt và sức lực, ngay cả phải hy mạng sống mình. Nhiệm vụ này không chỉ khó khăn đối với các tông đồ vào thời GH ban đầu, mà ngay cả ngày nay nhiệm vụ ấy lại càng trở nên khó khăn hơn đối với GH, bởi cuộc sống con người hôm nay có quá nhiều rào cản... Vì thế mà đòi hỏi con cái GH phải nổ lực và hy sinh rất nhiều.

Xin cho chúng ta biết noi gương hai thánh tông đồ Phaolô và Barnaba mà góp phần tích cực vào công cuộc truyền giáo của GH, cho dù gặp phải những chống đối, ghi kỵ, loại trừ của thế gian, vì tin rằng Chúa luôn ở bên ta để nâng đỡ, bảo vệ, dự liệu và ban ân sủng cho ta trong khi thi hành nhiệm vụ cao cả này. Như Lời Chúa phán với Phaolô:“Ơn Ta đủ cho ngươi, vì sức mạnh của Ta được tỏ bày trong sự yếu đuối” (2Cr 12,9).

 

Đọc thêm:

Để dễ nắm bắt đoạn sách Cvtđ này, ta có thể chia làm 3 phần:

1.  Sự việc xảy ra tại Icôniô.

Sau khi giũ bụi chân nhằm phản đối cách hành xử của những người gốc Do Thái tại Antiokhia miền Pixiđia. Phaolô và Barnaba đến Icôniô. Dù  đoạn tuyệt với người Do Thái, nhưng hai ông vẫn gắn bó với hội đường. Tại đây hai ông tiếp tục giảng dạy. Tương tự như những lần trước, tại đây bên cạnh thành công vì có rất đông người Do Thái và Hy Lạp tin theo nhưng cũng có người không đón nhận, nên họ mưu toan làm nhục và ném đá hai ông. Biết thế hai ông lánh sang các thành miền Lycaonia: Lytra, Đécbê, và vùng phụ cận.

2. Phép lạ tại Lýtra.

Tại đây hai ông tiếp tục rao giảng và làm phép lạ chữa cho một người bại hai chân từ lọt lòng mẹ được khỏi. Anh ta đứng dậy và đi được.

Lời tung hô dân chúng sau phép lạ: sau khi chứng kiến phép lạ đã tung hô hai ông như thần linh mặc lốt người phàm. Họ gọi ông Barnaba là thần Dớt (Zeus), ông Phaolô là thần Hécme (Hermes), vì ông là người phát ngôn. Họ đã đem bò và vòng hoa đến trước cổng thành, và cùng với đám đông, muốn dâng lễ tế.

(Zeus và Hermes là hai thần của người Hy-lạp. Zeus được xem như vua của các thần Hy-lạp, và quan thầy của những người làm nghề trồng cấy. Có lẽ vì lý do này mà Phaolô muốn nói với dân thành: không phải Zeus ban mưa từ trời và mùa màng; nhưng là chính Thiên Chúa ban. Hermes là con của Zeus với Maia; được xem là quan thầy của những người lữ hành, tội nhân, và gái điếm. Hermes là sứ giả và đem những sứ điệp của các thần cho con người.)

3. Phản ứng của Phaolô và Barnaba.

- Barnaba và Phaolô xé áo mình ra: Tỏ thái độ tức giận vì họ đã đặt mình ngang hàng với TC và buồn phiền vì cảm thấy bản thân xúc phạm đến Thiên Chúa.

- Sau đó hai ông giải thích cho họ hiểu rằng: “Chúng tôi đây cũng chỉ là người phàm, cùng thân phận với các bạn”. Rồi kêu gọi họ: “hãy bỏ những cái hão huyền này đi, mà trở lại cùng Thiên Chúa hằng sống, Đấng đã tạo thành trời đất với biển khơi cùng muôn loài trong đó”.

 

Suy niệm 2:

Có yêu nhau thì mới sẵn sàng lắng nghe và làm theo điều người yêu mình mong muốn. Đứa con có yêu cha mẹ thì mới trân trọng lắng nghe lời cha mẹ khuyên dạy và vui mừng thực hiện điều cha mẹ chỉ bảo. Cũng vậy chúng ta có yêu mến Chúa thì mới nghe lời và sẵn lòng làm theo lời Chúa.

Không phải bất cứ ai lãnh nhận bí tích rửa tội thì hẳn nhiên trở nên con cái đích thực của Thiên Chúa. Nhưng để nên con cái đích thực của Chúa, trước hết chúng ta phải có lòng yêu mến Chúa, bằng cách đặt Chúa vào vị trí cao nhất trong cuộc đời của ta. Ưu tiên chọn Chúa làm giá trị hàng đầu trong cuộc sống mình.

Thứ đến, yêu mến Chúa thì phải gắn bó với Chúa mật thiết. Định luật tình yêu dạy ta hiểu rằng: Yêu ai thì “ở gần” người đó, yêu ai thì muốn “ở bên” người đó và yêu ai thì muốn “ở với” và “ở trong” người mình yêu để trở nên một với người ấy.

