SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN IV MÙA CHAY
Lm. Nguyệt Giang
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY-NĂM A
1Sm 16, 1b.6-7. 10-13a; Ep 5,
8-14; Ga 9, 1-41
Suy niệm 1:
Chúa nhật IV MC hôm nay được gọi
là Chúa nhật của niềm vui. Vui không bởi phẩm phục màu hồng nhưng vui vì GH sắp
cử hành đại lễ phục sinh, kỷ niệm biến cố Con TC sống lại, mở ra cho nhân loại
niềm hy vọng vào sự sống mai này. Vui vì ánh sáng cứu độ của Thiên Chúa là Đức
Giêsu Kitô đã đến trần gian, xua tan bóng đêm tội lỗi và sự chết, ban lại cho
nhân thế ánh sáng của niềm vui và sự sống mới.
Xin cho chúng ta biết tích cực
đón nhận ánh sáng của Chúa, bằng cách gắn bó mật thiết với Chúa, khiêm tốn lắng
nghe và thực thi đường lối của Chúa với niềm hân hoan, tin tưởng và phó thác
vào tình thương của Chúa.
“Ánh sáng” là chủ đề nổi bật trong Tin
mừng của thánh Gioan. Nên ngay những trang đầu của Tin mừng, thánh Gioan cho
biết Chúa Giêsu chính là: “Ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và
chiếu soi mọi người” (Ga 1,9). Qua phép lạ chữa lành cho người mù được
sáng mắt hôm nay, minh chứng cho thấy Đức Giêsu chính là ánh sáng thật đã đến
trần gian, xua tan bóng tối tội lỗi và sự chết, mang lại niềm vui và sự sống
cho con người: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi
trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.” (Ga
8,12).
Xin cho chúng ta biết mở lòng
tiếp nhận ánh sáng niềm vui Tin mừng của Chúa và tích cực bước theo ánh sáng
Ngài soi dẫn, ngỏ hầu chúng ta trở nên con cái của sự sáng theo như lời thánh
Gioan đã nói: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.
Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ
quyền trở nên con Thiên Chúa.” (Ga 1,11-12).
Suy niệm 2:
Phụng vụ lời Chúa hôm nay cho
thấy có những cái nhìn khác nhau về con người và sự kiện, khởi đi từ những quan
điểm và tâm ý khác biệt nơi mỗi người.
1. Với tiên tri Samuel và ông
Giétsê: thì nhìn con
người qua diện mạo bên ngoài nên khi ông được Thiên Chúa sai đến Belem để tìm
Đavit (con út của ông Isai (Giétsê), thuộc chi tộc Giuđa) để xức dầu tấn phong
đứa út này lên làm vua thay cho Saolê vì đã không tuân phục ý Chúa (1S 16,13),
thì Samuel ông lại muốn xức dầu cho Êliab một người có dáng vóc cao lớn, khoẻ
mạnh trong số 8 người con trai của Giétsê. Nhưng Chúa bảo: “Không phải
người phàm nhìn sao, Thiên Chúa cũng nhìn thế, bởi người phàm chỉ trông thấy
điều lộ trước mắt, còn Giavê trông thấy điều ẩn đáy lòng”. Cuối cùng, nghe
theo sự soi sáng của Chúa, Samuel cũng đã chọn và xức dầu cho Đavít, đứa em nhỏ
nhất, đứa mà người cha là ông Giétsê cũng coi thường nên ban đầu ông không đưa
ra giới thiệu với Samuel.
Câu chuyện cho thấy cái nhìn của
Thiên Chúa không giống cái nhìn của loài người, vì loài người quen nhìn đáng vẻ
bề ngoài, còn Thiên Chúa nhìn tận đáy lòng.
2. Còn những người Biệt phái, thì nhìn Đức Giêsu với cái
nhìn định kiến và ganh ghét nên họ không thể nhận ra được Thiên Tính nơi Người.
Tin Mừng hôm nay cho biết vì muốn
phủ nhận uy quyền TC nơi Đức Giêsu nên những người Biệt phái đã tìm đủ mọi cách
để chối bỏ phép lạ Chúa Giêsu chữa cho người mù từ lúc mới sinh được sáng mắt.
- Trước hết họ mở cuộc điều tra
rộng rãi từ đương sự đến những người láng giềng và cả cha mẹ của đương sự nữa.
Họ hạch hỏi và đe dọa những người này đủ điều, với mục đích làm áp lực để người
mù và cha mẹ anh ta sợ hãi mà chối bỏ phép lạ Chúa Giêsu đã làm. Nhưng vì phép
lạ quá hiển nhiên nên không thể nào phủ nhận được.
- Biết xử dụng quyền lực không
được, họ dùng đến lý lẽ để thuyết phục mọi người với cách lý luận rằng: “Ông
Giêsu đã chữa mắt cho người mù trong ngày hưu lễ vì luật trong hưu lễ là cấm
làm việc. Ai vi phạm là kẻ có tội. Mà kẻ tội lỗi thì không thể là người bởi
Thiên Chúa và không thể làm được phép lạ”. Nhưng cho dù họ có cố tình
bẻ cong sự thật, thì sự thật vẫn hiển nhiên, bởi chính đương sự đã làm
chứng: “Nếu đó là một người tội lỗi, tôi không biết; tôi chỉ biết một
điều: trước đây tôi mù và bây giờ tôi trông thấy”.
- Thấy không thể đối chất lại
cách lý luận đầy thuyết phục của anh mù, cuối cùng họ phải dùng đến thủ
đoạn nham hiểm, bằng cách khơi lại tình trạng quá khứ mù lòa của anh, rồi dựa
vào quan điểm mù quán mà cho rằng anh ta là người tội lỗi mà mạt sát anh: “Mày
sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư? Rồi trục xuất anh ra ngoài”. Với
ý định qua đó cảnh báo mọi người đừng bao giờ tin vào lời chứng của
người có tội. Nhưng tất cả những mưu hèn kế bẩn ấy cũng không làm thay đổi được
niềm tin của người mù vào quyền năng TC nơi Đức Giêsu qua lời xác quyết của
anh: “Xưa nay chưa từng nghe nói có ai mở mắt một người mù từ khi mới
sinh. Nếu người đó không bởi Thiên Chúa thì không làm được gì”. Vì
thế sau khi Chúa Giêsu cho anh biết Người chính là Con Thiên Chúa thì anh
liền “sấp mình thờ lạy Người”.
Trong khi người mù được Chúa ban
cho ánh sáng thể lý và tâm hồn thì những người Biệt phái sáng mắt thể lý lại
trở nên mù lòa về tâm hồn nên đã không tin nhận Chúa Giêsu là TC làm người. Sở
dĩ như vậy là vì mắt tâm hồn họ còn bị quá nhiều ngăn cản bởi lòng đầy kiêu
căng tự mãn; bởi những định kiến sẵn có về Chúa Giêsu khi cho rằng, Người không
tuân thủ lề luật, dám làm việc ngày hưu lễ, cho dẫu họ biết rất rõ về những
việc tốt lành Chúa Giêsu đã làm. Chính vì thế mà họ đáng bị Chúa Giêsu lên
án: “Nếu các ngươi mù, thì các ngươi đã không mắc tội; nhưng các ngươi
nói ‘Chúng tôi xem thấy’, nên tội các ngươi vẫn còn”.
Trước những biến cố xảy ra trong đời sống, có thể mỗi người chúng ta có những cái nhìn khác nhau tùy theo quan điểm tự do của mình. Nhưng với cái nhìn của thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Ephêsô trong bài đọc 2 hôm nay, thì ngài khuyên chúng ta nên khiêm tốn nhận ra quyền năng của TC qua mọi biến cố mà chân thành sám hối từ bỏ nếp sống cũ là gian dối, bất công, kiêu ngạo mà nỗ lực thực thi giáo huấn của Đức Kitô bằng đời sống lương thiện, công chính và chân thật, với ước mong làm mọi điều sao cho đẹp lòng Chúa. Được như vậy, tâm hồn chúng ta mới có được bình an mỗi khi đối diện với những biến cố vui buồn trong đời sống.
* Gợi Ý Xét Mình
Khi nhìn vào
thực tế đời sống, ta nhận thấy có nhiều loại mù khác nhau: mù chữ, kiến thức,
tin học, ngoại ngữ…mặc dù bệnh mù nào cũng gây nên khó khăn và đau khổ và cần
được chữa lành. Nhưng có lẽ bệnh mù cần được cứu chữa nhất vẫn là bệnh mù về
tâm hồn vì chẳng những nó giết chết bản thân mình mà còn gây nên biết bao đau
khổ cho người khác. Dựa trên nền tảng lời Chúa trong Kinh thánh, chúng có thể
tìm thấy một vài nguyên nhân đưa đến bệnh mù về tâm hồn nguy hiểm này:
- Do lòng tham
lam
Sách Các Vua có
thuật lại câu chuyện hoàng hậu I-dơ-ven, vợ vua A-kháp, có lòng tham lam muốn
chiếm đoạt vườn nho của ông lão nghèo Na-vốt, nên đã dàn dựng một vụ án kể tội
Na-vốt đã dám nguyền rủa Thiên Chúa và nhà vua, rồi tuyên án ông phải bị ném đá
chết. Lòng tham đã làm cho hoàng hậu I-dơ-ven trở thành mù quáng phạm tội giết
hại người nghèo vô tội để chiếm đoạt vườn nho của ông ta. (1V 21)
- Do thói ganh
tị
Đọc Kinh Thánh, ta thấy sách Sáng
thế có ghi lại câu chuyện dâng của lễ của Cain và A-ben. Của lễ của A-ben được
Chúa đón nhận còn của lễ Cain thì không. Cain đem lòng ganh tị với A-ben đã làm
cho tâm hồn anh trở nên mù quáng, đến độ đã nhẫn tâm ra tay giết hại A-ben là
đứa em hoàn toàn vô tội chỉ vì lễ vật của A-ben đẹp lòng Thiên Chúa.
