Thứ Năm, 20 tháng 8, 2020

SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN XXI THƯỜNG NIÊN 

CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN A

Mt 16, 13-20

Sau một thời gian Chúa Giêsu rao giảng Tin mừng và thi hành sứ vụ đây đó, nhiều người cũng đã biết đến Ngài. Nhưng để xem sự hiểu biết của họ như thế nào? Nên hôm nay, Chúa Giêsu muốn làm một cuộc thăm dò dư luận, mang tính xã hội học. Vì thế, bất ngờ Ngài hỏi các môn đệ: Người ta bảo Con Người là ai ?” Qua những lần thăm dò và nghe ngóng tin tức trong dân chúng, các môn đệ biết được có 3 luồng dư luận đánh giá về Thầy Giêsu của mình:

- Một số người cho rằng Thầy Giêsu là Gioan Tẩy Giả, bởi lẽ Chúa Giêsu cũng có đời sống chay tịnh khắc khổ và lên án mạnh mẽ lối sống giả hình của những người Pharisêu; hơn nữa lời rao giảng về sự sám hối của Chúa Giêsu cũng giống như Gioan Tẩy Gỉa.

- Một số khác thì cho rằng Thầy Giêsu là Êlia, vì Chúa Giêsu cũng đã từng làm phép lạ tựa như Êlia xưa kia.

- Phần đông còn lại thì xem Chúa Giêsu là Giêrêmia hay một vị tiên tri nào đó, bởi họ cũng nghe thấy Đức Giêsu rao giảng lời Chúa, tiên báo về những vấn đề tương lai như các tiên tri trước đây.

Nhưng có lẽ điều mà Chúa Giêsu quan tâm, không phải là dân chúng nghĩ về Ngài như thế nào? Mà quan trọng nhất là Ngài muốn biết các môn đệ hiểu về Ngài ra sao? Cho nên Ngài mới đặt câu hỏi thứ 2: “phần các con, các con bảo Thầy là ai?”.  Phêrô lại nhanh nhẹn thay mặt anh em tuyên xưng niềm tin: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Tuy lời tuyên xưng ấy chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời,” nhưng vẫn làm cho Chúa Giêsu cảm thấy rất hài lòng.

Sau đó, Chúa Giêsu mạc khải về con đường đau khổ mà Ngài phải đi để hoàn thành sứ mạng, thì lập tức Phêrô lại phản ứng quyết liệt, vì ông không thể chấp nhận Chúa Giêsu đi vào con đường ấy, cho nên Phêrô kéo Người lại mà can gián Người rằng: “Lạy Thầy, xin Chúa giúp Thầy khỏi điều đó. Thầy chẳng phải như vậy đâu.” Tuy nhiên, hành động và lời can ngăn ấy của Phêrô đã làm cho Chúa Giêsu rất khó chịu nên Ngài đã khiển trách ông rất nặng lời: Hỡi Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy, con làm cho Thầy vấp phạm, vì con chẳng hiểu biết những sự thuộc về Thiên Chúa, mà chỉ hiểu biết những sự thuộc về loài người.”

Điều này giúp ta hiểu rằng, cho dẫu Phêrô đã tin vào “Thầy là Đức Kitô, là Con Thiên Chúa”. Nhưng ông lại mong muốn một Đấng Messia theo quan niệm trần tục theo ý muốn của mình. Ông không thích đón nhận một Đấng Kitô phải đi vào con đường thập giá để cứu độ nhân loại, theo thánh ý của Chúa Cha.

Ngẫm đi nghĩ lại, nhiều lúc chúng ta cũng có quan niệm giống như Phêrô về một Đức Giêsu. Đó là khi ta mong muốn Người phải là một vị TC theo ý muốn của mình. Buộc Người phải đáp ứng tất cả những gì chúng ta đòi hỏi. Chính vì thế mà không ít người trong chúng ta chỉ tin yêu Chúa và giữ đạo khi thuận lợi, thành công, may lành…; bằng ngược lại, chúng ta dễ dàng đánh mất niềm tin, bỏ đạo và xa rời Thiên Chúa khi gặp phải những khó khăn, thử thách, thất bại…trong đời sống.

Xin Chúa nâng đỡ và ban thêm lòng tin còn non kém của chúng ta, nhất là khi chúng ta phải đối mặt với những gian nan, thử thách và hoạn nạn trong cuộc sống.

 

Thứ hai: Kính Thánh Barthôlômêô Tông Đồ

Ga 1, 45-51

Tin mừng hôm nay tường thuật lại sự kiện ông Philipphê giới thiệu Đấng Messia cho ông Nathanaen, cũng gọi là Barthôlômêô. Khi nghe nói về Đức Giêsu, ông Nathanaen không tin và cho rằng Ngài chẳng có gì nổi bật, vì xuất thân từ làng quê Nadarét. Nhưng sau khi gặp Đức Giêsu, ông đã thay đổi cách nghĩ. Vậy điều gì đã làm cho niềm tin của ông thay đổi?

Thời Đức Giêsu, dân Do Thái hiểu cách nói “vua Ít-ra-en” theo nghĩa: nhà vua sẽ thực hiện cuộc cách mạng dân tộc, giải phóng Ít-ra-en khỏi ách nước ngoài, mà cụ thể là đế quốc Rôma. Ở Ga 1, 49, ông Nathanaen cũng không hiểu xa. Ông Nathanaen nghĩ vua Ít-ra-en phải trổi vượt, phải là một nhân vật nổi bật hay ít ra cũng phải sinh ra trong một gia đình giàu có, quí phái ở một thành đô hoa lệ. Nên khi Philipphê báo cho ông biết Đấng mà muôn dân đang mong chờ đã xuất hiện là người làng Nadarét, Nathanaen đã không tin. Ông đã phản bác “Từ Nadarét có thể có cái gì hay được”. Tuy nhiên, sau khi gặp mặt Đức Giêsu và trò chuyện với Ngài thì ông đã bị thuyết phục và đã tuyên xưng đức tin:“Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là vua Ít-ra-en”. 

Dẫu ông đã tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, nhưng ông lại hiểu tước hiệu này một cách rất mập mờ. Cho mãi sau ngày Chúa Phục Sinh, ông mới hiểu cách rõ ràng về tước hiệu này.

Như thánh philipphê đã không ngần ngại giới thiệu Đức Giêsu cho người bạn của mình, thì ngày nay, giữa một thế giới, xã hội đa văn hóa và tôn giáo, chúng ta có ngần ngại giới thiệu Chúa Giêsu cho những người xung quanh không? Và chúng ta phải giới thiệu Đức Giêsu thế nào cho phù hợp với thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 và sự bùng nổ của công nghệ 5G như hôm nay? 

Sau khi gặp Chúa Giêsu, tông đồ Barthôlômêô đã thay đổi suy nghĩ, biến đổi cuộc đời, trở thành môn đệ Chúa Giêsu. Sau ngày Chúa Giêsu phục sinh, ông còn hăng say ra đi loan báo Tin mừng và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình để làm chứng cho Chúa. Còn chúng ta thì sao? Hằng ngày khi nghe lời Chúa, chúng ta có để cho lời Chúa tác động, thâm nhập và đem ra thực hành không? Và mỗi khi rước lấy Thánh Thể Chúa, chúng ta đã biến đổi cuộc đời như thế nào ?

Lạy Chúa Giêsu, niềm tin của chúng con còn non yếu nên chưa xác tín vững mạnh vào Chúa. Xin Chúa củng cố niềm tin cho chúng con mỗi khi gặp gỡ Chúa qua tha nhân, qua cầu nguyện, qua các biến cố...nhất là qua việc tham dự thánh lễ hàng ngày. Nhờ đó mà cuộc đời chúng con được biến đổi nhờ lời giáo huấn và Thánh Thể Chúa. 

 

Thứ ba: Mt 23, 23-26

Tiếp nối bài Tin mừng hôm qua, tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục lên án mạnh mẻ thói giả hình của những luật sĩ và biệt phái. Thói giả hình của họ được biểu hiện ra bên ngoài qua hai hành vi lầm lạc sau đây:

- Biến những điều phụ thành điều chính.

Sách Đệ nhị luật quy định: “Mỗi năm anh (em) phải trích một phần mười tất cả hoa lợi lấy từ những gì anh (em) gieo, những gì mọc lên ngoài đồng.  Anh (em) sẽ dùng trước nhan Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ở nơi Người chọn cho Danh Người ngự…để mọi ngày anh (em) học cho biết kính sợ Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) (Đnl 14, 22). Như vậy, nộp thuế thập phân và hoa màu ruộng đất là cách thức giúp người Do Thái nhớ rằng: ruộng đất họ có và hoa màu mà họ thu hoạch được là do ân ban của Thiên Chúa. Nhưng các Luật sĩ và Biệt phái lại quá ham mê tiền bạc nên họ đã thu vào hơn những gì theo sáchluật quy định, từ đó đánh mất đi ý nghĩa tôn giáo của bổn phận nộp thuế. Họ ham tiền đến nổi đã đánh thuế luôn cả những luống rau thơm như :bạc hà, hồi hương và thì là”. Trong khi đó lại sao lãng “những điều quan trọng trong lề luật, là đức công bình, lòng nhân từ và lòng tin thì các ngươi lại bỏ qua; đáng lẽ phải làm những điều này và không bỏ các điều kia”. 

- Quan tâm đến hình thức mà quên đi tấm lòng.