Cuối cùng dấu hiệu người có lòng yêu mến Chúa đích thực đó là luôn tuân giữ lời Chúa. Thước đo của lòng yêu mến nơi chúng ta nhiều hay ít hệ tại ở việc chúng ta có tuân giữ lời Chúa nhiều hay ít. Nếu chúng ta nói chúng ta yêu mến Thiên Chúa mà chúng ta không thực hành lời Chúa dạy, thì có khác gì đứa con “gọi dạ bảo vâng”, nhưng chỉ vâng vâng, dạ dạ mà không làm theo lời cha mẹ chỉ dạy, thì tình yêu đó chỉ là thứ tình yêu giả hình, thứ tình yêu đầu môi trót lưỡi. Tình yêu đó chỉ là nhãn hiệu, là cái mác mà thôi. Vì thế, Chúa Giêsu luôn nhấn mạnh đến lợi ích và giá trị của việc nghe và làm theo lời Chúa: “Nghe và thực hành lời Chúa giống như người khôn xây nhà trên nền đá”; “hãy làm theo lời Chúa chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình”. Lý thuyết và thực hành phải đi đôi mới giá trị và có ích lợi, bởi vì nếu “đức tin không việc làm là đức tin chết” (Gc 2, 17).

Xin Chúa cho chúng ta luôn hết lòng tuân giữ và thực hành lời Chúa bằng tình yêu mến. Biết đặt Chúa vào vị trí quan trọng trong cuộc sống và sẵn sàng chọn Chúa làm gia nghiệp đời ta. Làm được như thế chứng tỏ là chúng ta yêu mến Chúa và xứng danh là con cái đích thực của Chúa.

 

Thứ ba: Cv 14, 19-28; Ga 14, 27-31a.

Suy niệm 1.

Nhìn lại trong suốt cuộc hành trình truyền giáo lần thứ nhất của Phaolô và Barnaba, chúng ta nhận thấy những điểm đáng chú ý sau:

- Lòng nhiệt tâm truyền giáo của Phaolô và Barnaba: Hai ông miệt mài rao giảng Tin mừng cho dân ngoại dù gặp phải biết bao nhiêu là khó khăn: Phải vượt qua đường sá xa xôi, cách trở; kiên trì chịu đựng bao là nguy hiểm: chống đối, bắt bớ, ghen tị, tù đày, ném đá …; luôn thao thức ra đi tìm đến những vùng đất mới để gieo vãi hạt giống đức tin,.

- Đến đâu rao giảng các ông cũng đều bị những người Do Thái kéo đến để chống phá. Đoạn sách Cvtđ hôm nay là một ví dụ: "Bấy giờ có những người Do-thái từ Antioch và Iconium đến Lystra, thuyết phục được đám đông. Họ ném đá ông Phaolô rồi lôi ông ra ngoài thành, vì tưởng ông đã chết. Nhưng khi các môn đệ xúm lại quanh ông, ông đứng dậy và vào thành. Hôm sau, ông trẩy đi Đécbê cùng với ông Barnaba". Tại đây các ông tiếp tục rao giảng và giúp nhiều người tin vào Chúa Giêsu.

- Điều đáng nói là cứ sau một chuyến truyền giáo khi trở về Giêrusalem, Phaolô và Barnaba đều ghé lại thăm viếng một số nơi mà các ông đã đi qua. Với mục đích là khích lệ và củng cố đức tin cho họ; tổ chức lại cộng đoàn và chỉ định các kỳ mục thay mặt các ông coi sóc và chăn dắt cộng đoàn; sau đó các ông cầu nguyện và phó dâng các cộng đoàn cho Thiên Chúa.

- Khi điểm lại hành trình truyền giáo lần thứ nhất này ta nhận thấy hai ông đã đi qua tất cả 8 thành. (Bắt đầu từ Antiôkhia của Syria đến Xalamin và Paphô của đảo Sýp, đến Pécghê, Antiôkhia của Pixiđia, đến Icôniô, Lýtra, Đécbê, và theo đường cũ trở lại Pécghê, rồi từ Pécghê đến Áttalia, trở về Pécghê và dùng thuyền trở về Antiôkhia của Xyria). Đây là cuộc hành trình ngắn nhất trong 3 cuộc hành trình của Phaolô rao giảng Tin mừng cho dân Ngoại. Khi trở về Antiôkhia, hai ông tập họp Hội Thánh và kể lại tất cả những gì Thiên Chúa đã cùng làm với hai ông, và việc Người đã mở cửa cho các dân ngoại đón nhận đức tin. Rồi hai ông ở lại một thời gian khá lâu với các môn đệ trước khi bắt đầu cuộc hành trình thứ hai.

Tạ ơn Chúa đã ban cho GH những nhà truyền giáo nhiệt tình, đã sẵn sàng chịu mọi gian lao thử thách, ngay cả tính mạng, để gieo vãi hạt giống đức tin khắp mọi nơi. Nhờ ơn Chúa mà hạt giống quý giá ấy được gieo vào lòng đất Việt Nam. Cha ông chúng ta đã tiếp nhận, củng cố và nuôi dưỡng bằng máu nhờ thế mà hạt giống đức tin được sinh hoa trái dồi dào. Xin cho chúng ta biết trân trọng bảo vệ, nuôi dưỡng và gieo vãi hạt giống đức tin ấy khắp nơi và vào mọi tâm hồn, ngỏ hầu mọi người đón nhận được niềm vui Tin mừng cứu độ của Chúa.