Sách Samuel ghi
lại rằng vua Sa-un rất yêu thương Đavít, nhưng sau khi Đavít giết được tướng
giặc khổng lồ là Gô-li-át để cứu nguy cho quân dân Israel và khải hoàn về
thành. Đa-vít được các phụ nữ đi đón rước. Họ vừa múa nhảy theo tiếng reo mừng
não bạt, vừa ca hát như sau : “Vua Sa-un hạ được hàng ngàn, còn Đa-vít
giết được hàng vạn”. Nghe lời ca đó, vua Sa-un cảm thấy rất tức giận
Đa-vít. Chính do lòng ganh tị đã làm cho vua trở thành kẻ mù quáng, từ lòng yêu
thương hóa ra thù ghét và đã ra tay truy lùng Đa-vít, quyết giết chết bằng được
người anh hùng Đa-vít nầy. (1 Sm, Ch 18).
- Do dục tình
bất chính
Sau khi lên làm
vua thay Sa-un, Đavít lên ngôi vua,
ông cũng trở nên mù quáng vì tình dục. Do say đắm sắc đẹp của bà Bát-sa-bê, vợ
của U-ri-a, nhà vua đã sa ngã phạm tội với bà, sau đó lại tìm cách giết U-ri-a
chồng bà và rồi chính thức cưới bà ấy làm vợ. Mù quáng đến thế thì thật là
khủng khiếp!
Tóm lại, do tình dục, do lòng tham, do kiêu căng
ganh tị… mà người ta có thể trở nên mù tối phạm phải những tội ác không
ngờ. Bất cứ người mù nào cũng khao khát được sáng; nhưng điều đáng tiếc là
nhiều người mù tâm hồn, do không ý thức tình trạng mình đang bị mù, nên không
quyết tâm ra khỏi tình trạng mù quáng của mình, và cuối cùng đã bị loại ra khỏi
Nước Trời, giống như các đầu mục dân Do thái khi xưa.
Để kết thúc xin
kể một câu chuyện ngắn sau đây:
Một vị Nhật
hoàng sau khi làm việc căng thẳng muốn thư giãn, nên yêu cầu các quan tìm kiếm
một người biết nói đùa. Người ta đã dẫn đến cho vua một vị thiền sư.
Nhật hoàng nói :
“Ta muốn nhà ngươi nói đùa cho ta nghe và ta sẽ không hài tội về lời nói đùa
của ngươi”.
Thiền sư nói :
“Tâu bệ hạ, xin bệ hạ nói trước để hạ thần nói đùa theo”.
Nhà vua nói :
“Ta thấy nhà ngươi giống y như một con lợn !”
Thiền sư đáp :
“Còn hạ thần thì nhìn thấy bệ hạ giống y như Đức Phật !”
Nhà vua liền
thắc mắc : “Tại sao ta bảo nhà ngươi là con lợn mà nhà ngươi lại bảo ta là Đức
Phật?”
“Tâu bệ hạ, dễ
hiểu thôi ạ : ai có tâm của Phật thì nhìn đâu cũng thấy Đức Phật; Còn ai có tâm
của lợn thì nhìn đâu cũng thấy lợn !”
Suy niệm 3: TỪ BÓNG TỐI ĐẾN ÁNH SÁNG
Trong hành trình Mùa Chay, Giáo
hội dùng hình ảnh "người mù bẩm sinh" để nhắc nhở rằng: tất cả chúng
ta, ở một khía cạnh nào đó, đều đang mang trong mình một sự mù lòa tâm linh.
Chúng ta cần được Chúa chạm đến để có thể "thấy" đúng thực tại.
1. Bài đọc I, trích sách Samuel, khi đi xức dầu cho
vị vua mới, chính vị ngôn sứ vĩ đại cũng bị đánh lừa bởi vẻ bề ngoài. Ông tưởng
rằng những người con cao lớn, đẹp trai của Giesê là người được chọn. Nhưng
Thiên Chúa đã phán: "Người ta nhìn bề ngoài, còn Thiên Chúa nhìn
tận tâm hồn."
Chúng ta thường đánh giá người
khác dựa trên địa vị, ngoại hình hay sự thành công. Sự mù lòa của chúng ta nằm
ở chỗ chỉ thấy cái "vỏ" mà không thấy cái "nhân". Thiên
Chúa chọn Đavít một cậu bé chăn cừu nhỏ
nhất để nhắc ta rằng giá trị đích thực
nằm ở sự khiêm nhường và lòng yêu mến.
2. Bài Tin Mừng, phép lạ chữa người mù bẩm sinh
không chỉ là một sự kiện y khoa, mà là một biểu tượng về hành trình đức tin. Hãy nhìn vào sự biến đổi của
người mù qua từng giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Ông gọi Ngài là "ông
Giêsu" (một con người).
- Giai đoạn 2: Ông khẳng định Ngài là "một
vị ngôn sứ".
- Giai đoạn 3: Ông tin Ngài là người "đến
từ Thiên Chúa".
- Giai đoạn cuối: Ông sấp mình xuống và thưa: "Lạy
Chúa, con tin" (Tôn thờ Thiên Chúa).
Sự tương phản cay đắng: Trong khi người mù dần dần
"thấy" được sự thật, thì những người biệt phái, những kẻ tự cho mình
là hiểu biết Luật Chúa lại dần dần trở
nên mù lòa vì lòng kiêu ngạo. Họ có đôi mắt sáng nhưng tâm hồn họ đóng sầm
trước ánh sáng thật.
3. Bài đọc II, Thánh Phaolô nhắc nhở tín hữu
Êphêsô và cả chúng ta hôm nay: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng nay, trong
Chúa, anh em là ánh sáng.”
Ánh sáng của Chúa không chỉ để
chúng ta chiêm ngưỡng, mà để chúng ta phản chiếu.
Hoa trái của ánh sáng là: Lòng
nhân hậu, sự công chính và chân lý.
- Nhận diện "điểm mù"
của bản thân:
Đâu là những định kiến, sự ích kỷ hay thói vô cảm đang làm mờ mắt chúng ta
trước nhu cầu của tha nhân và sự hiện diện của Chúa?
- Rửa sạch tại hồ Silôê: "Silôê" nghĩa là
"Người được sai đi". Hãy để Lời Chúa và các bí tích (đặc biệt là Bí
tích Hòa giải) tẩy rửa tâm hồn chúng ta trong mùa Chay này.
- Can đảm làm chứng: Người mù đã bị trục xuất khỏi
hội đường vì nói sự thật. Theo Chúa đôi khi đòi hỏi chúng ta phải chấp nhận sự
khác biệt và bị từ chối bởi thế gian.
Xin Chúa Giêsu, xin mở mắt tâm
hồn ta, để ta thấy Chúa đang hiện diện trong anh chị em ta, và thấy được cn đường
yêu thương mà Chúa muốn ta đi. Amen.
SUY NIỆM
4: ĐỂ CON ĐƯỢC THẤY
Hôm nay, Giáo hội tạm gác lại vẻ u buồn của Mùa
Chay để mời gọi chúng ta "Mừng vui lên" (Laetare). Tại sao lại
vui? Vì chúng ta đã đi được nửa chặng đường hành hương và Ánh Sáng Phục Sinh đã
thấp thoáng ở phía chân trời. Các bài đọc hôm nay không chỉ nói về việc chữa
lành đôi mắt vật lý, mà quan trọng hơn là việc chữa lành "đôi mắt tâm
hồn".
Bài đọc I: Cách nhìn của Thiên Chúa
Trong việc chọn lựa vua Đavít, Thiên Chúa đã dạy
tiên tri Samuel một bài học đắt giá: "Thiên Chúa không nhìn theo cách
nhìn của con người: con người nhìn bên ngoài, còn Thiên Chúa nhìn thấu tận tâm can".
Chúng ta thường bị đánh lừa bởi vẻ hào nhoáng, địa
vị hay ngoại hình. Mùa Chay là dịp để chúng ta xin Chúa chỉnh lại "thấu
kính" của tâm hồn, để biết nhìn nhận giá trị đích thực của anh chị em xung
quanh qua cái nhìn yêu thương của Chúa.
Tin Mừng: Hành trình từ bóng tối bước vào đức tin
Phép lạ chữa người mù bẩm sinh là một vở kịch dài
với nhiều nhân đoạn tương phản:
- Người mù bẩm sinh: Anh ta không chỉ được
sáng mắt mà còn trải qua một tiến trình đức tin tuyệt vời. Ban đầu anh gọi Chúa
là "ông Giêsu", sau đó là "một vị ngôn sứ",
và cuối cùng anh sấp mình thờ lạy Ngài: "Thưa Ngài, tôi tin".