Vì quá đề cao bản thân nên lúc nào cũng muốn mọi người xem mình là người đạo đức nên họ cố ý phô trương những việc làm nhỏ nhặt như quá bận tâm đến việc rửa sạch chén đĩa bên ngoài mà lại không lo thanh tẩy tâm địa gian tham và nhơ bẩn bên trong tâm hồn. Khiến cho Chúa Giêsu phải lên tiếng vạch trần tâm địa xấu xa của họ và không ngần ngại quở trách rất nặng lời “khốn cho các ngươi”; với hy vọng giúp họ nhận ra sai lầm mà sửa đổi.

Những lời quở trách của Chúa Giêsu dành cho những Luật sĩ và Biệt phái khi xưa, có lẽ cũng là những lời cảnh tỉnh chúng ta hôm nay.

Xin Chúa ban cho chúng ta ơn khôn ngoan để nhận ra những điều quan trọng trong đời sống. Từ đó can đảm từ bỏ những lợi lộc vật chất thấp hèn đi ngược lại với đức công bình, lòng nhân từ và trung tín với Chúa. Đồng thời cũng xin Chúa cho ta biết lo thanh tẩy tâm hồn khỏi những bợn nhơ của tính ích kỷ, lòng tham lam làm vẩn đục tâm hồn.  

 

Thứ tư: Mt 23, 27-32

Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu cho ta biết đâu là yếu tố căn bản để đem lại cho những việc làm có được giá trị trước mặt Thiên Chúa. 

Vì quá chú tâm đến hình thức bên ngoài nên những người Biệt phái và Kinh sư cảm thấy khó chịu khi thấy các môn đệ CG không rửa tay trước khi dùng bữa. Nên họ đã tố cáo các môn đệ Người là đã “vi phạm truyền thống của tiền nhân”.  Như vậy đã rõ, rửa tay chỉ là truyền thống của cha ông họ để lại, chứ không liên quan gì đến việc tôn thờ Thiên Chúa. Từ đó CG cho thấy họ giữ luật quá nặng hình thức nên Người đã dùng Kinh Thánh mà cảnh cáo họ: “Tiên tri Isaia nói rất đúng: dân này thờ Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta”. Rồi Người lên án: “Các ông là những kẻ đạo đức giả”. 

Thật vậy, những người Biệt phái và Kinh sư chỉ tôn thờ Thiên Chúa bằng môi miệng chứ không phải bằng tấm lòng. Họ chỉ đọc kinh cho lâu giờ nhằm nuốt tiền các bà góa chứ không phải vì yêu mến Chúa. Như vậy, đạo đức giả là quá chú trọng đến những việc bề ngoài mà quên đi động lực chính yếu là tình yêu bên trong.

CG cũng không ngần ngại chỉ ra sai lầm của họ là: “các ông bỏ lề luật của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm”. Rồi nhắc nhở họ phải ưu tiên sống và dạy người khác sống theo luật Thiên Chúa chứ không được tùy tiện bỏ qua. Ấy thế mà họ vẫn ngang nhiên xem thường luật Chúa để thay vào đó luật phàm nhân, khi bảo"Nếu ai nói với cha mẹ mình rằng: Những của tôi có thể giúp cha mẹ được là Corban rồi (nghĩa là của dâng cho Chúa)", và các ngươi không để cho kẻ ấy giúp gì cho cha mẹ nữa. Như thế các ngươi huỷ bỏ lời Chúa bằng những tập tục truyền lại cho nhau. Và các ngươi còn làm nhiều điều khác giống như thế". (Mc 7, 11-13).  

Suy niệm và cầu nguyện với lời Chúa hôm nay như nhắc nhở chúng ta cần phải chấn chỉnh lại thái độ sống đạo của mình sao cho phù hợp với ý muốn của Chúa. Với mong muốn tất cả những hành vi thờ phượng Thiên Chúa của ta đều được phát xuất từ một tình yêu tinh tuyền, trong sáng. Vì yêu Chúa, ta đi lễ; vì yêu Chúa, ta siêng năng đọc kinh hôm kinh mai; vì yêu Chúa ta sẵn sàng từ bỏ những thói hư, tật xấu… Nói tóm lại, vì yêu Chúa nên ta tuân giữ những điều luật của Chúa và GH.

Trong tương quan với người khác cũng vậy, ta hãy đối xử với nhau bằng một tình yêu chân thành. Chính sức mạnh tình yêu chân thành sẽ thúc đẩy chúng ta biết phải làm gì tốt nhất cho anh em mình. Một khi chúng ta biết đặt tình yêu trong sáng, tinh tuyền vào các mối tương quan với Chúa, với người khác và công việc… thì chúng ta sẽ biết mình phải làm gì? và như thế nào? để thống nhất đời sống. Bởi tất cả hành vi của ta đều được định hướng khởi nguồn từ tình yêu của Chúa nên những gì ta làm chắn chắn sẽ đẹp lòng Chúa và đem đến ích lợi cho tha nhân.

Xin Chúa đong đầy tình yêu nơi tâm hồn chúng con, để những hành vi thờ phượng Chúa và những việc làm bác ái cho tha nhân của chúng con đều phát xuất từ một tình yêu tinh tuyền và trong sáng. Nhờ đó, mang lại ơn ích thiêng liêng cho chúng con.

 

Thứ năm: Mừng Nhớ Thánh Mônica

† Suy niệm 1: Hc 26, 1-4. 13-16; Lc 7, 11-17

Tin mừng hôm nay trình thuật lại phép lạ Chúa Giêsu cứu sống con trai người đàn bà góa thành Naim. Qua đây, minh chứng cho biết Đức Giêsu chính là Thiên Chúa quyền năng và giàu lòng thương xót. Xin cho chúng ta luôn vững tin vào Người, nhất là trong những lúc gặp gian nan thử thách.

Phép lạ của Chúa Giêsu cứu sống đứa con trai người đàn bà góa thành Naim hôm nay muốn nói với chúng ta 2 điều:

- Đức Giêsu chính là Thiên Chúa quyền năng: Sự sống con người là quý giá nhất. Sự sống ấy do chính Chúa tạo nên và ban tặng cho con người. Nên không ai có quyền trên sự sống ấy, ngoại trừ Thiên Chúa. Sự sống của đứa con trai bà góa thành Naim hôm nay đã mất, không ai trên trần gian này có thể phục hồi được, trừ một mình Thiên Chúa là chủ của sự sống. Nên khi Chúa Giêsu phục hồi sự sống của đứa con trai bà góa thành Naim, minh chứng cho biết Đức Giêsu chính là vị Thiên Chúa quyền năng.

- Đức Giêsu là Thiên Chúa giàu lòng thương xót: Với quan niệm của người Do Thái thời Chúa Giêsu thì người phụ nữ và con trẻ là thành phần thấp kém vì bị xã hội khinh thường. Người phụ nữ không được tham gia vào các công việc trong xã hội cũng như tôn giáo vì thế mà mất đi nguồn thu nhập cho cuộc sống nên tình cảnh sẽ rất khó khăn và nghèo khổ. Đứa con trai chính là niềm vui và hy vọng lớn lao của bà góa này. Nhưng nay niềm hy vọng của cuộc sống bà ta đã mất vì đứa con trai bà ta đã chết. Nhìn thấy tình cảnh đau thương ấy, Chúa Giêsu đã chạnh lòng thương và quyết định ra tay cứu sống đứa con trai duy nhất của bà góa và trao nó lại cho bà, cho dẫu đây là trường hợp không ai kêu xin Người. Trao đưa đứa con trai sống lại cho bà góa, cũng đồng nghĩa với việc trạo ban lại cho bà ánh sáng hy vọng và niềm vui.

Qua phép lạ này cho thấy: Đức Giêsu chính là vị Thiên Chúa quyền năng, nhưng cũng rất giàu lòng thương xót. Ngài đã dùng quyền năng của Ngài để thực thi lòng thương xót qua việc phục sinh đứa con trai của bà góa thành Naim, đem lại cho bà ta niềm niềm vui và hy vọng sáng tươi.

Xin cho chúng ta nhận ra được khuôn mặt của Thiên Chúa giàu lòng thương xót nơi Chúa Giêsu, để chúng ta luôn biết yêu mến, vâng nghe và sống theo sự hướng dẫn của Người. Đặc biệt trong những lúc đau khổ và thất vọng, xin cho chúng ta biết tìm đến nương tựa vào cánh tay uy quyền năng của Người.

 

 Suy niệm 2:

Hôm nay cùng với GH chúng ta hân hoan mừng kính thánh nữ Mônica, bổn mạng của các chị em hiền mẫu công giáo. Đây là dịp thuận lợi GH mời gọi chúng ta hướng nhìn về gia đình của thánh nữ Mônica khi xưa mà nhận diện ra những thách đố đang và sẽ xảy ra nơi gia đình chúng ta ngày nay. Từ đó học cách vượt qua những thách đố ấy, bằng cách noi gương thánh nữ Mônica: Biết đặt niềm tin cậy vào quyền năng của Chúa qua việc kiên trì cầu nguyện; cũng như nổ lực chu toàn tốt bổn phận của mình trong vai trò: làm dâu con, làm vợ và làm mẹ trong gia đình.

- Với bổn phận làm dâu con, thánh Mônica rất mực yêu mến và hiếu kính cha mẹ chồng, cho dẫu ngài phải đối mặt với bà mẹ chồng chanh chua, đanh đá.

- Với trách nhiệm làm vợ, thánh Mônica đã hết lòng yêu thương kính trọng và chung thủy với chồng mình, cho dẫu phải chung sống cùng với người chồng bất trung, thô lỗ, cộc cằn.

- Với ơn gọi làm mẹ, thánh nhân rất mực yêu thương con cái, chấp nhận vắt kiệt sức để chăm sóc và giáo dục con cái đến hơi tàn, sức kiệt với mong muốn nhìn thấy những đứa con mình nên người và trở thành con Chúa; nhất là tìm đủ mọi cách để giúp cho đứa con hư hỏng của mình là Augustinô được ăn năn trở lại con đường ngay chính.