 

Suy niệm 2.

Thiên tai, dịch bệnh, nghèo đói, đam mê tội lỗi, hận thù ghen ghét… tất cả những mối hiểm họa ấy như dâng tràn trong thế giới ngày nay, khiến cho lòng người đầy sóng gió và bất an. Xin Chúa thương ban bình an của Chúa cho chúng con, sự bình an đích thực trong tâm hồn như lời Chúa đã hứa.

Chưa bao giờ con người lại phải đối diện trước những lo âu, bối rối, sợ hãi và bất an như ngày hôm nay. Chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh… xảy ra hàng ngày trên khắp cùng trái đất. Thất nghiệp, vật giá leo thang, trộm cắp… gia tăng đến mức báo động.  Ly dị, phá thai, bất trung, tệ nạn xã hội …không ngừng gia tăng. Vì thế hơn lúc nào hết, con người ngày hôm nay luôn khao khát có được cuộc sống bình an đích thực.

Để chốn chạy nỗi lo sợ, buồn phiền, bất an, con người thường chỉ biết dựa vào của cải vật chất để trấn an tâm hồn đấy bất an. Chẳng hạn như:  Mua bảo hiểm xe cộ, nhà cửa, nhân mạng, y tế…Hằng đêm mơ mộng để đánh con số đề, mua tấm vé kiến thiết hy vọng bớt đi những lo âu về tiến bạc. Kẻ thì lao mình vào rượu chè và những thú vui khác để tìm những phút giây thoải mái quên đi chuyện đời. Người thì uống thuốc an thần để đi tìm giấc ngủ hy vọng quên đi những muộn phiền. Kẻ dễ tin thì đi tìm thầy bói, thầy tướng, thầy số… để kiếm tìm hậu vận cho tương lai. Người giàu có thì gởi tiền và vàng vào ngân hàng để được an tâm… Nhưng tất cả những việc làm ấy chỉ là giải pháp tạm thời, thiếu căn cơ và không bền vững nên không thể đem lại nguồn bình an đích thực cho tâm hồn. Vì thế, Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “sự bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng” (Ga 14, 27).

Bình an của Ngài không phải là thứ bình an bên ngoài, giả tạo. Nhưng là bình an bên trong, nghĩa là không giống như sự yên ổn hay hòa bình, vì yên ổn hay hòa bình là ở bên ngoài còn bình an thì ở bên trong.

Bình an là tình trạng tâm hồn đang tương quan tốt với Thiên Chúa và tha nhân. Bình an của Chúa là bình an khi có Chúa làm chủ đời sống mình, luôn tin tưởng, phó thác và vâng theo ý Chúa trong mọi cảnh huống của cuộc đời. Bình an của Chúa là có một tâm hồn trong sạch, được giao hòa với Chúa và anh em. Bình an của Chúa ban tặng còn được hiểu là bình an với anh em mình. Sống hoà thuận với nhau, không thấy mình có điều gì làm phiền lòng anh em và thấy anh em không có điều gì làm phiền lòng mình.

Chỉ có bình an của Chúa mới làm cho chúng ta được hạnh phúc. Bởi vì bình an là thông hiệp với Thiên Chúa. Chúa Giêsu nhờ thông hiệp mật thiết với Thiên Chúa Cha nên Ngài luôn thấy bình an ngay khi kẻ thù đang đến gần và sắp giết chết Ngài.

Thế giới ngày hôm nay như đang sống trên một lò lửa. chíến tranh, khủng bố, thiên tai, động đất, khủng hoảng kinh tế, ô nhiễm môi trường…, thế gian chưa có bình an nên Bình An của Chúa Giêsu ban tặng vẫn còn nguyên giá trị cho nhân loại, cho những tâm hồn đang khắc khoải tìm kiếm bình an trong cuộc sống. Mỗi người phải có bình an của Chúa mới có thể sống an bình với mọi người. Muốn có bình an ở bình diện lớn thì phải bắt đầu từ những bình diện nhỏ, là nơi mỗi người chúng ta. Không ai cho cái mình không có. Sự bình an bắt đầu từ lòng mình rồi mới lan tỏa ra xã tắc nhân quần, như cổ nhân nói: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.

 

Thứ tư. 

Suy niệm 1: Cv 15, 1-6

Công cuộc truyền giáo cho dân ngoại của Phaolô và Barnaba luôn vấp phải những khó khăn và chống đối.

- Khó khăn trong chọn lựa: cần phải giữ những gì và nên bỏ những gì khi người dân gốc Do Thái và dân ngoại gia nhập Kitô giáo? Cụ thể là 2 vấn đề chính: Dân ngoại có phải cắt bì và giữ Lề Luật như người gốc Do Thái khi tin theo Kitô Giáo không? Nếu buộc dân ngoại tuân giữ thì lại ảnh hưởng đến truyền thống văn hóa của họ. Còn nếu chuẩn miễn thì gặp phải sự chống đối của người gốc Do Thái.