- Những người biệt phái: Họ có đôi mắt
sáng, thông thạo lề luật, nhưng lại mù lòa về tâm linh. Họ từ chối sự thật vì
những định kiến và lòng kiêu ngạo. Họ thấy phép lạ nhưng chỉ lo tranh cãi về
ngày Sabát.
- Sứ điệp của Chúa Giêsu: "Tôi là
ánh sáng thế gian". Ngài đến để đảo lộn trật tự: người mù thì được
thấy, còn kẻ tự cho mình là thấy thì lại trở nên mù lòa.
Từ
câu chuyện này, chúng ta rút ra 3 điểm suy niệm:
- Nhận diện "điểm mù" của bản thân:
Ai trong chúng ta cũng có những "vùng tối". Đó là sự ích kỷ, thành
kiến, sự ghen tị khiến chúng ta không thấy được điều tốt nơi người khác. Hãy
can đảm thừa nhận: "Lạy Chúa, con đang mù, xin chữa lành cho con".
- Rửa sạch tại hồ Siloam: Chúa bảo người mù
đi rửa tại hồ Siloam (nghĩa là "Người được sai đi"). Phép rửa tội
chúng ta đã lãnh nhận chính là hồ Siloam ấy. Mùa Chay là lúc chúng ta trở về
với ân sủng Phép Rửa để tẩy sạch những bụi bặm của tội lỗi đang làm mờ mắt
mình.
- Trở thành chứng nhân của Ánh Sáng: Như
lời Thánh Phaolô trong Bài đọc II (Ep 5, 8-14): "Xưa anh em là bóng
tối, nhưng nay anh em là ánh sáng trong Chúa". Người Kitô hữu không
chỉ nhìn thấy ánh sáng, mà còn phải phản chiếu ánh sáng đó qua hành động
nhân ái, sự thật thà và lòng bao dung.
Thế giới hôm nay có quá nhiều thứ làm chúng ta lóa mắt nhưng lại khiến tâm hồn mịt mù. Xin ban cho chúng ta đức tin của người mù trong Tin Mừng, để dù trong nghịch cảnh, chúng ta vẫn nhận ra sự hiện diện của Chúa. Xin cho chúng ta được thấy Chúa trong mọi người và thấy mọi người trong tình yêu của Chúa.
Suy niệm 5: LỄ THIẾU NHI
Các em thiếu nhi thân
mến,
Cha
hỏi các em một câu nhé.
-
Nếu tối nay điện trong nhà tắt hết,
tối thui luôn… các em có sợ không?
Nhiều
bạn sẽ nói: “Có!”
-
Vì khi tối quá: chúng ta không thấy
đường, dễ đụng bàn ghế, thậm
chí đụng đầu cái “cốp” nữa!
-
Lúc đó chúng ta cần gì?
-
Đúng rồi: cần ánh sáng. Chỉ cần
bật một cái đèn lên thôi là: thấy đường đi, thấy đồ vật, và hết sợ ngay.
Các em thân mến,
Bài Tin Mừng hôm nay kể về một người bị mù từ khi mới sinh.
Anh chưa từng thấy: mặt trời, cây cối, hay khuôn
mặt cha mẹ mình.
Một ngày kia, Chúa Giêsu đi ngang qua. Ngài làm một việc rất lạ: Ngài trộn bùn, xức
vào mắt anh, rồi bảo anh đi rửa.
Sau khi rửa xong… Anh mở mắt ra… và nhìn thấy!
Anh thấy bầu trời. Anh thấy con người. Anh thấy
thế giới. Anh vui lắm! Nhưng điều đặc biệt hơn nữa là: Không chỉ mắt anh được sáng,
mà tâm hồn anh cũng sáng lên. Anh
bắt đầu tin vào Chúa Giêsu.
Các em thiếu nhi thân
mến,
Chúng ta hôm nay không bị mù mắt. Nhưng đôi khi chúng ta lại mù trong tâm hồn.
Ví dụ như khi: chúng ta nói dối, cãi lời cha mẹ,
đánh nhau với bạn, ganh tị, không chịu đi lễ hoặc học giáo lý... Những điều đó giống như bóng tối trong lòng mình.
Vậy ai là ánh
sáng? Chúa Giêsu.
Đúng vậy, Chúa Giêsu đã
nói: “Thầy là ánh sáng thế gian.”
Khi chúng ta: cầu nguyện, đi lễ, học giáo lý, làm
điều tốt, yêu thương bạn bè..., thì ánh
sáng của Chúa chiếu vào lòng chúng ta.
Cha hỏi các em một câu nữa nhé: Các em muốn làm đứa trẻ của ánh sáng hay đứa trẻ của bóng tối?
Chắc chắn là ánh sáng, đúng không?
Vậy từ hôm nay chúng ta cố gắng: ngoan với cha mẹ, không nói dối, yêu thương bạn bè, siêng
năng đi lễ và học giáo lý
Cuối bài Tin Mừng, người mù đã nói một câu rất đơn
giản: “Trước đây tôi mù, bây giờ tôi nhìn thấy.” Cha mong mỗi em sau
Mùa Chay này cũng có thể nói: “Trước đây con chưa ngoan…nhưng bây giờ con muốn sống tốt hơn.”
Xin
Chúa Giêsu là Ánh Sáng luôn soi
sáng tâm hồn các em
để các em trở thành những em thiếu nhi
ngoan của Chúa. Amen.
Thứ hai: Is 65,
17-21; Ga 4, 43-54
Suy niệm 1:
Đức tin chính là thần dược chữa
lành mọi bệnh tật cho con người. Chính đức tin, viên sĩ quan đã đặt trọn vẹn
lòng cậy trông và hy vọng vào Chúa. Nhờ đức tin mà phép lạ Chúa được thực hiện
và con ông được cứu chữa. Xin Chúa ban thêm lòng tin nơi chúng ta.
Ông viên sĩ quan trong bài tin
mừng hôm nay vì tin tưởng vào Chúa Giêsu nên ông đã đặt trọn niềm hy vọng vào
Chúa:
Hy vọng vào Chúa, nên ông đã ra
đi tìm đến Chúa Giêsu.
Hy vọng nơi Chúa, ông đã không
ngại kêu xin và kiên nhẫn nài nỉ Chúa đến nhà cứu sống con ông.
Hy vọng ở Chúa, ông đã khiêm tốn
đón nhận mọi thử thách: “Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông
sẽ chẳng tin đâu”. Dẫu bị mỉa mai, nhưng ông vẫn khiêm tốn kiên nhẫn kêu xin.
Cũng chính vì hy vọng rất nhiều
vào Chúa, ông đã tin nhận Lời Chúa và an tâm ra về: “Cứ về đi, con ông sống.”
Nhờ bởi lòng tin mạnh mẽ của viên
sĩ quan ngoại giáo mà con ông đã được Chúa cứu khỏi chết và cả gia đình ông
được ơn đức tin.
Tin chính là đặt hết niềm hy vọng
vào Chúa. Trao cho Chúa mọi lắng lo, khốn khó của cuộc đời.
Con cái là món quà quý giá và là
kho báu vô tận. Đau đớn, bệnh tật của con cái cũng chính là nỗi đau của bậc làm
cha mẹ. Nhưng chính trong những lúc đau khổ ấy, lại làm cho viên sĩ quan ngoại
giáo có được niềm tin. Và khi gặp gỡ Chúa Giêsu niềm tin của ông càng được thêm
củng cố lạ thường, có sức mạnh cứu rỗi cho cả gia đình ông.
Chúng ta cũng vậy, niềm tin của
chúng ta cần được trui rèn, để sau những thử thách đau thương, đức tin chúng ta
càng được vững mạnh hơn.
Cuộc sống không nhất thiết phải
đón nhận ơn lành qua những phép lạ như người cha trong bài tin mừng hôm nay.
Điều quan trọng là trong mọi biến cố vui hay buồn, thành công hay thất bại,..ta
nhận ra được ý muốn của Chúa cần gì nơi ta, giúp ta thanh luyện tâm hồn thêm
vững mạnh hơn vào tình thương và quyền năng của Chúa.
Trong cuộc sống, chúng ta xin ơn
Chúa rất nhiều nhưng lại quên xin ơn rất quan trọng là ơn Đức Tin. Chắc chắn
đức tin của ta vẫn còn yếu kém. Mùa chay này, chúng ta hãy tha thiết xin Chúa
gia tăng thêm niềm tin nơi chúng ta.
Suy niệm 2:
Ngày đầu tuần, chúng ta cùng
hướng về Thánh Thần, Ngôi Ba TC để xin ơn biến đổi đời sống nên kiên vững
hơn trong đức tin, với mong muốn trở nên những chứng nhân trung thành cho tin
mừng cứu độ của Chúa.
Sau cuộc trở về quê hương
Nazareth thuộc miền nam Giuđêa, không được dân làng đón nhận. Chúa Giêsu trở
lại miền Canaan thuộc miền Galilê. Như chúng ta cũng biết tại nơi này, trước
đây Chúa Giêsu đã thực hiện phép lạ đầu tiên, hóa nước lả thành rượu ngon giúp
cho tiệc cưới được trọn niềm vui và đôi tân hôn đong đầy hạnh phúc, nhờ sự quan
tâm và lời kêu xin của Đức Maria. Và hôm nay cũng tại nơi này, Chúa Giêsu tiếp
tục làm phép lạ thứ hai để cứu sống đứa con trai sắp chết của viên sĩ quan
người ngoại giáo cũng chính nhờ vào lời kêu xin khẩn thiết của ông.