Ước mong các chị em hiền mẫu chúng ta cũng có được những nhân đức sáng ngời như thánh nữ Mônica để dẫn đưa mọi thành viên trong gia đình mình vượt qua những chặng đường đầy chông gai thử thách mà thẳng tiến về đích điểm của niềm vui, an bình và hạnh phúc trong Chúa.

 

Suy niệm 3:

Mỗi khi chiêm ngắm lại cuộc đời của thánh nữ Mônica, khiến chúng ta cảm thấy chạnh lòng và cảm phục vì những đức tính cao đẹp của ngài: 

- Kiên tâm chu toàn bổn phận của mình. Trong ơn gọi làm vợ thánh nhân đã hết lòng quý trọng, yêu thương và trung thủy với chồng. Với vai trò làm mẹ, thánh nhân hết mực yêu thương, hy sinh tất cả cho con cái. Tận tụy nuôi dạy và giáo dục con cái nên người và con người con Chúa. Khi không được như ý, ngài vẫn không thua buốn bỏ cuộc. Trái lại thánh nhân đã nhẫn nại hy sinh liên lỷ cho con. Nhờ đó mà ngài đã cải hóa được Augustinô trở về với Chúa và Giáo Hội.

- Nêu cao những đức tính cao đẹp của người phụ nữ. Khi bị ngược đãi bởi mẹ chồng và chồng, thánh nhân đã nêu cao gương khiêm nhường, yêu thương và tha thứ. Sẵn lòng thông cảm cho tính khí bất thường của người mẹ chồng và chồng mình. Yêu thương, phục vụ, khiêm nhường và tha thứ chính là lựa chọn của thánh nhân trong những lúc gặp khó khăn hay những khi gặp phải những chuyện chẳng may lành xảy đến.

- Kiên trì cầu nguyện với lòng tin tưởng cậy trông vào Chúa. Thánh nhân đã kết hợp với Chúa cách liên lỉ và hoàn toàn phó thác vào Chúa với lòng tin tưởng cậy trông. Cuộc đời của ngài được kết dệt bởi mồ hôi và nước mắt. Vui ít buồn nhiều, nhưng lúc nào ngài cũng gắn bó và phó thác mọi sự trong bàn tay uy quyền của Thiên Chúa.

Quả thật, cả cuộc đời của thánh nhân đã để lại cho những người vợ, người mẹ và cho hết mọi người chúng ta những bài học cao đẹp, đáng khâm phục nên cần phải noi gương:

- Noi gương thánh Mônica, chúng ta hãy tích cực chu toàn bổn phận hằng ngày của mình với lòng mến. Ý thức làm những việc tầm thường một cách phi thường trong sự kết hợp với Chúa và tín thác cho Người.

- Noi gương thánh Mônica, chúng ta hãy dùng gương sáng làm phương thế ưu tiên để cảm hóa người khác, nhất là những người ngang tàng mất nết.

-  Noi gương thánh Mônica, chúng ta phải hiểu rằng: “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên,nên hãy làm mọi việc trong tâm tình tín thác vào quyền năng Chúa. Sẵn sàng đón nhận mọi nghịch cảnh, miễn sao điều đó đẹp lòng Chúa và ích lợi cho phần rỗi linh hồn của mọi người.

- Noi gương thánh Mônica, chúng ta hãy luôn chu toàn thật tốt bổn phận hàng ngày của mình với lòng yêu mến Chúa với hy vọng sinh thật nhiều nén bạc quý giá cho mình và tha nhân.  

Lạy Chúa, xin nhận lời thánh nữ Mônica chuyển cầu mà ban cho chúng con, là những người vợ, người mẹ trong các gia đình có được đời sống thánh thiện, hiền lành, khiêm nhường, nhẫn nhịn, trung thành, tin tưởng và phó thác… theo gương thánh nữ Mônica, bổn mạng giới hiền mẫu chúng con. Amen.

 

Thứ sáu: Nhớ Thánh Augustinô.

Mt 25, 1-13

Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục nhắc nhở chúng ta phải tỉnh thức và sẵn sàng trong thời gian chờ đợi ngày Chúa đến, để khi Chúa đến bất ngờ, ta mới có thể ra nghênh đón Người và theo Người vào chung hưởng  niềm vui nước trời.

Hình ảnh 10 cô trinh nữ trong dụ ngôn mà Chúa Giêsu nói đến trong bài tin mừng hôm nay ám chỉ tất cả mọi người kitô hữu chúng ta. Trong đó có những người khôn như năm cô khôn ngoan, nhưng rất có thể có những người khờ như năm cô khờ dại.

Hình ảnh chú rể tượng trưng cho Chúa Kitô.

Sự chậm trễ tượng trưng cho thời gian Chúa đến không biết lúc nào. Chúa có thể đến sớm hay chậm, đêm hay ngày đó là quyền của Chúa.

Đèn tượng trưng cho đức tin.

Dầu tượng trưng cho tình yêu.

Còn phòng cưới thì tượng trưng cho nước trởi.

Có lẽ khi nghe dụ ngôn quen thuộc này, ai trong chúng ta cũng mong muốn mình là người khôn ngoan chứ không ai muốn mình trở thành kẻ khờ dại. Nhưng làm thế nào để ta nên người khôn ngoan?

Xin thưa đó là biết sẵn sàng. Năm cô khôn ngoan là những người biết chuẩn bị sẵn sàng. Các cô không chỉ mang đèn mà mang theo chai dầu. Còn năm cô khờ dại thì không biết phòng xa. Các cô chỉ mang đèn mà không mang dầu theo. Nên trong thời gian chờ đợi chàng rể đến chậm, đèn các cô khờ dại đã hết dầu và tắt lịm. Giờ đã điểm, các cô khờ dại không thể cậy dựa vào ai được, nên các cô đành phải chấp nhận số phận bị loại bỏ bên ngoài, vì cửa phòng cưới đã đóng lại. Còn các cô khôn ngoan thì vui mừng cầm đèn sáng trong tay ra đón chàng rể và hân hoan bước vào phòng cưới trong hạnh phúc.

Xin Chúa cho chúng con hiểu rằng ngày Chúa đến rất bất ngờ, không ai biết trước được. Vậy xin Chúa đong đầy dầu tình yêu của Chúa vào trong tâm hồn chúng con để ngọn đèn đức tin của chúng con luôn cháy sáng mãi cho đến khi ngày Chúa đến.

 

Thứ Bảy: Nhớ Thánh Gioan Tẩy Gỉa Bị Trảm Quyết

Mc 6, 17-29

Người đời thường nói: “Hùm chết để da người chết để tiếng”, để nhằm khuyên dạy chúng ta hãy sống sao cho thật có ích. Tin mừng hôm nay thuật lại cái chết anh dũng của Gioan Tẩy Gỉa để minh chứng cho chân lý và bảo vệ luân thường đạo lý qua việc tố cáo tội ác của vua Hêrôđê.

Xin cho chúng ta cũng can đảm làm chứng cho chân lý và dám hy sinh tất cả để bảo vệ nền đạo đức luân thường theo gương thánh Gioan Tẩy Gỉa.

Cái chết anh dũng của Gioan Tẩy Gỉa được tin mừng trình thuật hôm nay, cho thấy lòng người còn nhiều góc tối:

- Góc tối của đam mê dục vọng.  Đắm chìm trong dục vọng, vua Hêrôđê đã xem thường đạo lý luân thường nên đã cướp đi người vợ của anh mình. Đắm chìm trong đam mê, nhà vua chỉ còn biết buông mình theo những thú vui thấp hèn trong những tiệc tùng náo nhiệt, đầy rượu và thịt.

- Góc tối của hận thù ghen ghét. Không chịu nổi lời nhắc nhở của Gioan Tẩy Gỉa trước hành động vô luân của mình, bà Hêrôdia đã căm thù Gioan Tẩy Gỉa đến tận xương tủy. Nên khi cơ hội đến, bà lập tức mách bảo con gái xin vua cha cái đầu Gioan Tẩy Giả thay cho nửa giang sơn.

- Góc tối của nhác đảm sợ hãi. “Vẫn biết Gioan Tẩy Gỉa là người công chính thánh thiện; vua che chở ông. Khi nghe Gioan nói, nhà vua rất phân vân nhưng lại cứ thích nghe. Nhưng rồi lại không can đảm làm theo tiếng lương tâm của mình”. Vì sợ tiếng nói lương tâm, sợ nghe những lời chân lý, sợ mất uy tín với lời hứa bồng bột trước bá quan văn võ trong lúc ngà ngà… nên nhà vua đã đi đến quyết định ngông cuồng là ra lệnh chém đầu Gioan Tẩy Gỉa.

- Góc tối của ngây ngô dại khờ. Salômê một cô con gái có tài và sắc nhưng lại không có đức. Cô đã dùng sắc đẹp và tài múa giỏi của mình thay vì phục vụ niềm vui và hạnh phúc cho đời, cho người; thì trái lại với sự ngây ngô dại khờ của mình, cô đã dùng những thứ ấy cho sự lợi dụng nhằm phục vụ cho nền văn hóa của sự chết.

Xin cho ánh sáng chân lý của Chúa chiếu giãi vào mọi ngõ ngách của lòng người, hầu xua tan những góc tối nguy hại đang còn ẩn nấp đâu đó nơi cỏi lòng con người hôm nay.

Xin cho chúng ta dám can đảm sống và làm chứng cho ánh chân lý như Gioan Tẩy Gỉa dầu phải hy sinh mạng sống, để bảo vệ cho đạo lý luân thường và làm chứng cho nền văn hóa tình thương.