- Chống đối bởi người Do Thái: Đọan sách Cvtđ hôm nay nói đến sự chống đối quyết liệt của người Do Thái nhằm bảo vệ quan điểm mình. Họ từ Giuđa đã đến tận Antiôkhia để tỏ thái độ chống đối Phaolô và Barnaba bằng cách buộc những tín hữu gốc dân ngoại phải cắt bì: "Nếu anh em không chịu phép cắt bì theo tục lệ Mô-sê, thì anh em không thể được cứu độ". Chính vì  lý do này đã khiến cho Phaolô và Barnaba phản ứng lại mạnh mẽ với họ. Cuối cùng, Phaolô và Barnaba cùng với một vài người khác phải về Giêrusalem gặp các Tông đồ và các kỳ mục, để bàn về vấn đề đang tranh luận này.

Điều này làm cho chúng ta nghĩ đến việc truyển giáo tại quê hương Việt Nam lúc đầu cũng gặp nhiều khó khăn, nhất là trong việc thờ cúng tổ tiên. Nhưng tạ ơn Chúa vì Giáo Hội chúng ta đã nhận ra và đã hội nhập dễ dàng nên công cuộc truyền giáo tại Việt Nam đã lan tỏa nhanh chóng.

Là người Việt Nam, xin cho chúng ta biết trân quý những giá trị truyền thống, văn hóa tốt đẹp của cha ông để lại. Tuy nhiên, nếu có sự khác biệt không thể dung hòa giữa truyền thống dân tộc và đức tin, chúng ta cần tìm đến ánh sáng Lời Chúa soi dẫn, nhất là đến những nhà hữu trách để được hướng dẫn để chúng ta có cách ứng xử theo đúng ý muốn của Chúa và GH.

 

Suy niệm 2: Ga 15,1-8.

Khi rao giảng tin mừng, Chúa Giêsu thích dùng những hình ảnh cụ thể, những câu chuyện gần gũi để trình bày những chân lý cao sâu và những bí nhiệm về nước trời. Nhờ đó, dân chúng dễ dàng nắm bắt những sứ điệp do Chúa truyền tải.

Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu nói đến mối tương quan mật thiết giữa chúng ta với Chúa qua hình ảnh thân nho và cành nho“Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn” (Ga 15,1-2).

Giáo Hội là vườn nho, người trồng nho là Chúa Cha, cây nho chính là Chúa Giê-su, những người làm vườn nho là các vị mục tử, cha mẹ, thầy cô... và các cành nho là những người Ki-tô hữu.

Với hình ảnh cây nho và cành nho cho thấy việc gắn kết sâu xa không thể tách rời giữa Chúa Giêsu với chúng ta. Với sự gắn kết này nhắc chúng ta hiểu rằng: theo Đạo không chỉ là tuân giữ những điều răn như ăn ngay ở lành, mà cốt lõi của Đạo chúng ta là gắn kết đời mình với Chúa cách mật thiết đến độ: Các con ở trong Thầy, và Thầy ở trong các con.” Trở nên máu thịt trong nhau đến nỗi trở thành một với nhau “mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai”.

Nhờ sự gắn kết với Chúa nguồn sự sống đích thực, chúng ta mới được sự sống dồi dào của Chúa nuôi dưỡng mà trổ “sinh nhiều hoa trái” tốt tươi.

Hoa trái tốt tươi chính là những việc lành phúc đức. Mà những việc lành phúc đức trổ sinh không nhằm vì lợi ích cho mình mà là vì ích lợi cho tha nhân. Việc sinh nhiều hoa trái tốt lành ấy cũng không vì thế mà ta hãnh diện và tự mãn, nhưng trên hết là nhằm để tôn vinh danh thánh Thiên Chúa, Đấng trồng nho.

Ý thức điều này nên mỗi người chúng ta cần phải sống khiêm nhường khi thành công và không chán nản thất vọng khi gặp khó khăn, gian khổ.

Xin Chúa cho chúng ta biết luôn gắn kết mật thiết với Chúa trong mọi nơi mọi lúc để đời ta trổ sinh thật nhiều hoa trái tốt lành là những việc làm bác ái yêu thươngnhững nghĩa cử hy sinh phục vụ với hy vọng mang đến niềm vui và hạnh phúc cho đời, cho người và tôn vinh danh thánh TC.

 

Thứ năm: Cv 15, 7-21; Ga 15, 9-11.

Suy niệm 1.

Bài đọc 1, sách công vụ tông đồ hôm nay đề cập đến cuộc xung đột xảy ra giữa Phaolô và Barnaba với những tín hữu gốc Do Thái, và hướng giải quyết của Hội Thánh.

1. Xung đột xảy xa.

Như chúng ta biết hành trình truyền giáo lần thứ nhất của Phaolô và Barnaba gặp phải một khó khăn lớn, phát xuất từ hai phía:

- Từ phía dân ngoại: Họ cũng có những văn hóa truyền thống tốt đẹp của cha ông họ cần phải tôn trọng.

- Từ phía tín hữu gốc Do Thái giáo: Họ cũng muốn gìn giữ bảo vệ những tập tục và luật lệ truyền thống của cha ông họ như: cắt bì, không ăn thịt cúng, và giữ luật Môsê.