Cả hai phép lạ đều minh chứng
quyền năng của TC nơi Đức Giêsu. Tuy nhiên uy quyền của Thiên Chúa chỉ được
thực thi một khi con người biết tin tưởng và phó thác tuyệt đối vào tình thương
của Chúa.
Nhờ vào niềm tin vững vàng của Mẹ
Maria mà phép lạ được thực hiện nơi tiệc cưới Cana. Nhờ lòng tin mạnh mẽ
của viên sĩ quan ngoại giáo mà đứa con trai của ông đã được Chúa Giêsu cứu
chữa. Như vậy, đức tin chính là chìa khóa mở ra ánh sáng hy vọng và là điều
kiện căn bản để quyền năng và ân sủng của Chúa được tỏ lộ.
Xin Chúa ban thêm lòng tin nơi
chúng ta, để ngay trong những lúc khó khăn, nguy khốn nhất của cuộc đời, chúng
ta vẫn đặt trọn niềm tin vào tình thương và quyền năng của Người.
Suy niệm 3:
Tin Mừng hôm nay, thánh Gioan
trình thuật lại phép lạ Chúa Giêsu chữa lành cho con trai của một viên sĩ quan
cận vệ nhà vua. Điều đáng chú ý là phép lạ ấy không xảy ra trực tiếp hay công
khai, nhưng diễn ra âm thầm, từ xa, nhờ vào lòng tin của người
cha: “Ông tin vào lời Đức Giêsu nói với mình, và ông ra về”.
Không đòi hỏi dấu lạ ngay lập
tức, ông tin vào lời nói đơn sơ của Chúa: “Con ông sống”. Và chính
khi ông quay về, ông thấy lời ấy thành sự thật, đứa con ông đã lành bệnh đúng
giờ Chúa Giêsu đã phán.
- Lòng tin chân thành không cần
điều kiện: Viên sĩ quan
không đòi hỏi phải thấy tận mắt phép lạ. Ông tin vào Lời Chúa, và chính đức tin
ấy mở lối cho ân sủng Chúa tuôn ban.
- Tin tưởng và vâng phục: Ông không tranh luận, không ngờ
vực. Lời Chúa đủ để ông hành động. Niềm tin ấy chính là điều Chúa Giêsu luôn
tìm kiếm nơi mỗi chúng ta.
- Chúa vẫn hành động âm
thầm: Nhiều khi chúng ta cầu nguyện và không thấy ngay kết quả. Nhưng Chúa
vẫn nghe biết và làm việc theo cách thức của Ngài. Điều Chúa cần nơi ta là đức
tin vững vàng.
Xin Chúa cho chúng ta biết tin
tưởng vào lời của Chúa với và sẵn sàng bước đi trong ánh sáng của Lời Chúa với
tinh thần phó thác. Trong
những lúc mịt mù hay bế tắc, xin cho chúng ta luôn giữ vững niềm tin vào quyền
năng và tình thương của Chúa.
Thứ ba: Ed 47, 1-9.12; Ga
5, 1-3.5-16
Suy niệm 1:
Thiếu bác ái yêu thương, việc
thực thi lề luật chỉ còn là cái xác không hồn và những hành động của ta sẽ trở
nên mù quáng. Tin mừng hôm nay kêu gọi chúng ta ý thức trách nhiệm đối với nhau
trong cuộc sống, bằng việc thực thi tình bác ái, qua việc giúp đỡ những người
nghèo khổ và bất hạnh. Đó là cách thức ta thể hiện tâm tình tôn vinh Chúa.
Người bị bại liệt suốt 38 năm dài
được Tin Mừng hôm nay nói đến. Chắc hẳn đã-đang và sẽ gặp rất nhiều khó khăn,
đau khổ trong đời sống.
Khó khăn trong việc tự chăm sóc
bản thân; khó khăn trong việc đi lại; khó khăn mỗi khi tiếp xúc với những người
chung quanh.
Đau khổ vì bệnh tật hành hạ; đau
khổ vì bị mọi người bỏ rơi, ngay cả những người thân “không có người
đem xuống hồ…”. Đau khổ vì bị mọi người khinh ghét, bị xã hội xem
thường. Anh bị liệt vào thành phần “mang kiếp cầm ca”, ăn bám xã hội. Nhưng có
lẽ đau khổ nhất vẫn là nỗi đau mặc cảm vì bị mọi người xem là người tội lỗi.
Nỗi khát khao lớn nhất của anh là
được làm người bình thường như bao người. Được xã hội tôn trọng; được mọi người
quan tâm, yêu mến; được tự do đi lại; nhất là được khẳng định giá trị và phẩm
giá làm người của mình.
Hôm nay Chúa Giêsu đã trao ban
cho anh món quà vô giá mà anh hằng khao khát đêm ngày, đó là chữa anh khỏi căn
bệnh bại liệt. Quả là niềm vui lớn lao, niềm vui chính đáng. Ấy vậy mà niềm vui
ấy lại bị sự chống đối bởi những giới chức Do Thái giáo: “Hôm nay là ngày Sabát
không được phép vác chõng”. Không những họ chống đối quyền đi lại và làm người
của anh, mà họ còn chống đối cả Chúa Giêsu vì đã vi phạm ngày Sabát.
Lòng ích kỷ và luật lệ vô hồn,
quả là một gánh nặng, một rào cản đáng sợ, đẩy con người đến chổ vô cảm và cư
xử bất nhân với nhau, khiến người khác không thể vươn lên sống xứng đáng là con
người được. Họ lại không hiểu rằng: “vinh quang Thiên Chúa là con người được
sống”. Bất cứ nơi nào phẩm giá con người được nhìn nhận, bất cứ một con người
nào được tôn trọng, thì nơi đó Thiên Chúa được tôn vinh.
Xin cho chúng ta ý thức rằng: khi
chối bỏ và khước từ thể hiện lòng nhân ái đối với người khác là chúng ta đã xúc
phạm đến chính Thiên Chúa. Yêu thương và thực thi bác ái đối với người khác
cũng là cách chúng ta đền bù tội lỗi trong mùa chay thánh này.
Suy niệm 2:
Tin mừng hôm nay thuật lại phép
lạ Chúa Giêsu chữa cho người bại liệt 38 được khỏi. Bại liệt thể xác không nguy
hiểm bằng bại liệt tâm hồn. Xin Chúa cũng cứu chữa căn bệnh bại liệt tâm hồn
của mỗi chúng ta.
Phụng vụ lời Chúa hôm nay gửi đến
chúng ta hai thông điệp quan trọng:
1. Chúa Giêsu chính là nguồn nước
sự sống mà tiên tri
Edekiel đã nhìn thấy trong thị kiến. Dòng nước mang đến sự sống phong phú cho
mọi sinh vật, làm cho cây cối luôn mãi xanh tươi, trổ sinh nhiều hoa trái tốt
lành, làm của ăn nuôi sống con người và lá của nó chữa lành nhiều bệnh tật.
Hình ảnh đó tiên báo về Đức Giêsu. Chính Ngài là nguồn nước của sự sống ấy. Để
từ nay ai tin vào Ngài, đến với Ngài và tắm trong ân sủng của Ngài thì mọi đau
khổ, bệnh tật phần xác cũng như phần hồn đều được cứu chữa lành sạch.
Đúng vậy, người bị bất toại (bại
liệt) 38 năm qua, tuy anh ta không được ai đem xuống hồ Bethsaida mỗi khi nước
động, nhưng anh ta lại được tắm trong nguồn nước tình thương và ân sủng của Giê
su nên tức khắc anh được lành bệnh.
2. Căn bệnh tâm hồn nguy hiểm hơn
bệnh thể xác. Vì thế sau khi chữa
khỏi bệnh cho anh ta, Chúa Giêsu mới căn dặn: “Này, anh đã được lành
bệnh, đừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn khổ hơn trước”. Tội lỗi là căn
bệnh tâm hồn, khiến cho lòng ta trở nên tê liệt, không còn khả năng mở ra để
đón nhận ân sủng của Chúa và sống quảng đại với tha nhân. Con tim trở nên chai
cứng không còn khả năng cảm thương trước nỗi đau của người khác, tựa như những
người biệt phái và luật sỉ, chỉ biết giữ luật cách mù quáng nên đã nhẫn tâm tìm
mọi cách chống đối lại những phép lạ của Chúa Giêsu.
Xin cho mùa chay này, chúng ta
biết siêng năng tìm đến với Chúa Giêsu mà đắm mình trong nguồn nước ân sủng của
ngài, bằng cách tích cực tham dự các bí tích, nhất là bí tích thánh thể và hòa
giải, nhờ đó mà căn bệnh bại liệt tâm hồn của chúng ta hy vọng mới được Chúa
chữa lành.
Suy niệm 3:
Tin Mừng hôm nay trình thuật lại
cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu với một người đau yếu đã 38 năm chờ đợi bên bờ hồ
Bết-da-tha. Nhìn thấy anh và Ngài hỏi một câu tưởng chừng đơn giản: “Anh
có muốn khỏi bệnh không?” Câu hỏi ấy không chỉ dành cho người bệnh năm
xưa, mà còn vang vọng tới mỗi người chúng ta hôm nay.