 

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2020

 

SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN XX THƯỜNG NIÊN

 

CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN A

Mt 15, 21-28

Trình thuật Tin mừng hôm nay để lại tâm trí chúng ta về hình ảnh của một người phụ nữ tuyệt đẹp về đức tính, cách ứng xử và đức tin thật đáng trân quý. Xin cho chúng ta biết học đòi bắt chước gương sáng của bà, để chúng ta cũng được Chúa ban ơn và chúc phúc.

Nét đẹp của người phụ nữ cách chung và của người phụ nữ Á đông chúng ta nói riêng, xưa nay luôn được nhân loại trân quý bởi những đức tính chịu thương chịu khó, khiêm tốn hiền hòa và nhẫn nại. Nói như thế thì người phụ nữ ngoại giáo được tin mừng hôm nay nói đến quả là tuyệt vời, vì hầu như bà có đầy đủ những đức tính ấy.

Với đức tính chịu thương của người phụ nữ, người mẹ ngoại giáo này rất khổ tâm khi phải từng ngày chứng kiến nỗi đau quằn quại của đứa con yêu quý mình mỗi khi ma quỷ ám hại nó. Rất có thể trước nay, bà ta đã tiêu tốn không ít tiền của, sức lực, thời gian… để tìm thầy, chạy thuốc khắp nơi với mong muốn cứu chữa cho đứa con yêu quý của bà thoát khỏi tình trạng khốn khổ này. Chính nhờ sức mạnh tình thương mẫu tử ấy đã giúp bà đủ can đảm và sức mạnh để vượt qua mọi rào cản ngăn cách, để tìm đến gặp gỡ Thầy Giêsu. 

Với đức tính chịu khó, bà đã không ngần ngại vượt qua làn ranh giới địa lý xa cách, nhiều hiểm trở và làn biên ngăn cách của luật lệ cấm kỵ giữa người Do Thái và dân ngoại, cũng như bức tường ngăn cách về quan niệm tâm lý giữa người nam và người nữ, để gặp cho bằng được Thầy Giêsu, với mong muốn duy nhất là cứu chữa cho đứa con mình khỏi thần ô uế ám hại.

Với lòng khiêm tốn thẳm sâu, bà ta đã không ngần ngại đến trước mặt Chúa Giêsu và phục lạy Người với lời khấn xin tha thiết: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi”. Lòng khiêm tốn ấy càng sâu thẳm hơn khi sẵn sàng nhìn nhận mình chỉ là chó con trước mặt Chúa“Thưa Thầy, đúng thế, nhưng các chó con cũng được ăn những mụn rơi dưới bàn ăn của con cái”. Bởi bà hiểu rằng, trước mặt Chúa bà chỉ là thụ tạo chẳng là gì khi hiện diện trước một TC sáng tạo, quyền năng và giàu lòng thương xót.

Với tinh thần nhẫn nại, bà đã không nản lòng trước lời từ chối khó nghe của Chúa Giêsu “Hãy để con cái ăn no trước đã vì không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó”.  Những lời đắng lòng ấy đã không làm cho bà tự ái, nản lòng và bỏ cuộc; trái lại còn làm cho bà thêm nhẫn nại và kiên cường hơn nên bà đã van xin cho tới cùng: “Vâng, lạy Ngài, vì chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ bàn của chủ rơi xuống.”

Tất cả những đức tính cao quý trên sẽ không có được nơi người phụ nữ nếu không có được đức tin mạnh mẻ. Chính nhờ lòng tin mạnh mẻ của bà mà đứa con con yêu quý của bà được Chúa Giêsu cứu chữa, như lời Chúa Giêsu xác nhận: “Này bà, bà có lòng mạnh tin. Bà muốn sao thì được vậy.”.

Suy gẫm về hình ảnh của người phụ nữ ngoại giáo tuyệt đẹp hôm nay, ta cảm thấy hổ thẹn vì nhiều người trong chúng ta không còn giữ được những đức tính cao đẹp và đáng yêu như: chịu thương chịu khó, lòng khiêm tốn và sự kiên nhẫn trong tương quan với Chúa, với nhau và với công việc như người đàn bà ngoại giáo; nhất là đức tin của chúng ta cũng chưa đủ mạnh để dám tin tưởng, phó thác hoàn toàn vào tình thương và quyền năng của Chúa, Đấng chúng ta tôn thờ.

Xin Chúa giúp chúng ta có được đức tin mạnh mẽ để trong mọi hoàn cảnh ta luôn sẵn sàng tín thác vào lòng thương xót. Đồng thời cũng cho chúng ta ý thức sống tốt những đức tính nhân bản cần thiết trong đời sống làm người.

 

Thứ hai: Mt 19, 16-22.

Có lẽ khát vọng lớn nhất của con người là sự sống đời đời. Nhưng làm thế nào để có được sự sống ấy? Lời Chúa hôm nay sẽ khai mở cho chúng ta biết cách thức để đạt đến khát vọng cao quý ấy.

Sách Giáo Lý Công Giáo thường được chia thành 4 phần: Tín lý (tuyên xưng đức tin), luân lý (sống đức tin), bí tích (cử hành đức tin) và cầu nguyện (đức tin cầu nguyện). Nhưng hình như đa phần người Công giáo chúng ta chỉ chú trọng đến phần luân lý (sống đức tin) mà ít quan tâm đến phần tín lý (tuyên xưng) và những phần còn lại nên có sự sai lệch trong cái nhìn và cách sống đạo.

Nền luân lý Công giáo luôn nhấn mạnh đến Mục đích và Phương tiện phải song hành trong cái nhìn đạo đức sinh học. Theo cái nhìn này, thì một hành vi luân lý được chấp nhận khi thỏa mãn hai diều kiện: phương tiện và mục đích đều đúng và trúng. Nếu một trong hai yếu tố ấy không đúng và trúng thì hành vi đó bị xem là sai lạc.

Ví dụ: Vì nhân danh mục đích giúp đỡ người nghèo mà ta đi cướp bóc của cải người giàu để chia cho người nghèohoặc vì muốn giúp cho bệnh nhân thoát khỏi tình trạng đau đớn cùng cực về thể xác mà ta tiêm cho họ một mũi thuốc an tử thì không đúng, vì làm như thế là ta đã xử dụng phương tiện sai trái để biện minh cho mục đích tốt. Lý do là vì sự sống bắt nguồn từ Thiên Chúa nên quyền quyết định sinh tử đều nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa. Con người không có quyền can thiệp vào sự sống-chết cho mình hay cho người khác.

Anh thanh niên trong bài Tin mừng hôm nay mặc dù giàu có và giữ luật rất tốt. Nhưng xem ra anh ta vẫn không an lòng, bởi vì luật lệ và của cải hình như không phải là phương thế thật sự để đưa anh đạt đến vinh quang nước trời. Vì thế anh ta đã tìm đến với Chúa Giêsu để hỏi xem: “phải làm việc lành gì để được sống đời đời?”. Thật bất ngờ với lời đề nghị của Chúa Giêsu: "hãy bán hết của cải ngươi có và bố thí cho người nghèo khó...rồi đến theo Ta". Như vậy yêu thương và chia sẻ cho người nghèo mới chính là phương thế để được sự sống đời đời. Do không muốn hy sinh chia sẻ cho người nghèo theo lời đề nghị của Chúa Giêsu nên anh ta buồn và quay mặt bỏ đi trong thất vọng.

Tóm lại, phương tiện để đạt đến mục đích sự sống đời đời không phải là tiền bạc, cũng không chỉ là tuân giữ một số luật lệ chay cứng vô hồn, nhưng là phải tích cực thi hành những việc làm bác ái, chia sẻ cho tha nhân với niềm tin yêu và phó thác vào Chúa.

Tin Chúa, thì phải sống cậy trông phó thác vào Chúa chứ không phải là tiền bạc của cải. Nên Chúa bảo: “hãy bán tất cả …mà theo Ta”.

Yêu người, là phải biết rộng lượng chia sẻ với anh chị em, đặc biệt những người nghèo khó “hãy bán hết của cải mà bố thí cho người nghèo…”.

Lạy Chúa, cả đời sống đạo là để được hạnh phúc nước trời, xin cho chúng con biết phụng sự Chúa với tấm lòng yêu mến; và biết yêu thương tha nhân bằng những hành vi bác ái, chia sẻ chân tình. Nhờ đó, chúng con mới có được hạnh phúc ở đời này và cả đời sau . Amen

 

Thứ ba: Mt 19, 23-30

Tiếp nối bài tin mừng hôm qua, sau khi người thanh niên giàu có từ chối bán tài sản của mình để đổi lấy sự hoàn thiện (hay sự sống đời đời) thì ngay sau đó, Chúa Giêsu đưa ra kết luận: “người giàu có khó vào được Nước Trời”Bên cạnh đó, Chúa Giêsu còn cho biết phần thưởng lớn lao cho những ai dám chấp nhận từ bỏ mọi sự vì danh Ngài. Đó là sự sống đời đời làm gia nghiệp.

Khi nói tới hai chữ “từ bỏ” tức là không còn hoặc mất đi một cái gì đó mà trước đây mình đã có hay đã sở hữu. Tâm lý con người thường không chịu thua thiệt, luôn luôn đòi hỏi sự cân xứng với phương châm "có qua có lại mới toại lòng nhau". Nên tông đồ Phêrô đã hỏi thay cho chúng ta: “chúng con đã từ bỏ mọi sự mà theo Thầy, vậy chúng con sẽ được gì?”.