Để hội nhập vào nền văn hóa của dân ngoại, Phaolô và Barnaba đã chuẩn miễn cho những người tin theo Chúa gốc ngoại giáo không phải cắt bì và giữ truyền thống một số luật Môsê. Nhưng việc này đã gây ra sự chống đối mạnh mẽ đối với tín hữu gốc Do Thái. Họ đã đến giáo đoàn Antiôkhia tuyên truyền rằng: (1) Phaolô và Barnaba không phải là người hợp pháp do các tông đồ từ cộng đoàn mẹ Giêrusalem gửi đến và kêu gọi mọi người đừng nghe theo. (2) Để được cứu độ không chỉ tin vào Chúa Giêsu mà còn phải cắt bì và giữ luật Môsê nữa. Chính vì thế mà đã xảy ra xung đột nảy lửa giữa Phaolô, Barnaba với những người tín hữu gốc Do Thái.

2. Cách giải quyết xung đột.

Các tông đồ triệu tập họp công đồng chung tại Giêrusalem, để lắng nghe tiếng nói mọi người, nhằm đưa ra những quyết định thực hành.

- Lắng nghe:

 Lời phát biểu của Phêrô là tông đồ trưởng: ông nhắc lại kinh nghiệm mà ông có được khi là người đầu tiên được TC mời gọi đem Tin Mừng cho dân ngoại, cụ thể là gia đình ông Cornêliô. Rồi khuyên mọi người đừng “quàng vào cổ các môn đệ một cái ách”. Với lời khẳng định nhờ tin vào Chúa Giêsu mà được cứu độ chứ không phải chỉ giữ một số luật lệ truyền thống: “chính nhờ ân sủng Chúa Giêsu mà chúng ta tin mình được cứu độ”.

Lời phát biểu của Phaolô và Barnaba: Hai ông chỉ kể lại những biến cố mà hai ông trãi qua trong quá trình truyền giáo. Cho thấy chính Thiên Chúa đã dùng hai ông để rao giảng, làm dấu lạ cho dân ngoại và họ đón nhận ra sao. Tất cả như để xác tín và củng cố cho lập trường của Phêrô.

- Hướng giải quyết.

Tông đồ Giacôbê, Giám mục Giêrusalem đã dung hòa bằng phán quyết: "Không được gây phiền hà cho các tín hữu gốc dân ngoại, nghĩa là không đòi buộc họ cắt bì và giữ luật Môsê. Khuyên họ giữ một ít tập tục: kiêng thức ăn ô uế, tránh gian dâm, kiên găn tiết hay loài vật không cắt tiết (vật chết ngạt)."

Lời đề nghị này đã làm hài lòng các tín hữu gốc dân ngoại cũng như gốc Do Thái.

Đời sống đạo của chúng ta có lúc cũng gặp phải những khó khăn,  ước gì chúng ta cũng biết tìm đến các vị hữu trách để xin sự hướng dẫn của các ngài. Cũng vậy nếu trong đời sống gia đình hay cộng đoàn chẳng may xảy ra xung đột, ước gì chúng ta cũng biết bình tỉnh ngồi lại để lắng nghe và thông cảm cho nhau. Nhất là biết dựa trên giới luật tình yêu của Chúa và giáo huấn của GH mà tìm đến lợi ích chung trong đời sống.

 

Suy niệm 2.

Người đời thường nói: “Yêu là khổ, không yêu thì lỗ, thà chịu khổ chứ không chịu lỗ”. Nhưng cái khổ lớn nhất không phải là yêu, mà là bị người mình yêu từ chối tình yêu. Đúng vậy, yêu mà bị phản bội thì đau tê tái lòng! Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta đến nỗi đã thí mạng mình vì chúng ta và mong muốn chúng ta đáp lại tình yêu của Ngài. Nhưng nhân loại hình như đã hững hừ trước tình yêu của Chúa. Vì thế, Ngài tha thiết kêu mời chúng ta: “Anh em hãy ở lại trong tình yêu của Thầy”, bằng cách tuân giữ giới răn của Ngài. Khi ấy ta cảm nhận được niềm vui trọn vẹn.

Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu tha thiết mời gọi: “Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy.” Chúa Giêsu là tình yêu hữu hình của Chúa Cha dành cho chúng ta những người con yêu dấu của Chúa.

Vì tình yêu, Chúa Giêsu chấp nhận sinh ra mang thân phận con người để ở giữa loài người chúng ta.

Vì tình yêu, Chúa Giêsu đã chấp nhận chịu đói, chịu khát… và bôn ba đi khắp các nẻo đường đất nước Do Thái để rao giảng Tin mừng, làm phép lạ cứu chữa những ai đau khổ.

Cũng chính vì yêu, Chúa Giêsu đã chấp nhận đi vào con đường thập giá chịu đau khổ và sẵn sàng đón nhận cái chết đau thương trên thập giá vì tội lỗi chúng ta. Rồi Chúa đã phục sinh vinh hiển mang lại niềm vui và hy vọng lớn lao cho tất cả chúng ta. Nhưng vì muốn ở lại mãi với nhân loại, Chúa Giêsu đã ban lời giáo huấn và giới luật yêu thương. Đặc biệt với sáng kiến tuyệt diệu, Người đã thiết lập các bí tích nhất là bí tích Thánh Thể, để qua đó ở lại mãi mà ban ân sủng dồi dào cho chúng ta.