Người bại liệt không xin Chúa
chữa lành, cũng không biểu lộ niềm tin. Anh ta chỉ bày tỏ nỗi bất lực: “Thưa
Ngài, không có ai đem tôi xuống hồ...” Anh bất lực, cô đơn, bị lãng
quên bởi xã hội. Nhưng chính trong hoàn cảnh đó, Chúa Giêsu đã chủ động
đến, nhìn thấy, cảm thông và chữa lành.
Điều đặc biệt là Chúa chữa lành
anh trong ngày sabát, ngày lề luật cấm làm việc. Điều này khiến
người Do Thái bắt đầu lên án Chúa. Nhưng Đức Giêsu khẳng định: “Cha
Thầy vẫn làm việc, thì Thầy cũng làm việc.” Nghĩa là lòng thương xót
của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi luật lệ, bởi định kiến hay thời gian.
Bao lần trong đời, chúng ta giống
như người bại liệt kia, mỏi mòn đợi chờ, thất vọng vì không ai giúp đỡ, bị tổn
thương vì sự thờ ơ của người khác. Nhưng Chúa vẫn âm thầm bước đến, nhìn thấy
nỗi đau của ta, và hỏi: “Con có muốn được chữa lành không?”
Câu hỏi ấy mời gọi ta cộng tác
với ơn Chúa, không chỉ ước muốn mà còn đứng dậy, vác chõng và bước đi.
Chúa không muốn ta tiếp tục nằm đó trong nỗi buồn, quá khứ hay tội lỗi. Người
muốn ta bắt đầu lại, sống một cuộc đời mới, tự do và hy vọng hơn.
Xin Chúa cho chúng con biết lắng
nghe tiếng Chúa trong những giây phút tuyệt vọng nhất và ban cho chúng con can
đảm để đứng dậy, vượt qua sự lười biếng, tuyệt vọng hay trì trệ của mình.
Xin chữa lành chúng con khỏi
những tổn thương sâu kín, giúp chúng con luôn biết tin tưởng vào quyền năng và
tình thương cứu độ của Chúa. Amen.
Thứ tư: Is 49, 8-15; Ga
5, 17-30
Suy niệm 1:
Người kitô hữu, là người có Chúa
Kitô. Nghĩa là từng suy nghĩ, lời nói và hành vi của ta phải là của Chúa như
chính Chúa Giêsu là hiện thân của Chúa Cha: “Ai thấy Ta là thấy Cha”. Xin cho
cuộc sống của chúng ta ngày càng phản ánh trung thực dung mạo của Chúa Giêsu
hơn, để qua ta, mà mọi người nhận biết Đức Giêsu.
Định luật tình yêu dạy chúng ta
rằng: “Yêu ai thì ở gần người ấy. Yêu ai thì nên giống người ấy. Yêu ai thì
muốn ở trong người ấy, và yêu ai thì sẵn sàng sống chết vì người ấy”. Chính vì
yêu mến Thiên Chúa là Cha, Chúa Giêsu đã trở nên giống Cha mọi đàng.
Mối bận tâm lớn nhất của Chúa Giêsu
là thể hiện thánh ý Cha Ngài: “Lạy Cha, này con xin đến để thi hành
thánh ý Cha”. Chúa Giêsu khẳng định, suốt cuộc đời, Ngài làm việc như
Cha Ngài: “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc”.
Chúa Giêsu cũng xác định cho chúng ta biết, Ngài chính là hình ảnh của Thiên
Chúa, vì “Ta và Cha là một”, và “Ai thấy Ta là thấy
cha”.
Như vậy, lẽ sống của Chúa Giêsu
là sống như Cha. Trong mọi sự, Ngài đều lấy Cha làm mẫu mực. Và Ngài muốn chúng
ta cũng phải lấy Cha làm mẫu mực cho đời sống mình: “Các con hãy nên
trọn lành như Cha các con trên trời là Đấng trọn lành”. Do đó muốn nên
giống Chúa Cha ta chỉ cần nên giống Chúa Giêsu, bởi chính Người là dung mạo
đích thực của Chúa Cha.
Giống Chúa Giêsu trong mối bận
tâm duy nhất là cứu độ nhân loại.
Giống Chúa Giêsu ở thái độ khiêm
nhường vâng phục thánh ý Chúa Cha
Giống Chúa Giêsu bằng cách sống
thành thật: “Ta là đường là sự thật và là sự sống”. Sự thật trong
lời nói, trong việc làm, trong yêu thương.
Như trái tim không bao giờ ngừng
đập, tình thương cũng không bao giờ ngơi nghỉ. Chúa Giêsu vẫn liên lỉ làm những
việc tình thương, bất chấp là ngày Sa-bát, vì ngày Sa-bát dù nghỉ ngơi, nhưng
Thiên Chúa vẫn quang phòng vũ trụ và con nguời do chính Ngài dựng nên.
Xin Chúa cho chúng ta mỗi ngày
trở nên giống Chúa Giêsu hơn, để tâm hồn, trái tim, suy nghĩ và cách sống của
chúng ta ngày càng phản ánh trung thực dung mạo của Chúa. Nhờ đó mà mọi người
nhận ra chúng ta là mộn đệ đích thật của Chúa Giêsu. Ngang qua cách sống của ta
danh Chúa được mọi người yêu mến và tôn vinh.
Suy niệm 2:
Bận tâm của Chúa Giêsu khi đến
trần gian là thực hiện thánh ý Thiên Chúa Cha, trở nên một với Chúa Cha; Người
cũng mong muốn chúng ta phản ánh trung thực lại khuôn mặt đích thực của Người.
Xin cho mỗi chúng ta luôn biết bận lòng thực thi thánh ý Chúa, với mong
muốn khuôn mặt của Đức Kitô giàu lòng thương xót được khắc họa đậm nét hơn
trong đời sống hàng ngày của chúng ta.
Đức Giêsu chính là TC làm người.
Ngài đến trần gian để nói cho chúng ta biết về Chúa Cha và dạy cho chúng ta
biết cách sống thế nào cho đẹp lòng Chúa Cha. Chúa Giêsu không chỉ nói và hướng
dẫn ta sống đẹp ý Cha mà Ngài còn sống để nêu gương cho chúng ta. Để
từ nay ai sống như Đức Kitô là sống đẹp lòng Chúa Cha và xứng đáng trở
thành con yêu dấu của Chúa Cha trong Chúa Giêsu Kitô.
Khi lãnh nhận bí tích rửa tội,
chúng ta được trở nên người Kitô hữu, nghĩa là người có Chúa Kitô nơi bản thân
mình. Vì thế mà những suy nghĩ, lời nói và hành vi của ta phải là của Chúa.
Để làm sao qua đời sống hàng ngày của ta hình ảnh của Kitô
được lớn lên, với mong muốn mọi người nhận ra khuôn mặt đích thực của Chúa
qua đời sống tốt lành của chúng ta, như Đức Giêsu là hình ảnh trung thực của
Chúa Cha. Amen.
Thứ năm: 2Sm
7,4-5a.12-14a; Rm 4,13.16-18.22; Mt 1,16.18-21.24a
KÍNH
THÁNH GIUSE-BẠN TRĂM NĂM ĐỨC TRINH NỮ MARIA
Tên Giuse có nghĩa
là gì?
Tên Giuse tiếng Do
Thái là Yosef. Yosef bao gồm từ Jo được rút gọn bởi từ Jeho, Yahweh, nghĩa là
Thiên Chúa; và sef là viết tắt của động từ jasaf, có nghĩa là “gia tăng”.
Như vậy, danh xưng
Josef hay Giuse có nghĩa là “Thiên Chúa gia tăng phúc lành”
Nguồn gốc của tên
Joseph:
Joseph là một cái
tên trong Kinh thánh, là con trai của ông Jacob, và là chồng của Đức Trinh Nữ
Maria. Theo tiếng Do Thái, Joseph, nghĩa là “chính Người sẽ thêm vào”. Đó
là một cái tên đẹp. Cái tên ấy trở nên đầy ý nghĩa khi được gắn vào cuộc đời
Thánh Giuse. Tất cả những gì ngài có thể làm chỉ là hoàn tất sứ mạng được trao
phó cho mình.
Khi được trao sứ mạng, Thánh
Giuse đã không đặt bất cứ câu hỏi gì về việc mình phải làm, cũng không thắc mắc
liệu việc ấy sẽ đi đến đâu? kết quả sẽ như thế nào? Ngài cộng tác với kế hoạch
của Thiên Chúa bằng cách làm hết sức mình, hết phần của mình. Tất cả những gì
còn lại, chính Thiên Chúa sẽ ra tay. “Chính Người sẽ thêm vào”.
Sau khi hoàn tất sứ mạng được
trao, ngài âm thầm rút lui và ẩn mình vào thinh lặng. Biết đặt mình đúng vị
trí, biết khiêm tốn đảm nhận vị trí của mình. Ấy là cách Thánh Giuse trở nên
đặc biệt và bất khả thay thế trong kế hoạch của Thiên Chúa.