Tin tưởng vào Đức Giêsu là Chúa uy quyền và giàu tình thương nên Ngài sẽ không để cho những ai theo Ngài phải chịu thiệt thòi. Chắc chắn Ngài sẽ ban lại cho những ai dám từ bỏ, hy sinh và cho đi vì Ngài một phần thưởng lớn lao hơn, đó là “được gấp bội và được sống đời đời”. Đây quả là một phần thưởng cao quý mà lòng người chẳng dám ước mong.

Ngày hôm nay, nếu ai đó bỏ cha mẹ, anh chị em, hay con cái, hoặc nhà cửa, ruộng đất… mà theo Chúa thì bị xem là người không bình thường, mất tính nhân bản vì đi ngược lại với đạo lý làm người. Nếu hiểu theo nghĩa đen thì đúng như thế, nhưng việc theo Chúa không phải hiểu như thế. Theo Chúa là biết chọn Chúa làm ưu tiên số một, làm lẽ sống cho đời ta, còn những giá trị khác ngoài Chúa chỉ là thứ yếu. Bởi lẽ nếu xét cho đến cùng thì mọi thứ trên trần gian này đều do Chúa dựng nên và tất cả cũng chỉ là phù vân, tạm bợ, chóng qua... Duy chỉ có mình Chúa và nước trời mới là vĩnh hằng và hạnh phúc thật. Chính vì thế mà Chúa Giêsu không ngần ngại nhắc nhở chúng ta đừng quá bám víu vào của cải, vật chất, tiền bạc... như người thanh niên giàu có, mà loại trừ Chúa ra khỏi những chọn lựa ưu tiên trong đời sống của mình.

Lạy Chúa, xã hội càng ngày càng văn minh, đầy đủ tiện nghi vật chất, vì thế mà cuộc sống con người cũng được cải thiện và sung túc hơn. Nhưng chính vì thế mà con người ngày nay dễ dàng quên và xa Chúa do không cưỡng lại sức hút của đồng tiền. Xin Chúa đừng để chúng con sa vào ma lực của đồng tiền mà xa rời bước đường theo Chúa và lý tưởng hạnh phúc nước trời.

 

Thứ tư: Mt 20, 1-16a.

Thiên Chúa là Đấng công bằng, nhưng cũng đầy lòng yêu thương vô cùng. Đó là chân lý mà lời Chúa hôm nay khẳng định với chúng ta qua dụ ngôn những người làm vườn nho.

1. Thiên Chúa rất ư là công bằng.

Những người thợ vườn nho đi làm từ sáng sớm, tỏ ra bất bình và khó chịu trước cách thức trả lương của ông chủ. Họ cho rằng đã làm nhiều giờ, vất vã đổ mồ hôi nhiều thì chủ phải trả tiền nhiều. Kẻ làm ít giờ, chịu nắng mưa và đổ mồ hôi ít thì tiền công phải ít. Vậy mà tất cả đều được ông chủ trả như nhau, là một đồng. Làm như vậy ông chủ có công bằng không?.

Tưởng như không công bằng trước cách thức trả tiền công của chủ. Nhưng qua lời giải thích của ông chủ, ta thấy việc trả công của ông quá ư là công bằng. Bởi lẽ ngay từ đầu họ đã thoả thuận và chấp nhận với chủ ngày công là một đồng. Như thế ông chủ đã trả cho họ đúng với những gì họ đã thỏa thuận và xứng với những gì họ đã làm. Còn ông chủ có trả cho thợ làm vào giờ chót bằng số tiền của họ là vì tình thương của ông chủ. Chẳng lẽ ông chủ không được làm điều ấy sao?

Thiên Chúa là Đấng công bằng vô cùng. Do đó, Ngài sẽ ban thưởng hay luận phạt chúng ta theo công việc tội phúc mà chúng ta đã làm. Dĩ nhiên chúng ta không nên đòi hỏi nơi Ngài sự công thẳng "vì nếu chấp tội nào ai đứng vững".

2. Thiên Chúa còn là Đấng giàu lòng thương xót.

Thiên Chúa của chúng ta không chỉ công bằng mà Người còn giàu lòng yêu thương. Những người thợ được ông chủ kêu gọi vào làm vườn nho ngay từ sáng sớm đã là một vinh dự và là niềm an vui lớn lao rồi. Bởi lẽ họ không phải lo lắng và chờ đợi việc làm. Kẻ được mời gọi vào những giờ chót trong ngày, họ phải sống trong tâm trạng phập phòng lo lắng và phải lang thang suốt cả ngày đi tìm việc làm. Cuối cùng tất cả đều được kêu gọi vào làm cùng một việc và trong cùng vườn nho của chủ. Đó không chỉ là niềm vui lớn lao của người những thợ làm vườn sau chót mà còn là vinh hạnh cao quý của người được gọi làm từ ban mai. Sở dĩ ông chủ mời gọi tất cả vào làm vườn nho của ông, đó là vì Ngài giàu lòng yêu thương, muốn tạo công ăn việc làm và cuộc sống cho mọi người. Hình ảnh ông chủ ấy là Thiên Chúa và vườn nho là Giáo Hội của Người.

Chúng ta là những người thợ vinh dự được Thiên Chúa mời gọi vào vườn nho Giáo hội. Có thể trong chúng ta, có những người được mai mắn gia nhập vào vườn nho Chúa rất sớm, ngay từ khi ban mai của cuộc đời; cũng có những người vì hoàn cảnh hay lý do nào đó, họ chỉ được mời gọi vào vườn nho Giáo Hội trong thời điểm của ngày tàn. Nhưng điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là chúng ta đã được Chúa yêu thương mời gọi vào vườn nho Giáo Hội của Chúa, nên hãy ý thức cố gắng làm việc hết mình và hết sức trước tình yêu mời gọi của Người.

Lạy chúa, xin cho chúng con đừng tự hào về những công việc chúng ta đã làm, nhưng cho chúng con biết tự hào vì chúng con có một người Cha giàu lòng xót thương. Người sẽ ban thưởng cho chúng con hơn những gì chúng con đã làm.

 

Thứ năm: Mt 22, 1-14.

Dụ ngôn tiệc cưới cho hoàng tử mà Chúa Giêsu nói đến trong đoạn tin mừng hôm nay hơi lạ.

Lạ vì những người được nhà vua ưu ái mời đến đều từ chối vì nhiều lý do: “Người thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán; những người khác thì bắt đầy tớ vua mà nhục mạ và giết đi”.

Lạ là sau khi những người được mời khướt từ thì vua lại sai đầy tớ ra các ngả đường để mời gọi tất cả mọi người không phân biệt tốt xấu vào tham dự tiệc cưới.

Lạ vì bất ngờ nhà vua lại trừng phạt nặng nề đối với người không mặc y phục lễ cưới “Trói tay chân nó lại, ném nó vào nơi tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng!”. Chính vì những điều lạ như thế nên ta hiểu rằng đây không phải là tiệc cưới bình thường mà là tiệc cưới nước trời.

Bàn tiệc nước trời được mở ra và lời mời gọi của Chúa được gửi đến tất cả mọi người. Được tham dự bữa tiệc nước trời là khao khát lớn nhất của con người. Tuy nhiên để xứng đáng tham dự vào bữa tiệc ấy, cần phải hội đủ hai điều kiện:

- Biết trân quý lời mời gọi của Chúa mà tích cực đáp lại.

- Phải “mặc y phục lễ cưới”. Nghĩa là mặc lấy con người mới trong Chúa Kitô là sống công chính và thánh thiện: “Anh em hãy mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Eph 4,24).

Xin cho chúng ta biết tích cực đáp lại lời mời gọi của Chúa qua việc siêng năng đến tham dự bàn tiệc Thánh Thể do Chính Chúa Giêsu thết đãi hằng ngày trên bàn thờ và luôn sống công chính, thánh thiện trước thiên nhan Chúa hầu chuẩn bị tâm hồn xứng hợp cho việc tham dự vào bữa tiệc viên mãn trong nước trời mai ngày.

 

Thứ sáu: Mt 22, 34-40.

Xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu ngổn ngang những luật lệ, khiến dân chúng không còn phân biệt đâu là chính, đâu là phụ. Ngay cả những người Biệt phái còn cảm thấy rối não huống chi là giới bình dân. Tận dụng cơ hội ấy để làm bẻ mặt Chúa Giêsu, nhóm Biệt phái đã cử một người thông luật đến với Chúa Giêsu để hỏi thử xem điều luật nào là quan trọng nhất? Với câu hỏi ấy, họ không nhằm tìm hiểu chân lý cho bằng nhắm đến hai mục tiêu:

1. Thử xem trình độ am hiểu về thánh kinh luật lệ của Chúa Giêsu ra sao? Để bắt bẻ và hạ nhục nếu Người không giải thích thỏa đáng.

2. Nhân dịp này, họ cũng biết được Chúa Giêsu đang đứng về phe nhóm nào? Bởi lẽ, thời bấy giờ có khá nhiều phe nhóm, mỗi phe nhóm đề cao một số luật lệ.

Chúa Giêsu dư biết dã tâm của họ. Nhưng vì muốn xác định lại tính chất tinh tuyền của lề luật nên Chúa Giêsu đã trích dẫn lại hai câu Thánh kinh, một trong sách Đệ-nhị-luật và một trong sách Lê-vi để trả lời cho họ: “Ngươi phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi.”(Đnl 6, 5). Đó là điều quan trọng thứ nhất. Điều luật thứ hai cũng quan trọng không kém, đó là: “Ngươi phải yêu thương người thân cận như chính mình” (Lv 19, 18). Rồi Người kết luận: “Toàn thể lề luật và sách các tiên tri đều tóm lại trong hai giới răn đó”. Như vậy là đã rõ, điều luật quan trọng nhất mà TC ban cho nhân loại chính là tình yêu…

Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn nghĩa là tình yêu ta dành cho Chúa phải chân thành và luôn trung thành, trước sau như một, không bao giờ thay lòng đổi dạ, không một cản trở nào làm giảm bớt hay sức mẻ, dù có phải hy sinh vẫn chấp nhận. Tình yêu ấy phải được hướng dẫn bởi những tài năng của linh hồn như: lý trí, ý chí và nhất là tự do; chứ không phải là tình yêu mù quáng.