Tình yêu Chúa thật quá cao vời. Sẵn sàng chấp nhận mọi gian lao đau khổ, ngay cả hy sinh tính mạng mình để được “ở lại” với chúng ta. Vì thế, Chúa cũng mong mỏi chúng ta đáp lại tình yêu của Ngài, nên tha thiết mời gọi tất cả chúng ta: “Hãy ở lại trong tình thương của Ngài”.

Ở lại trong tình thương của Chúa, được thể hiện qua việc tuân giữ giới răn của Ngài. Bởi lẽ  thánh Phaolô trong gửi tín hữu Rôma đã nói: “Không sống theo luật, luật mới do Thánh Linh là sống phản với Thánh Linh, mà Thánh Linh chính là tình yêu Thiên Chúa”. Thánh Gioan cũng nói: “Ai giữ luật Chúa thì ở lại trong Ngài và Ngài ở lại trong kẻ ấy”. Không ai có thể nói tôi yêu mến Chúa mà không thực hiện lời Ngài.

Kinh nghiệm cho thấy, khi tôi yêu mến ai thì bất cứ việc to, việc nhỏ, việc nặng, việc nhẹ người ấy nhờ tôi, tôi sẵn sàng làm, có khi người ấy không nhờ tôi cũng làm miễn sao đẹp lòng người mình yêu. Như thế muốn ở lại trong tình yêu Chúa, chúng ta phải thực hành lời Chúa. Nghĩa là thực hiện điều Chúa truyền dạy, mà lời dạy của Chúa là giới răn yêu thương.

Trung thành sống trọn tình mến Chúa, yêu người là ta đã ở lại trong Chúa và khi đó chúng ta sẽ được Chúa ban cho niềm vui trọn vẹn là được sống mật thiết với Chúa ngay ở đời này và cho đến đời sau.

Suy niệm 3:

Thứ năm GH có thói quen tưởng niệm việc Chúa Giêsu lập BTTT, Truyền chức LM và trao ban giới luật yêu thương. Xin cho chúng ta cảm nhận được tình yêu Chúa dành cho ta và cho ta biết “ở lại trong tình yêu Chúa”, qua việc để tâm lắng nghe và tuân giữ lời Chúa truyền dạy, nhờ đó mà ta mới có được niềm vui trọn vẹn.

Cuộc sống cần niềm vui. Nhưng chưa bao giờ niềm vui ở đời này nên trọn vẹn cả. Bởi lẽ tiền bạc, của cải, danh vọng, lạc thú… ở trần gian đều là phù hoa mau tàn. Như lời của tác giả Nguyên Kha trong một bài thánh ca: “Hoa nào không phai tàn? Trăng nào không khuyết? Ngày nào mà không có đêm? Yến tiệc nào không có lúc tàn???” (Phù hoa nối tiếp phù hoa).

Tuy nhiên tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho các môn đệ cũng như chúng ta biết có một thứ niềm vui nên thành toàn và trọn vẹn. Niềm vui ấy chỉ có được khi chúng ta biết “ở lại trong tình yêu của Chúa”. Nhưng làm thế nào ta được ở lại trong tình yêu Chúa? Thưa đó là tuân giữ lệnh truyền của Chúa Giêsu. Đó là tuân giữ và sống giới luật yêu thương mới: “Yêu như Chúa yêu”.

Xin cho chúng ta biết ở lại trong tình yêu của Chúa qua việc chuyên chăm cầu nguyện, siêng năng tham dự thánh lễ và rước lễ, tích cực lắng nghe và thực hiện lệnh truyền yêu thương của Chúa để niềm vui nên trọn vẹn trong tâm hồn ta.

 

Thứ sáu: Cv 15, 22-31; Ga 15, 12-17.

Suy niệm 1.

Để dễ nhớ đoạn sách Cvtđ hôm nay, ta có thể chia đoạn này làm hai phần:

- Phần đầu: liệt kê danh sách phái đoàn được các tông đồ và kỳ mục của Hội Thánh Giêrusalem cử đến Antiôkhia gồm có: Ngoài Phaolô và Barnaba,  còn có ông Giuđa và Xila là những người có uy tín trong Hội Thánh. Khi đến nơi, các ông triệu tập cộng đoàn lại để công bố bức thư.

- Phần thứ hai: nội dung của bức thư, gồm ba điểm:

1. Lời chào thăm của các tông đồ và kỳ mục gửi đến anh em gốc dân ngoại tại Antiokhia, tại Xyria và Kilikia. Ngay sau đó là 3 lời xác nhận chính thức: (1) Những người Do Thái đến gây rối trước đây làm xáo trộn và gây hoang mang cho các tín hữu là những người bất hợp pháp. (2) Phaolô và Barnaba chính là người anh em thân mến với chúng tôi và đã cống hiến cuộc đời vì danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. (3) Xác nhận ông Giuđa và Xila chính là người được Hội Thánh cử đến để trình bày trực tiếp về những quyết định của công đồng.

2. Quyết định chính thức của Công đồng dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần như sau: Không bắt tín hữu gốc dân ngoại cắt bì và giữ luật Môsê, nhưng khuyên giữ vài điều cần thiết như: tránh gian dâm, không uống tiết, không ăn thịt không cắt tiết và đồ cúng cho ngẫu tượng.