Làm con cái Chúa, mỗi người được
mời gọi sống một cuộc đời đặc biệt. Mỗi người đều có một cái tên đặc biệt, một
vị trí đặc biệt trong kế hoạch của Thiên Chúa. Sự đặc biệt này được làm
nên không phải vì phẩm chất hay khả năng riêng của từng người, cũng không phải
vì thành tích hay công trạng của người đó. Ai cũng có khả năng trở nên đặc biệt
khi biết cộng tác hết mình với Thiên Chúa, làm hết những gì có thể trong khả
năng, đồng thời xác tín chính Thiên Chúa sẽ hoàn tất những gì Người đã khởi sự
bởi lẽ “chính Người sẽ thêm vào”. Điều quan trọng là tin rằng chính mình
được đóng góp một phần nhỏ bé trong kế hoạch của Thiên Chúa, và biết lấy đó làm
đủ.
Khi mỗi người học được cách trở
nên một Thánh Giuse khác cho cuộc đời, ngang qua họ, Thiên Chúa có thể làm nên
những kỳ công vĩ đại cho con người và thế giới hôm nay.
SUY NIỆM 1: THÁNH GIUSE DẠY
TA SỐNG TINH THẦN MÙA CHAY
Không biết vô tình hay hữu ý, năm
nào cũng vậy, GH lại mừng kính thánh Giuse vào đúng lịch PV mùa chay.
Chắn hẳn GH rất có lý. Bời
lẽ nếu mùa chay là mùa sám hối, trở về, thì sự trở về sâu xa nhất lại chính là
trở về chính mình và trở về với Thiên Chúa. Nói như vậy thì hơn ai hết
Thánh Giuse chính là mẫu gương tuyệt vời cho chúng ta về sự trở về ấy.
1. Trước hết thánh Giuse dạy
ta bài học trở về với chính mình trong thinh lặng.
Khi đọc các sách Tin Mừng,
ta không thấy thuật lại bất cứ lời nào của thánh Giuse, dù chỉ một lời nói với
Mẹ Maria hay với Chúa Giêsu. Ngay cả khi gặp trẻ Giêsu ở trong Đền Thờ
sau những ngày lo âu tìm kiếm cũng không thấy lời nào của ngài hé lộ. Có lẽ hơn
ai hết thánh Giuse thấu hiểu về sự quý giá của thinh lặng.
Đúng thế cha ông chúng ta đã
từng nói: "lời nói là bạc, im lặng là vàng": nên chi thinh lặng giá
trị hơn nói, vì nói chỉ là bạc mà im lặng mới là vàng; là vàng thì bao giờ cũng
quí hơn bạc!
Hơn nữa thinh lặng còn là biểu
hiện cho sự hiểu biết của một con người. Ông bà ta thường nói “Ngôn giả bất
tri, tri giả bất ngôn” : Người không biết thì lại nhiều lời vì tưởng người khác
không biết như mình, ngườì biết thì lại không nói, vì nghĩ rằng mọi người đều
biết. Ông Heidegger khuyên chúng ta thực tập thinh lặng, bớt nói, bớt phát
biểu, bớt bàn tán….không phải là ta ngu muội, vô tri, nhưng để cho tâm hồn của
chúng ta hoà quỵện với sinh linh vạn vật, và chỉ khi đó chúng ta mới có thể
thấu đạt hết mọi ngóc ngách, thông tường mọi thế thái, biến chuyển trong sự
biểu đạt khôn cùng của nhân sinh, và của nhiên giới.
Nhưng thực tế đời sống cho thấy
chúng ta lại thích nói và nói nhiều hơn là yêu mến sự thinh lặng. Chính vì thế
mà chúng ta đã sai lỗi quá nhiều trong lời nói vì “đa ngôn thì đa quá”. Nói
nhiều thì trở nên nói dai và kéo theo nói dở, nói ẩu và dại nữa. Do đó hãy thận
trọng trong lời nói. Bởi lời nói sẽ trở nên mối nguy cơ đánh mất tình thương,
chia cắt tình thân và gây nên đau khổ cho nhau.
Ném một lông vịt vào trong gió,
thì làm sao nhặt lại được. Một lời nói ra bốn ngựa đuổi theo cũng không
kịp “tứ mã nan truy”. Nên trong những lúc gặp phải những căng thẳng và
sóng gió trong đời, ta hãy học cùng thánh Giuse bài học thinh lặng để
lắng nghe được tiếng Chúa khẻ nói với ta mà làm theo, nhờ đó chúng ta sẽ ngăn
chặng được những đổ vỡ đáng tiếc xảy ra trong cuộc sống.
2. Thứ hai thánh Giuse dạy ta bài
học sự tín thác và sự vâng phục Thiên Chúa.
Nếu ông Giacaria nghi ngờ về ý
định của Thiên Chúa qua biến cố truyền tin trong đền thờ lúc dâng hương. Mẹ
Maria thì ngỡ ngàng với biến cố truyền tin, thì Giuse lại hoàn toàn vâng phục
thánh ý Thiên Chúa mà không một lời chấp vấn hay bối rối gì cả.
Thánh Kinh thuật lại: khi biết
được Đức Maria mang thai là do quyền năng Chúa Thánh Thần, Thánh Giuse đã không
ngần ngại nhận Đức Maria về nhà mình để chở che và nuôi dưỡng. Nhận lãnh hay
bảo lãnh Đức Maria về nhà cũng đồng nghĩa Thánh Giuse giải cứu Đức Maria khỏi
búa rìu dư luận và thoát khỏi án tử. Việc bảo trợ Đức Maria cũng có nghĩa
là đồng bảo trợ Hài Nhi đang được cưu mang trong cung lòng Đức Maria. Việc nhận
Đức Giêsu làm con cũng đồng nghĩa với việc bảo trợ cho Đức Giêsu sinh ra cách
hợp pháp và đưa Đức Giêsu vào trong dòng tộc vua Đavít.
Vâng phục ý Chúa, không chỉ bảo
trợ cho Hài nhi Giêsu sinh ra hợp pháp mà thánh Giuse còn bảo toàn mạng sống
của Đức Giêsu khỏi nanh vuốt của vua Hêrôđê qua việc vâng theo lời báo mộng của
Chúa trong đêm mà nhanh chóng đem mẹ Người và Hài Nhi Giêsu vượt đường xa hiểm
trở gần 500 cây số xuyên qua sa mạc dài hơn 200 km không một bóng cây, không
một ngọn cỏ, không một giọt nước, rất gian khổ để đến Ai-cập tị nạn. Và
khi tình hình yên ổn, một lần nữa Giuse lại nghe theo lời báo mộng bỏ Ai-cập
đem gia đình trở về Palestine, định cư tại Nagiarét để chăm sóc nuôi dưỡng bằng
chính công sức lao động chân chính của mình với nghề thợ mộc.
Còn chúng ta thì khác, chúng ta
thường tìm ý mình hơn là ý Chúa. Mỗi khi gặp phải những nghịch cảnh xảy ra
trong đời sống, ta thường kêu trách Chúa và lắm khi còn xúc phạm đến Chúa nữa.
Vì chúng ta cho rằng vâng phục thánh ý Chúa là hành động hèn nhát, mất tự do và
đánh mất nhân phẩm của mình. Thánh Giuse giúp chúng ta hiểu rằng: không
phải lúc nào chúng ta cũng biết được kế hoạch của Thiên Chúa dành cho chúng
ta. Chúng ta chỉ biết rằng cách của Người thì khác với cách của chúng ta,
nhưng cách của Người thì luôn luôn tuyệt vời nhất. Vì thế, hãy tín thác và
vâng phục thánh ý Thiên Chúa, để chúng ta sẽ trở nên những tôi tớ trung thành
và khôn ngoan theo gương thánh cả Giuse.
Lạy Chúa, giữa bao triết lý và
lắm luồng tư tưởng trong xã hội này, con phải chọn lựa như thế nào?. Giữa những
nền văn hóa đa dạng và những nền văn minh phức tạp, con biết đâu là đúng, đâu
là sai? Xin cho con chúng con mùa chay thánh này biết đến với thánh cả Giuse để
học nơi thánh nhân bài học của sự trở về trong thinh lặng mà nhận ra thánh ý
Chúa và trở về với Chúa để vâng phục thánh ý Ngài theo gương thánh cả
Giuse kính yêu. Amen.
SUY NIỆM 2: NGƯỜI GIA TRƯỞNG
TRUNG THÀNH
Hòa nhịp cùng Giáo hội, hôm nay
chúng ta long trọng mừng kính Thánh Giuse, bạn trăm năm Đức Trinh Nữ Maria.
Ngài là bổn mạng Giáo Hội Việt Nam, là bổn mạng của quý anh em giới Gia trưởng,
cách riêng một số anh em có thánh bổn mạng là Giuse. Nhân dịp này chúng ta
cùng nhau hướng về thánh Giuse để chiêm ngưỡng đời sống tuyệt đẹp của Ngài mà
học đòi bắt chước.
Khi nhìn vào đời sống của thánh
nhân, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đều đồng ý với nhau rằng: thánh Giuse là
một con người trung thành. Đây là nhân đức tuyệt đẹp, đáng để cho chúng ta noi
theo trong sứ mạng xây dựng và bảo vệ hạnh phúc gia đình.
1. Thánh Giuse trung thành bảo vệ
gia đình.
Sau khi nhận được thánh ý Thiên
Chúa, Thánh Giuse đã sẵn sàng đứng ra để bảo trợ Thánh gia.