-   Yêu thương người khác như chính mình nghĩa là phải đối xử với người khác cùng một “tình yêu” như ta đã xử với bản thân mình. Hơn thế nữa, Chúa Giêsu còn mời gọi chúng ta quy hướng đến tình yêu “như Chúa yêu”. Đó là một tình yêu phổ quát dành cho hết mọi người. Đó là một tình yêu trao ban nhằm phục vụ nhu cầu chính đáng cho tha nhân: “người mù được sáng, kẻ què đi được, người điếc nghe được, người câm nói được...”. Và trên hết đó là một tình yêu hy hiến, sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì tha nhân với mong muốn tha nhân được hạnh phúc, vui sướng và "được sống dồi dào". 

Lạy Chúa, yêu Chúa thì còn dễ nhưng yêu người khác như chính mình quả là khó; mà yêu người khác như Chúa yêu thật khó biết bao nếu không có ơn Chúa giúp. Xin Chúa ban ơn giúp sức và đong đầy sức mạnh tình yêu của Chúa vào trong tâm hồn chúng con, để mỗi người chúng con can đảm sống và ứng xử với nhau bằng chính tình yêu như Chúa yêu chúng con. Amen.

 

Thứ bảy: Lc 1, 26-38.

Lễ nhớ ĐỨC MARIA NỮ VƯƠNG

Mừng lễ Đức Maria Nữ Vương hôm nay, GH mời gọi chúng ta hướng tâm hồn về Mẹ, vì Mẹ là một phần tử ưu việt của GH, đã sống với Thiên Chúa cách trọn hảo, và đã luôn xin vâng theo thánh ý Thiên Chúa trong mọi cảnh huống của cuộc đời.

Thánh Bênađô đã khẳng định rằng "nói về Mẹ thì không bao giờ đủ"; bởi vì các nhân đức của Mẹ thật tuyệt vời. Một trong những nhân đức ấy, là sự khiêm nhường của Mẹ. Thánh sử Luca cho biết, khi kết thúc biến cố truyền tin, Mẹ đã đáp lại "Tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói".  Trong bài ca Magnificat, Mẹ cũng nhìn nhận mình là ‘phận nữ tỳ hèn mọn’. Nơi mái ấm gia đình Na-da-rét, Mẹ đã sống âm thầm lặng lẽ phục vụ thánh Giuse và Hài Nhi Giêsu. Vâng, Nữ tỳ của Chúa là người thuộc nữ giới, hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa, chỉ biết thực hiện mọi ý của Chúa, chứ không làm theo ý riêng. Vì thế, Mẹ đã để cho Chúa hướng dẫn cuộc đời của Mẹ, trong mọi hoàn cảnh sống, Mẹ sẵn sàng phó thác tất cả cho sự quan phòng của Chúa.

Sống khiêm nhường là một nhân đức, nhưng thật là khó để tập nhân đức này. Bởi vì, mỗi người trong chúng ta vốn ‘mang gen’ kiêu ngạo, luôn tự cho mình là tài giỏi và trên hết. Càng có chức có quyền thì cái tôi càng lớn, theo đó tính kiêu ngạo cũng càng cao. Được làm ông này bà nọ thì coi mọi người chỉ là hạng thứ dân. Người có chút tài năng thì sinh tính kiêu ngạo, mang cái ‘bệnh của sao’ và coi người khác chẳng ra gì… thật vậy, ai cũng muốn sống khiêm nhường trước mặt mọi người và Thiên Chúa, vì nó là một khát vọng chính đáng, nhưng nhiều khi ta không biết cách thực hành như thế nào, vậy phải làm sao đây?

Thiết nghĩ, muốn sống khiêm nhường thì cần phải diệt cái tôi của bản thân. Cha Vincente Lebbe cho rằng, chúng ta cần phải chiến đấu với cái tôi hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, nên phải luôn đánh tôi, đánh ngã tôi, và đánh chết tôi. Nói như thế, cái tôi trong mỗi người chúng ta thật là lớn, và rất khó để diệt nó. Chỉ khi nào chúng ta làm chủ được cái tôi thì ta mới có thể sống khiêm nhường được. Một tâm hồn khiêm nhường thì dễ lắng nghe tiếng Chúa và sẵn sàng đáp lại thánh ý Ngài, và rồi ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên.

Mừng lễ Đức Maria Nữ Vương hôm nay, chúng ta cùng nhau xin Mẹ luôn chở che nâng đỡ mỗi người chúng ta trên hành trình dương thế này. Xin cho mỗi người chúng ta cũng biết thưa tiếng xin vâng như Mẹ trước thánh ý của Thiên Chúa, và để cho thánh ý của Chúa được hoàn thiện nơi bản thân chúng ta.

Mẹ đã sống khiêm nhường trước mặt Thiên Chúa và mọi người. Noi gương Mẹ chúng ta hãy sống khiêm tốn trở nên người tôi tớ trung tín của Chúa, và phục vụ tha nhân cách chân thành. Cùng với Mẹ, ta hãy trở nên thành phần thánh thiện trong Hội thánh.

 

 

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2020

SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN XIX THƯỜNG NIÊN 

CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN A

Mt 14, 22-33

Cuộc đời chúng ta có lúc yên bình nhưng lắm khi cũng gặp giông bão, khiến chúng ta cảm thấy sợ hãi bất an, nên rất cần có Chúa ở bên để che chở, hướng dẫn. Có Chúa ở bên, thuyền đời của ta mới mong vượt thoát được sóng to gió lớn giữa biển trần mà đạt đến bến bờ của bình an.

Những hình ảnh được đề cập trong đoạn Tin mừng hôm nay giúp chúng ta hiểu rằng:

Các môn đệ chính là mỗi người chúng ta.

Con thuyền là hình ảnh của Giáo Hội.

Biển khơi là hình ảnh trần gian.

Đêm tối, bảo tố, gió mạnh là những thử thách do ma quỷ gây nên.

- Giống như các môn đệ xưa, chúng ta đã bước vào con thuyền của Giáo Hội khi lãnh nhận bí tích thánh tẩy. Cùng ở trong con thuyền Giáo hội, tất cả chúng ta đều đang tiến bước trên biển đời trần gian này.

- Tựa như con thuyền của các môn đệ bị sóng to gió lớn đánh dữ dội, thì ở mọi thời, mọi nơi, Giáo hội cách chung; cách riêng thuyền đời của mỗi người chúng ta cũng phải đương đầu với bao là chống đối, vu khống, bôi nhọ và loại trừ bởi thế lực của ma quỷ gây ra.

- Ví như bóng đêm là những vết đen đáng tiếc xảy ra trong Giáo hội; hay những đau khổ, thất bại và bất hạnh xảy đến trong cuộc sống mình, làm cho niềm tin của chúng ta như bị chao đảo, lắm khi mất cả phương hướng cho cuộc sống.

- Sánh như tông đồ Phêrô, vì nghi ngờ vào quyền năng của Chúa, khiến ông sợ hãi, sắp chìm. Cuộc đời của người Kitô hữu chúng ta khi đối mặt với những khó khăn, đau khổ và thử thách… trong cuộc sống, lắm khi cũng làm ta lo sợ, nghi ngờ vào quyền năng của Chúa và có khi đánh mất cả niềm tin và hy vọng mà buông mình chìm sâu vào dòng chảy của biển đời này. Nhưng chúng ta hãy vững tin vì có Chúa Giêsu luôn ở bên đời, hằng nâng đỡ chở che và ra tay cứu giúp, nếu chúng ta biết tin tưởng, trông cậy và tha thiết kêu cầu Người như Phêrô:“Lạy Thầy, xin cứu tôi”. 

Xin Chúa ban thêm lòng tin nơi chúng ta, để trong bất cứ hoàn cảnh thử thách nào, ngay cả những lúc bước đi trong đêm tối của đức tin, chúng ta vẫn an tâm tiến bước trên sóng gió cuộc đời này với lòng hân hoan vì tin rằng có Chúa luôn ở bên hướng dẫn chúng ta.


Thứ  hai: 2Cr 9,6-10; Ga 12, 24-26

Kính Thánh Lau-ren-sô, phó tế tử đạo

Cả hai bài đọc hôm nay đều nói lên tinh thần hy sinh vô vị lợi vì nước trời.

Bài đọc 1: Với nguyên tắc bình thường, ngoại trừ bất thường, Thánh Phaolô cho biết: “gieo nhiều” sẽ “gặt nhiều”. Theo nguyên tắc này, thánh Phaolô kêu gọi các tín hữu Côrintô cũng như chúng ta hãy tích cực dâng hiến đời mình để phục vụ Chúa. Nhưng để dâng hiến phục vụ, đòi hỏi ta phải hy sinh. Mà hy sinh là việc làm khó. Bởi lẽ ta thường cho rằng những gì ta dâng hiến là của ta. Nhưng thực ra những gì ta “Có” và ta “Là” đều do Thiên Chúa ban tặng. Nên “ai vui vẻ dâng hiến sẽ được Thiên Chúa yêu thương” (x. 2 Cr 9,7).