3. Cuối cùng là lời khuyên nhủ họ cẩn thận giữ những điều mà Hội Thánh hướng dẫn và chúc họ được an mạnh.

* Sau khi nghe xong bức thư, họ vui mừng vì lời khích lệ đó.

Những xung đột xảy ra trong cuộc sống là không tránh khỏi. Ngay trong cộng đoàn Họ đạo hay gia đình cũng thường xuyên xảy ra. Vậy ta làm thế nào để giải quyết êm đẹp những xung đột ấy? Sách Cvtđ hôm nay gợi mở cho chúng ta đường hướng tốt nhất:

- Trước tiên, cùng nhau ngồi lại để tìm cách giải quyết vấn đề.

- Thứ đến, theo sự hướng dẫn của Thánh Thần để tìm ra đâu là sự thật nền tảng mọi người phải giữ, những gì có thể dung hòa, và những gì có thể chuẩn chước được.

- Sau đó, phải khiêm nhường bỏ thói quen của mình, hy sinh chấp nhận ý kiến chung, và giải quyết vấn đề trong tình yêu thương anh em; chứ không ra lệnh theo thói cha ông. 

Xin Chúa cho chúng ta luôn biết khiêm tốn nghe theo sự hướng dẫn của Thánh Thần để tìm ra sự thật. Nếu mình có sai trái, lỗi lầm thì can đảm nhận lỗi mà sửa đổi. Nếu người khác có sai trái thì hãy dùng tình thương mà sửa lỗi cho nhau theo lời dạy của Chúa và tinh thần của Công đồng Giêrusalem.

 

 Suy niệm 2.

Trước khi về cùng Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu đã để lại cho các môn đệ cũng như cho tất cả chúng ta lời nhắn nhủ yêu thương: “Đây là điều răn của Thầy, anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.

Yêu thương như Chúa là yêu thương tất cả mọi người không phân biệt bạn hay thù bằng một tình yêu “như Chúa yêu”. Yêu như Chúa là sẵn sàng hy sinh ngay cả mạng sống mình cho người mình yêu. Xin cho chúng ta có được tình yêu như Chúa, ngỏ hầu xứng danh với tên gọi là bạn hữu của Chúa.

“Anh  em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 15, 12).  

Yêu thương nhau không thôi thì chưa đủ, Chúa Giêsu còn muốn các môn đệ của Ngài, trong đó có tôi và bạn, phải yêu “như Chúa yêu” nữa. Nghĩa là biết chấp nhận tất cả những cái hay cái dở, những tính hư nết xấu và tất cả những sự bất toàn và yếu đuối … của tha nhân.

Yêu thương như Thầy là phải biết kiên nhẫn trước những yếu đuối lỗi lầm, trước những giới hạn về niềm tin cũng như về mặt nhân bản của người khác.

Yêu như Chúa Giêsu là biết quan tâm tới những nhu cầu cần thiết của tha nhân. Sự quan tâm ấy không phải chỉ bằng lời nói, nhưng còn bằng những hành động rất cụ thể và thiết thực.

Chính Chúa Giêsu đã yêu chúng ta nên đã chấp nhận, kiên nhẫn trước tất cả mọi ưu khuyết điểm của ta: cái hay cũng như cái dở, cái đẹp cũng như cái xấu, cái giỏi cũng như cái dở của chúng ta… Ngài đã không ngừng quan tâm và đáp ứng lại những nhu cầu chính đáng và không ngừng mời gọi chúng ta hãy noi gương bắt chước Ngài bằng một tình yêu giống như Ngài đã yêu thương chúng ta.

 

Thứ bảy: Cv 16, 1-10; Ga 15,18-21.

Suy niệm 1.

Làm thế nào để việc loan báo Tin mừng đạt được kết quả tốt đẹp? Đoạn sách Cvtđ hôm nay sẽ soi sáng chúng ta một vài gợi ý quý giá:

1. Biết quan tâm gắn kết giáo đoàn địa phương với hội thánh.

Sau khi chia tay với Barnaba tại Antiôkhia, Phaolô chọn Xila để trở lại thăm viếng các giáo đoàn cũ như Đécbê và Lýtra. Tại đây ông công bố về những quyết định của công đồng Giêrusalem liên quan đến các tín hữu gốc dân ngoại như: không đòi buộc họ phải cắt bì và giữ luật Môsê nữa, nhưng  phải giữ một số tập tục như kiêng thức ăn ô uế, tránh gian dâm và kiêng ăn tiết hay loài vật không cắt tiết. Tại mỗi nơi đến thăm, các ông đều truyền lại cho họ những chỉ thị của công đồng Giêrusalem ban bố và khuyên nhủ họ tuân giữ. Nhờ đó mà “các Hội Thánh được vững mạnh trong đức tin và mỗi ngày thêm đông số".

2. Tìm kiếm nhân sự để đào tạo cho cộng tác truyền giáo.

Trở lại Lytra Phaolô đã tìm thấy Timôthê, mẹ ông là người Do-thái đã tin Chúa, còn cha là người Hy-lạp. Ông được các anh em ở Lytra và Icônia chứng nhận là tốt. Nên Phaolô muốn Timôthê cộng tác truyền giáo với mình. Phaolô đã đem ông đi làm phép cắt bì vì là người gốc Do Thái.