Thánh Kinh thuật lại: khi biết
được Đức Maria mang thai là do quyền năng Chúa Thánh Thần, Thánh Giuse đã không
ngần ngại nhận Đức Maria về nhà mình để chở che và nuôi dưỡng. Nhận lãnh hay
bảo lãnh Đức Maria về nhà cũng đồng nghĩa Thánh Giuse giải cứu Đức Maria khỏi
búa rìu dư luận và thoát khỏi án tử.
Việc bảo trợ Đức Maria cũng có
nghĩa là đồng bảo trợ Hài Nhi đang được cưu mang trong cung lòng Đức Maria.
Việc nhận Đức Giêsu làm con cũng đồng nghĩa với việc bảo trợ cho Đức Giêsu sinh
ra cách hợp pháp và đưa Đức Giêsu vào trong dòng tộc vua Đavít.
Không chỉ bảo trợ cho Hài nhi
Giêsu sinh ra hợp pháp mà thánh Giuse còn bảo toàn mạng sống của Đức Giêsu khỏi
nanh vuốt của vua Hêrôđê. Để bảo toàn mạng sống của Đức Giêsu, thánh Giuse phải
vượt đường xa hiểm trở gần 500 cây số xuyên qua sa mạc dài hơn 200 km không một
bóng cây, không một ngọn cỏ, không một giọt nước, rất gian khổ để đến Ai-cập tị
nạn.
Ngoài việc bảo vệ sự sống, bảo vệ
mạng sống, Thánh Giuse còn phải bảo vệ cho Đức Maria và Hài Nhi Giêsu được sống
nữa. Ngài đã phải lao động vất vả tại xưởng mộc bé nhỏ tại làng Nazarét để mưu
tìm miếng cơm, manh áo, tiền nong để nuôi sống gia đình.
Cuộc đời thánh Giuse quả không
phải sung sướng, an nhàn, trái lại ngài phải trãi qua trăm chiều thử thách và
đau khổ. Ý Chúa quan phòng để ngài nêu gương cho ta khi gặp gian lao, thử thách
cũng biết vui lòng hy sinh như ngài để bảo vệ sự sống, mạng sống và tạo điều
kiện cho gia đình mình được sống an bình.
Là người cha phải hết lòng bảo vệ
con cái mình khỏi tay kẻ dữ, khỏi bầu khí hận thù và bất công. Đó là nhiệm vụ
vô cùng to lớn của người gia trưởng.
Hằng ngày có biết bao hài nhi bị
hủy diệt trong bào thai. Chúng ta cũng đã từng chứng kiến không ít những hài
nhi vừa cất tiếng khóc chào đời lại bị chính cha mẹ chúng bỏ rơi, thật đau
lòng!
Cách bảo vệ hài nhi an toàn nhất
là chúng ta phải biết tỉnh thức để nghe tiếng Chúa nói trong lương tri như
Thánh Giuse, dù khi ngủ, ngài vẫn thức tỉnh nhận ra tiếng Chúa nói trong giấc
mộng.
2. Thánh Giuse trung thành
giáo dục con cái.
Tin mừng thánh Luca đề cao nền
giáo dục tuyệt vời của Thánh gia qua câu: “Hài nhi lớn lên càng mạnh khỏe, khôn
ngoan và đầy ân sủng trước mặt Chúa và người ta” (Lc 2,40-52). Chỉ một lời ngắn
ngủi của thánh sử Luca nhưng đã diễn tả hầu như trọn vẹn cách thế giáo dục của
thánh Giuse và Đức Maria đối với con mình. Các ngài đã để ý và giáo dục con
mình về mọi phương diện: Thể dục, trí dục, đức dục …
- Thể dục: Trẻ Giêsu càng lớn lên càng
mạnh mẻ, đầy sức lực nhờ vào lao động nơi xưởng mộc Nazarét mà thánh Giuse đã
dày công tạo dựng. Lên 12 tuổi trẻ Giêsu đã đi bộ suốt bốn năm ngày đàng lên
Giêrusalem dự lễ, vậy mà không thấy Thánh kinh nói trẻ Giêsu mệt mỏi. Sau này
giảng đạo, Đức Giêsu đã đi khắp cùng làng mạc, thành phố và cả những vùng lân
cận nữa.
- Trí dục: Càng tuyệt vời hơn khi mới 12
tuổi, cậu bé Giêsu của làng Nazarét quê mùa, vô danh, ở tít vùng sâu, vùng xa
đã đàng hoàng vào đền thờ ở thủ đô Giêrusalem, ngồi giữa các thầy tiến sĩ vừa
nghe vừa hỏi. Ai cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp khôn
ngoan của cậu. Nếu gia đình Thánh Giuse không quan tâm đến việc hướng dẫn con
mình học hỏi và trao dồi Thánh kinh thì làm gì có sự hiểu biết như thế?
Mỗi ngày Sabát là dịp tốt để tìm
hiểu Thánh kinh và nghiên cứu Luật Chúa. Như trở thành thói quen mà cha mẹ để
lại. Sau này khi rao giảng Chúa Giêsu thường xuyên vào Hội Đường đọc Lời Chúa,
giảng dạy và chữa bệnh. Có lẽ nhờ việc quan tâm đến giáo dục tri thức cho con
mình nên Đức Giêsu đã thuộc lòng các khoản Luật và Lời Chúa.
- Đức dục: Ngoài đức công chính gắn
liền với tên tuổi Thánh Giuse, chúng ta còn nhận thấy một nhân đức khác nổi bậc
nơi ngài nữa đó là đức vâng lời. Vâng lời thánh ý Thiên Chúa, ngài đã bỏ ý
riêng mình để đón nhận Đức Maria về nhà mình. Vâng lời Thiên Chúa, ngài đã mau
mắn đem Đức Maria và Hài Nhi trốn sang Aicập.
Chính nhờ ảnh hưởng của một nền
đạo đức như vậy mà Đức Giêsu trở nên người con hằng “đẹp lòng Chúa Cha”. Cuộc
đời Chúa Giêsu cũng tiếp nối bằng hai chữ “xin vâng” theo thánh ý Chúa Cha như
thánh Giuse và Đức Maria:
Vâng lời Chúa Cha từ trời cao
Người xuống thế, từ Vị Thiên Chúa trở nên người phàm, từ Đấng Thánh Thiện lại
gánh lấy tội nhân. Người vốn là giàu sang lại trở nên nghèo khó…; và Ngài đã
vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Vì thế nên Người hằng xác quyết:
“lương thực của Ta là làm theo Đấng đã sai Ta” (Ga 4,34). Ngoài việc vâng lời
Chúa Cha, Đức Giêsu còn luôn vâng lời thánh Giuse và Đức Maria: “Người đi xuống
cùng với cha mẹ, trở về Nazarét và hằng vâng phục các ngài” (Lc 2,51).
Vậy những bậc cha mẹ cũng hãy noi
gương thánh Giuse, quan tâm giáo dục con mình phát triển toàn diện. Trung thành
giáo dục như thế mới hy vọng con chúng ta trở nên tốt.
Cùng với Giáo Hội, chúng ta cũng
đang sống trong tâm tình của mùa chay thánh. Nếu mùa chay Giáo Hội mời gọi
chúng ta trở về, thì trước hết, chúng ta hãy bắt đầu trở về với chính mình, với
những bổn phận của người chồng-vợ, người cha-mẹ, người gia trưởng-hiền mẫu
trong gia đình mình, bằng việc noi gương thánh Giuse trung thành trong vai trò
bảo trợ gia đình, trung thành trong trách nhiệm làm cha-mẹ và nhất là trung
thành trong việc giáo dục con mình trở thành người và thành người con Chúa.
Vì sự sống và hạnh phúc gia đình,
xin cho các gia trưởng-hiền mẫu quyết sống với hai chữ Trung Thành theo gương
thánh Giuse. Amen.
SUY NIỆM 3:
Thánh Giuse được gọi là đấng công
chính. Bởi nơi ngài có những nhân đức cao quý, đáng được GH gọi tên là vị thánh
cả.
Trong kinh cầu thánh Giuse, GH đã
nêu lên cụ thể những tước hiệu cao trọng nơi thánh cả Giuse; và qua đó GH mời
gọi mọi tín hữu tìm đến với ngài để chiêm ngắm, cầu nguyện và nêu gương bắt
chước.
Vừa qua vào ngày 8/12/2020 nhân
kỉ niệm 150 (8/12/1970-8/12/2020), thánh Giuse đã được chân phước Đức Giáo
Hoàng Pio IX chọn làm thánh quan thầy cho toàn thể GH công giáo, đức thánh cha
Phanxicô đương nhiệm đã mở ra “năm kính thánh Giuse đặc biệt” và ban hành tông
thư “Patris Corde” (Trái tim của người cha). Trong tông thư này, đức thánh cha
Phanxicô đã nêu lên 7 chiều kích linh đạo căn bản của thánh Giuse đó là: người
cha yêu thương, dịu dàng từ ái, vâng phục, chấp nhận, can đảm sáng tạo, làm
việc chăm chỉ và bóng tối thầm lặng. Qua đó Đức Thánh Cha muốn mời gọi mọi
tín hữu hãy can đảm đi vào con đường linh đạo của thánh Giuse.