Còn  bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu lại đưa ra cho chúng ta hiểu được quy luật căn bản: chết để được sống. “nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều bông hạt.” (Ga 12,24); theo nguyên tắc này Chúa Giêsu xác quyết: “Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.” (Ga 12,25).

Thầy phó tế Lô-ren-sô đã nhận ra nguyên tắc và hiểu được quy luật ấy nên đã vui vẻ dâng hiến đời mình, sẵn sàng chết đi vì tình yêu.

– Yêu Chúa, thánh nhân đã rời bỏ quê hương Hu-ét-cô, nước Tây Ban Nha thân yêu để đến Roma du học. Tại đây ngài được biết đến là con người nổi danh về tài đức. Nhưng không vì thế mà ngài tìm cho mình cuộc sống vinh hoa, phú quý. Trái lại, thánh nhân đã dùng tài đức Chúa ban dấn thân phục vụ Chúa, dưới thời giáo hoàng Xít-tô II, trong bối cảnh đầy hiểm nguy bởi sự cấm cách và bách hại khắc nghiệt của hoàng đế Đê-ci-ô.

– Yêu người, thánh nhân đã không ngại hy sinh dấn thân trong trách nhiệm phục vụ người nghèo. Với vai trò là vị phó tế trưởng, quảng trị tài sản của Giáo hội, ngài luôn ưu tư lo cho người nghèo. Ngay trong giờ phút nguy khốn nhất, với cái chết cận kề, ngài vẫn không quên dùng tất cả tài sản của Giáo hội đem ra phân phát cho người nghèo. Với ngài tài sản quý giá nhất chính là người nghèo. Nên sau khi phân phát hết của cải cho người nghèo, ngài đã dẫn họ đến trước mặt viên tổng trấn Va-lê-ri-a-nô và xác nhận cho biết: những người nghèo đứng trước mặt tổng trấn chính là tài sản của Giáo hội.

Tình yêu chính là sức mạnh thúc đẩy thánh Lau-ren-sô sẵn sàng phục vụ Chúa và tha nhân cho dẫu phải hy sinh tính mạng. Đúng như lời thánh Phaolô nói: “Ai vui vẻ dâng hiến sẽ được Thiên Chúa yêu thương.” Thánh nhân đã vui vẻ dâng hiến vì cảm thấy mình được Chúa yêu thương. Nên khi bị hỏa thiêu, ngài còn khôi hài nói với hoàng đế: Một bên đã chín rồi hãy chiên bên kia nữa mà ăn!.  Sau đó ngài cầu xin cho thành phố Rôma được trở lại với Ðức Kitô và cho Ðức Tin Công Giáo được lan tràn khắp thế giới. Ngài lãnh nhận triều thiên tử đạo vào năm 258 và đã được Thiên Chúa yêu thương ban thưởng sự sống đời đời vì đã coi thường mạng sống mình ở đời này.

Xin cho chúng ta có được tình yêu Chúa nồng nàn, để ta luôn trung kiên sống và làm chứng niềm tin dù có phải chịu nhiều gian khổ, ngay cả hy sinh mạng sống mình; đồng thời cũng xin cho chúng ta có được lòng yêu người, nhất là những người nghèo như thánh Lau-ren-sô, để ta tận tâm phục vụ tha nhân với hết khả năng của mình.

 

Thứ ba: Mt 18,1-5.10.12-14

Dưới trần gian tranh giành địa vị, chức quyền đã đành. Trên trời mà còn tranh quyền đoạt lợi quả là một điều đáng trách. Thế mà các môn đệ xưa kia lại đưa lối suy nghĩ trần tục ấy vào chốn vĩnh cửu, nên các ngài không ngần ngại đặt vấn đề với Chúa: "ai là người lớn nhất trong nước trời." 

Chúa Giêsu không trả lời ai là người lớn nhất trong Nước Trời, nhưng Chúa cho biết cần phải có điều kiện như thế nào? để được vào Nước Trời.

Điều kiện ấy chính là phải trở nên như trẻ nhỏ. Không phải chúng ta hóa kiếp trở lại làm trẻ nhỏ, nhưng Chúa muốn chúng ta phải có tinh thần trẻ nhỏ.

Vì trẻ nhỏ luôn thành thật, đơn sơ, trong trắng. Chúa muốn chúng ta cũng hãy đơn sơ, thành thật, đừng mưu mô, lọc lừa… , cho dẫu lắm khi sự thật làm ta phải chịu thiệt thòi, bị xem thường, bị hiểu lầm…

Vì trẻ nhỏ cảm thấy mình yếu đuối nên luôn tin tưởng phó thác cậy dựa vào cha mẹ. Chúa cũng muốn chúng ta luôn tin tưởng tín thác và cậy trông vào Chúa, nhất là những lúc chúng ta gặp phải gian nan, khốn khó.

Vì trẻ nhỏ luôn khiêm nhường biết mình còn nhiều giới hạn nên không ngừng cố gắng trao dồi học hỏi những điều hay lẽ phải từ người lớn. Chúa cũng muốn chúng ta biết khiêm tốn lắng nghe và học hỏi lời Chúa trong Thánh kinh, qua các giáo huấn của GH, nhất là qua các biến cố xảy ra trong cuộc sống  hằng ngày.

Nói tóm lại, Chúa muốn chúng ta hãy sống tinh thần trẻ thơ, mặc dù chúng ta mang thân xác của người lớn. Ai sống được tinh thần như thế, mới xứng đáng được vào Nước Trời và là kẻ lớn nhất trong Nước Trời.

Chúng ta hãy luôn nhớ rằng: trước mặt Chúa, chúng ta chỉ là những người con bé nhỏ. Không có Chúa, chúng ta chẳng làm được chuyện gì nhưng nếu chúng ta có làm được chuyện gì đi nữa, thì tất cả cũng là nhờ bởi ơn Chúa ban mà thôi.

Xin Chúa cho chúng con luôn biết phó thác cả cuộc đời chúng con cho Chúa, như đứa bé đặt hết niềm tin yêu vào cha mẹ. Để sau cuộc đời dương thế này, chúng con được quây quần bên Chúa, chung hưởng niềm hạnh phúc viên mãn cùng các thánh tử đạo Việt Nam trong nước trời.


Thứ tư: Mt 18, 15-20

Đoạn tin mừng hôm nay ghi lại 3 lời giáo huấn của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ: Sửa lỗi huynh đệ, tha thứ cho nhau  hiệu quả của lời cầu xin hiệp nhất. Những lời giáo này rất cần cho đời sống cộng đoàn.

1. Sửa lỗi huynh đệ. Lầm lỗi là chuyện thường tình của con người “nhân vô thập toàn”. Nên sửa lỗi cho nhau là trách nhiệm của mỗi người trong cộng đoàn, chứ không phải là việc làm tùy thích riêng ai. Bởi lỗi lầm cá nhân gây nguy hại đến người khác và làm sứt mẻ tình đoàn kết giữa các thành phần trong cộng đoàn.

Tâm lý tự nhiên ai trong chúng ta cũng ngại đến việc sửa lỗi. Bởi không khéo, ta sẽ bị người đời lên án là “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”, chẳng lợi lộc gì cho bản thân mà còn gây ra lụy phiền cho mình cho người. Nhưng vì tình huynh đệ và vì ích lợi chung, đòi buộc ta phải có bổn phận sửa lỗi cho nhau.

Vậy ta phải sửa lỗi thế nào để mang lại kết quả tích cực? Tin mừng hôm nay,  Chúa Giêsu chỉ dạy chúng ta phải tiến hành cách tiệm tiến và tế nhị, đi từ kín đáo đến công khai; từ cá nhân đến tập thể, theo các bước sau:

- Trước hết gặp riêng ngươi với nó: giữa hai người (cá nhân với cá nhân). Nếu không có kết quả?

- Tiếp theo ta đem theo một hay hai người làm chứng. (tạo nên sức mạnh và mang tính xác thực cho lời chứng). Nếu cũng không nhìn nhận sai lỗi?

- Sau cùng đưa ra cộng đoàn Hội Thánh. “Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe thì kể nó như người ngoại hay thu thuế.”

Tuy nhiên, trong bất cứ hoàn cảnh nào, ta phải luôn giữ được tinh thần bác ái huynh đệ, với hy vọng giúp người có lỗi ý thức về sai lầm của mình mà sửa đổi. Không chịu nghe cộng đoàn thì họ đã tự cô lập mình. Ta chỉ còn phó thác họ cho lòng nhân từ của Chúa mà thôi.

2. Tha thứ cho nhau. Nếu lỗi lầm làm ảnh hưởng đến cộng đoàn Hội Thánh, thì ta tiến hành từng bước như lời Chúa dạy trên. Nhưng nếu lỗi lầm chỉ mang tính cá nhân, không gây nguy hại đến cộng đoàn Hội Thánh thì cách hay nhất là ta hãy bao dung tha thứ mãi. Đó cũng là điều Chúa nói với Phêrô: “Lạy Thầy, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần không? Chúa Giêsu đáp: “Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy.” (Mt 18, 21-22). Và trong kinh lạy Cha, Chúa Giêsu cũng dạy ta biết rằng: ta chỉ được Chúa tha thứ tội lỗi một khi ta biết tha thứ lỗi tội cho tha nhân. Vì thế mà tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu mới xác quyết với các môn đệ rằng: “những gì các con tháo gỡ dưới đất, thì trên trời cũng tháo gỡ.

3. Lời cầu xin hiệp nhất. Biết rằng, mục đích của việc sửa lỗi và tha lỗi cho nhau trong đời sống là nhằm thức tỉnh người sai phạm để họ sửa đổi mà trở về hòa nhập với cộng đoàn. Tuy nhiên đây là việc làm hết sức khó khăn nên rất cần ơn Chúa. Vì thế mà Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta cần phải hiệp nhất trong lời cầu nguyện.