Tại sao phải cắt bì vì công đồng Giêrsalem đã bãi bỏ? Có nhiều lý do: (1) đã được nói ở đây là vì nể các người Do-thái ở những nơi ấy. (2) Vì mẹ của anh ta là người Do Thái nên con sinh ra phải giữ luật Do Thái. (3) Nhằm giúp cho Timôthê dễ dàng hơn khi rao giảng trong các hội đường người Do Thái, như Phaolô đã nói trong thư gửi tín hữu Corintô: “Trở nên người Do Thái để chinh phục người Do Thái…” (1Cr 9, 19-23).

3. Phải lắng nghe sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần .

Dự tính ban đầu các ông là đi sang miền Phygia va Galát để rao giảng tại Asia, nhưng Thánh Thần ngăn cản nên các ông lại tiếp tục tới sát ranh giới Myxia và thử vào miền Bithynia, nhưng Thần Khí Đức Giêsu cũng không cho phép. Các ông bèn đi qua miền Mysia mà xuống Troa. Tại đây “ban đêm, ông Phaolô thấy một thị kiến: một người miền Makêđônia đứng đó, mời ông rằng: “Xin ông sang Makêđônia giúp chúng tôi!”.“Sau khi thấy thị kiến đó, lập tức các ông tìm cách đi Makêđônia, vì hiểu ra rằng TC kêu gọi các ông loan báo Tin Mừng cho họ”.

Qua hai lần ngăn cản của Thánh Thần, nhất là nhìn thấy thị kiến, Phaolô đã nhận ra ý Thiên Chúa nên ông đã lập tức tìm cách đi Makêđônia, vì hiểu ra rằng Thiên Chúa muốn ông đem Tin Mừng của Chúa đến Âu Châu, bắt đầu với các thành phố Hy-lạp.

Xin cho chúng ta biết mở rộng tâm hồn để nghe theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần trong công cuộc loan báo Tin Mừng. Nhất là luôn biết gắn kết với GH để hiệp nhất với nhau trong những đường hướng truyền giáo; cũng như tích cực quan tâm đến việc đào tạo nhân sự kế thừa theo tinh thần của Thánh Phaolô.

 

Suy niệm 2.

Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu báo trước cho các môn đệ biết cuộc sống theo Chúa sẽ gặp nhiều gian lao thử thách, bởi lẽ “Nếu thế gian ghét anh em, anh em biết rằng nó đã ghét Thầy trước”.

Xin cho chúng ta luôn vững tin và trung thành bước theo Chúa đến cùng cho dẫu bị người đời ghen ghét và bách hại, vì như thế ta mới xứng đáng thuộc về Chúa.

Không phải ngày hôm nay, thế gian mới ghét bỏ và bách hại những Kitô hữu, nhưng từ xưa, Chúa Giêsu cũng đã bị bao người khinh bỉ, hiểu lầm và giết hại. Các nhà cầm quyền xã hội thì nghi ngờ, giới lãnh đạo tôn giáo thì thù ghét chống đối; những người đồng hương thì xem thường, chối bỏ… cuối cùng khi lên đến đỉnh điểm thì họ ra tay bắt bớ, hành hạ, kết án và giết chết Chúa đi.

Đến thời các tông đồ, các môn đệ thi hành sứ mạng làm chứng nhân cho Chúa cũng gặp phải nhiều khó khăn và đau khổ, đúng như những gì mà Chúa Giêsu đã nói trước đó. Khi thi hành sứ vụ rao giảng, các tông đồ và các môn đệ luôn bị người Do Thái, chính quyền và giới chức lãnh đạo Do Thái giáo cấm đoán, đe dọa, bắt bớ, hành hạ đủ mọi thứ cực hình… Cuối cùng, các ngài cũng kết thúc cuộc đời bằng cái chết bi thương vì danh Chúa Giêsu.

Nối tiếp các tông đồ là Giáo hội trong mọi thời ở khắp mọi nơi đều bị các nhà cầm quyền ghét bỏ, loại trừ, bách hại... Cụ thể ở Việt Nam trong khoảng gần 300 năm đầu (1638-1886) đã có hàng trăm ngàn tín hữu chịu đổ máu và hiến mạng sống mình để làm chứng cho niềm tin vào Chúa.

Ngày nay dù đã trãi qua hơn 2000 năm, ấy vậy mà Giáo hội nói chung và các Kitô hữu nói riêng vẫn không ngừng bị xiết chặt, ghét bỏ, trù dập, bắt bớ và giết hại khắp nơi trên thế giới. Khiến chúng ta là những người theo Chúa không ngừng phải lo lắng, sợ hãi và bất an…Nhưng với niền tin tưởng vào sự quan phòng đầy yêu thương của Chúa. Chúng ta hãy an tâm phó thác vào bàn tay uy quyền của Chúa là Cha giàu lòng thương xót chúng ta.  "Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo bệ, con vững dạ an tâm." (Tv 23,4)

 

  SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN XIX THƯỜNG NIÊN  Lm. Clemente Nguyễn Văn Lanh CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN-NĂM A 1V 19,9a.11-13a; Rm 9,1-5; Mt 1...