Lời cầu nguyện hiệp nhất của cộng đoàn rất có hiệu lực vì làm đẹp lòng Thiên Chúa và sẽ được Người đón nhận: "Thầy lại bảo các con, nếu hai người trong các con, ở dưới đất, mà hiệp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời, sẽ ban cho họ điều đó.

Nếu tội lỗi làm chia rẽ thì sự cầu nguyện là phương thế nối kết và hiệp nhất chúng ta lại với nhau trong Chúa. Vì Chúa Giêsu chính là trung tâm nối kết mọi người trong cùng một đức tin. Bởi thế mà ở đâu có  “hai ba người tụ họp với nhau nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa những người ấy.

Xin Chúa cho chúng ta biết khiêm tốn nhìn nhận mình còn nhiều thiếu sót lầm lỗi để đón nhận lời góp ý sửa lỗi chân thành của tha nhân mà chấn chỉnh lại đời sống nên tốt đẹp hơn. Và cũng xin Chúa cho chúng ta biết khôn ngoan áp dụng phương cách sửa lỗi do Chúa chỉ dạy để giúp nhau chỉnh sửa đời sống sao cho phù hợp với thánh ý của Chúa, tạo nên sự hiệp nhất và khả tin trong cộng đoàn hội thánh Chúa.


Thứ năm: Mt 18, 21-19,1

Có thể nói, tha thứ chính là đỉnh cao của lòng thương xót. Thánh Tôma đã nói: “Tha thứ cho người khác là thương xót họ, đó là việc to lớn hơn việc tạo dựng thế giới”. Thật vậy, hành động cao quý nhất của con người để giống TC chính là sự tha thứ. Nhưng thực tế cho thấy tha thứ không dễ chút nào: tha thứ 1 lần đã khó, huống chi tha thứ hoài, tha thứ mãi như lời dạy của Chúa Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay quả là khó hơn cả vượt sông sâu, leo núi cao hiểm trở. Bởi lẽ muốn tha thứ đòi buộc ta phải vượt qua biển sâu của tự ái và leo khỏi núi cao của kiêu căng, tự mãn.

Nhưng cho dẫu khó khăn như vượt đại dương mênh mông và sâu thẳm, vậy mà dân Do Thái vẫn tiến qua giữa lòng biển Đỏ khô chân, đó mới là điều lạ lùng! Vì đối với quyền năng Thiên Chúa thì mọi sự tưởng như không thể đều trở nên có thể, nếu chúng ta biết tin tưởng và phó thác vào uy quyền của Người.

Hơn nữa để giúp ta vượt qua núi cao của kiêu căng, tự mãn mà tỏ lòng bao dung tha thứ cho tha nhân, Chúa Giêsu còn khéo léo nhắc nhở chúng ta về một đấng Thiên Chúa giàu lòng thương xót, hằng sẵn sàng tha thứ mọi tội lỗi cho ta, cho dẫu rất nhiều lần ta xúc phạm đến Chúa nặng nề.

Trong kinh lạy Cha, Chúa Giêsu còn đã dạy chúng ta phải tha thứ cho nhau để được Chúa thứ tha. Xin Chúa cho chúng ta có được tấm lòng thương xót của Chúa để ta cũng hết lòng tha thứ cho anh em mình, nhờ đó mà ta mới xứng đáng đón nhận được sự tha thứ của Chúa. Amen.


Thứ sáu: Mt 19, 3-12

Bất cứ xã hội nào, đất nước nào, tập thể nào, gia đình nào… dù lớn hay nhỏ đều có những quy định và luật lệ của nó. Chính những quy định luật lệ sẽ đem lại tính ổn định xã hội và bảo vệ quyền lợi cho con người. Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu khẳng định với những người Biệt Phái về sự ràng buộc không thể tháo gỡ trong đời sống hôn nhân“sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”.

Luật hôn nhân không phải phát xuất từ định chế của con người, nhưng xuất phát từ ý định của Thiên Chúa. Ngay từ khi tạo dựng con người “ Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ trở thành một xương một thịt” (St 1, 24).

Đã là định chế do chính Thiên Chúa thiết lập (gọi là Thiên luật) thì đòi buộc mọi người đều phải tuân giữ, còn nhân luật (là luật do con người quy ước) thì có tính tương đối và sẽ bị điều kiện hoá bởi hoàn cảnh, thời gian, không gian và cả truyền thống văn hoá… nên có thể thay đổi và cần được thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh của thời đại. Vì luật của Thiên Chúa thì bất biến, vì thế khi nhân luật và Thiên luật đòi buộc cùng lúc, ta cần phải ưu tiên cho Thiên luật. Cho nên khi những người Pharisêu đề cập đến chuyện Môsê cho phép ly dị, thì ngay lập tức Chúa Giêsu đã nói đến sự bất cập của nhân luật và Người tái khẳng định lại sự bất biến mang tính bó buộc của Thiên luật về hôn nhân là bất khả phân ly. (x.Mt 19,1-9; Mc 10,1-12).

Xin Chúa cho các đôi vợ chồng luôn ý thức lời thề hứa chung thủy với nhau trong ngày thành hôn, và ban cho họ dồi dào ơn thiêng để họ đủ nghị lực vượt qua những thách đố trong đời sống hôn nhân và gia đình ngày hôm nay, mà trung tín mãi với nhau đến trọn đời.


Thứ bảy: Lc 1, 39-56

KÍNH TRỌNG THỂ LỄ ĐỨC MẸ LÊN TRỜI

Mừng kính trọng thể lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời hôm nay, đem đến cho chúng ta niềm hy vọng lớn lao. Bởi tin rằng mai sau chúng ta cũng được về trời hưởng vinh phúc cùng với Mẹ. Vì cha mẹ có bao giờ quên con cái và muốn xa rời những đứa con yêu quý bao giờ!

Tuy nhiên để được ở bên Mẹ trong niềm hạnh phúc thiêng đàng, đòi hỏi ta phải sống xứng danh là con yêu dấu của Mẹ. Để trở nên con yêu dấu Mẹ không gì khác hơn là chúng ta noi gương sống như Mẹ đã sống. Đó là sống giới luật Tình Yêu mà Chúa đã dạy.

- Yêu Chúa: Đức Maria đã luôn lắng nghe và thực hành lời Chúa truyền dạy: “ Vâng này tôi là nữ tì của Chúa, xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói”. (Lc 1,38 ).

. Yêu Chúa: Mẹ đã chấp nhận những hệ lụy đau khổ xảy đến, khi đón nhận cưu mang và sinh hạ Hài Nhi Giêsu.

. Yêu Chúa: Mẹ đã can đảm bước đi cùng với Con Mẹ là Đức Giêsu trên mọi nẻo đường đời. Con đường ấy là đường hẹp và là con đường thập giá. Nhưng đó là con đường dẫn đến sự sống đời đời. Như lời Chúa Giêsu đã phán: “Ai muốn theo Ta, hãy tự bỏ mình vác thập giá mình mà theo Ta….” (Mc 8,34).

- Yêu người: Mẹ đã sẵn sàng hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa để cộng tác với Thiên Chúa trong chương trình cứu độ nhân thế.

. Yêu người: Mẹ đã không ngại chấp nhận gian khổ "vội vả lên đường" thăm viếng và ở lại chăm sóc cho người chị họ Elizabeth trong lúc sắp sinh nở. Quả là một hy sinh lớn lao!

. Yêu người: Mẹ đã nhận thánh Gioan (đại biểu nhân loại) làm con Mẹ, cho dẫu trong hoàn cảnh đau khổ tột cùng dưới chân thập giá và tương lai mịt mù.

Chính tình yêu là động lực giúp cho Đức Maria sẵn sàng từ bỏ ý riêng, chấp nhận dấn thân hy sinh suốt đời để Phục vụ Chúa và dâng hiến cho tha nhân.

Có thể nói hình ảnh người phụ nữ được thánh Gioan mô tả trong sách Khải huyền hôm nay là hình ảnh tập chú về Đức Mẹ. Dẫu lộng lẫy, kiêu sa xuất hiện trên trời nơi đền thờ Thiên Chúa cao sang. Nhưng bên cạnh đó, Mẹ cũng phải đối diện với bao nguy hiểm của mãn xà hung ác là sự dữ. Như vậy, bên cạnh hạnh phúc vinh quang nước trời, vẫn luôn có bóng dáng của đau khổ bởi sự dữ đang trực chờ, cần phải vượt qua bằng sức mạnh của Tình yêu nhờ liên kết chặt chẻ với Chúa Giêsu với niềm tin kiên vững vào quyền năng Thiên Chúa mới bay cao, bay xa vào cỏi vinh quang sáng ngời.

Xin cho chúng ta biết noi gương Mẹ Maria hằng gắn bó chặt chẻ với Chúa Giêsu để kín múc sức mạnh và sự sống nơi Người, vì“nhờ liên đới với Đức Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống” (1Cr 15,22). Nhất là luôn biết chu toàn giới luật Tình Yêu mà Chúa chỉ dạy qua việc tận tâm phục vụ tha nhân theo gương Mẹ Maria, hầu xứng danh là con Mẹ và xứng đáng được Chúa ban thưởng hạnh phúc nước trời. Xin Mẹ thương giúp chúng con!

  KỊCH BẢN CHỤP ẢNH, GHI HÌNH   BAN TRUYỀN THÔNG - TƯ LIỆU   I. PHÂN CÔNG NỘI BỘ Để không chồng chéo, con đề xuất chia như sau: Pl...