Tuy thánh Giuse thầm lặng không
nói gì, nhưng khi chiêm ngắm đời sống và hành trình cuộc đời của thánh nhân
trong suốt những năm trần thế ta lại nhận ra thánh nhân nói với ta rất nhiều về
những nhân đức quý giá trong cuộc sống. Chiêm ngắm thánh Giuse trong bài tin
mừng hôm nay, ta nhận ra ít là hai nhân đức cao quý mà thánh Giuse muốn dạy
chúng ta:
1. Luôn vâng nghe và khiêm tốn
thực hành ý Chúa:
Nhờ cầu nguyện trong chiêm niệm
mà thánh Giuse đã nhậy bén nhận ra thánh ý Chúa trong mọi phút giây của đời
sống. Biến cố Đức Maria mang thai bất ngờ, thánh nhân là người công chính nên
đã định tâm lìa bỏ cách kín đáo, nhưng sau khi nghe biết đó là thánh ý của TC
qua lời truyền tin của thiên thần Gabriel, thánh Giuse đã mau mắn bỏ ý riêng để
thi hành thánh ý Chúa trong tin yêu và vâng phục là đón nhận Đức Maria và Con
TC tượng thai trong lòng trinh nữ Maria về nhà mình để bao bọc, dưỡng nuôi.
2. Yêu quý giá trị của thinh
lặng:
Đọc lại 4 phúc âm chúng ta không
thấy lời nào của thánh Giuse. Thánh Giuse quả thật có đời sống thinh lặng sâu
xa, không phải vì thánh nhân sợ nói ra thì mất lòng người khác; cũng không phải
vì thanh quản của thánh nhân có vấn đề, nhưng có lẽ vì thánh kinh muốn đề cao
giá trị của thinh lặng của thánh nhân. Bởi thinh lặng là vàng. Chính trong
thinh lặng mà tâm hồn của thánh Giuse mới được lắng đọng và trong suốt, nhờ đó
ngài dễ dàng nhận ra đâu lá ý mình và đâu là ý Chúa trong những biến cố xảy ra
hàng ngày.
Hơn nữa có lẽ thánh Giuse cũng
không thích đề cao bản thân và hô hào cho mọi người biết về sứ mạng cao quý mà
TC trao phó cho ngài trong việc bảo trợ và dưỡng nuôi Con TC làm người; cũng như
ngài được vinh dự cộng tác với TC trong chương trình vĩ đại là cứu độ nhân
loại.
Trong thinh lặng và tích cực chu
toàn bổn phận, thánh Giuse đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Thiên Chúa trao
phó.
Hôm nay mừng kính trọng thể thánh
Giuse là bổn mạng của GH hoàn vũ, của GH Việt Nam, bổn mạng của nhiều họ đạo,
của hội dòng Mến Thánh Gía, của khá đông quý cha, quý tu sĩ và quý anh em gia
trưởng, ta hãy nguyện xin cho mọi người trong GH luôn biết noi gương thánh cả
Giuse yêu quý đời sống thinh lặng, biết khiêm tốn lắng nghe lời Chúa và luôn
can đảm từ bỏ ý riêng để thi hành thánh ý Chúa như thánh Giuse.
Nguyện xin Chúa qua lời
chuyển cầu của thánh Giuse thương ban nhiều ân sủng, niềm vui, bình an cho GH
và mọi người nhờ sự bảo trợ hộ giúp của thánh Giuse, bạn trăm năm của Đức
Maria.
SUY NIỆM 4: THÁNH GIUSE DẠY TA SÁM HỐI MÙA CHAY
Nếu mùa chay là mùa
sám hối, trở về, thì có lẽ việc trở về sâu xa nhất là trở về cõi lòng mình
trong thinh lặng để nhận ra Thiên Chúa là Cha đầy yêu thương, nhận ra tha nhân
là anh em mình, nhất là nhận ra con người thật của mình. Nhờ đó mà ta có những
điều chỉnh cho đúng đắn phù hợp với ý Chúa hơn. Nếu Giáo Hội đặt tháng
kính Thánh Giuse vào Mùa Chay, thì mục đích đã rõ, bởi vì ngài là khuôn mẫu của
con người nội tâm, thinh lặng.
Xin Chúa cho chúng
ta biết trân trọng và yêu quý đời sống thinh lặng, nhất là biết học nơi thánh
Giuse bài học về “đức thinh lặng”.
Không biết vô tình hay hữu ý, năm
nào cũng vậy, GH lại mừng kính thánh Giuse vào đúng lịch PV mùa chay. Chắn
hẳn GH rất có lý. Bời lẽ nếu mùa chay là mùa sám hối, trở về. Mà sự trở về
sâu xa nhất lại chính là trở về chính mình và trở về với Thiên Chúa. Nói
như vậy thì hơn ai hết Thánh Giuse chính là mẫu gương tuyệt vời cho chúng ta về
sự trở về ấy.
1. Trước hết thánh Giuse
dạy ta bài học trở về với chính mình trong thinh lặng.
Khi đọc các sách Tin Mừng,
ta không thấy thuật lại bất cứ lời nào của thánh Giuse, dù chỉ một lời nói với
Mẹ Maria hay với Chúa Giêsu. Ngay cả khi gặp trẻ Giêsu ở trong Đền Thờ sau
những ngày lo âu tìm kiếm cũng không có lời nào của ngài hé lộ. Có lẽ qua đó,
Thánh Kinh nhằm đề cao giá trị của sự thinh lặng nơi thánh Giuse.
Đúng vậy thinh lặng là thái độ
hết sức quý giá: Người đời thường nói: "Lời nói là bạc, im lặng là
vàng". Thinh lặng quý hơn lời nói, vì nói chỉ là bạc mà im lặng mới là
vàng; là vàng thì bao giờ cũng quí hơn bạc! Nhờ thinh lặng mà thánh Giuse có
thời giờ gắn bó với Chúa cách sâu xa để nhờ đó ngài dễ dàng nhận ra ý Chúa và
cũng dễ dàng chấp nhận thực thi thánh ý Chúa dẫu cho đó là điều không dễ dàng
vì đụng chạm đến giá trị và quyền lợi cá nhân của ngài (cha chay và chồng
chay).
Thinh lặng là biểu hiện của sự
hiểu biết. Ông bà ta vẫn nói: “Ngôn giả bất tri, tri giả bất ngôn”; nghĩa là
người không biết thì lại lắm mồm vì tưởng người khác không biết như mình, ngườì
biết thì lại không nói, vì nghĩ rằng mọi người đều biết. Heidegger khuyên chúng
ta thực tập thinh lặng, bớt nói, bớt phát biểu, bớt bàn tán….không phải để ta
nên ngu muội, vô tri, nhưng để cho tâm khảm suy nghĩ của chúng ta hoà quỵện với
sinh linh vạn vật, và chỉ khi đó chúng ta mới có thể thấu đạt hết mọi ngóc
ngách, thông tường mọi thế thái, biến chuyển trong sự biểu đạt khôn cùng của
nhân sinh, của nhiên giới. Đó cũng là ý nghĩa mà nhà thơ tài danh của Ấn Độ
Rabindranath Tagore muốn chuyển tải khi ông viết: “Nước trong chậu thì sóng
sánh; nước trong biển cả thì thẫm đen.....”
Chính nhờ sự thinh lặng trong đêm
vắng, Thánh Giuse đã nhận ra được ý muốn của Chúa, lắng nghe được Lời Chúa nói.
Phân biệt được điều gì đúng, điều gì sai và chọn lựa cách thế thực hiện như thế
nào đẹp ý Chúa nhất. Chính vì thế ngài đã hết lòng bảo vệ, chăm sóc Đức
Maria và Hài Nhi Giêsu vượt qua những sóng gió của cuộc đời. Và trở nên
“người công chính”.
Thinh lặng chính là thầy dạy sự
khôn ngoan.
Nhìn vào đời sống, chúng ta thầy
rằng mình đã sai lỗi quá nhiều trong lời nói. Bởi vì “đa ngôn thì đa quá”. Nói
nhiều thì trở nên nói dai và kéo theo nói dở, nói ẩu và dại. Bởi đó hãy thận
trọng trong lời nói. Ném một lông vịt vào trong gió, thì làm sao nhặt lại được.
Một lời nói ra bốn ngựa đuổi theo cũng không kịp “tứ mã nan truy”. Vì
vậy mà lời nói sẽ trở nên mối nguy cơ đánh mất tình thương, chia cắt tình thân
và gây nên đau khổ cho nhau.
Hãy học cùng thánh Giuse bài học
thinh lặng nhất là trong nhữn giây phút căng thẳng và sóng gió. Bởi nếu biết
thinh lặng đúng lúc ta sẽ chặng được 90% đổ vỡ đáng tiếc, vì thinh lặng là thái
độ khôn ngoan nhất của con người và là phương thuốc chữa lành những tội lỗi xấu
xa.
Truyện kể rằng: Xưa một nhà vua
Ấn Độ, muốn thử nhân tài của một nước Chư hầu liền gửi tới nước này
ba pho tượng vàng, giống hệt nhau. Nhà vua Ấn Độ yêu cầu nhà
vua Chư hầu cho biết trong ba pho tượng vàng này, đâu là pho tượng
quí giá nhất.
Nhà vua nước Chư hầu
cho triệu tập các nhà thông thái tới để đánh giá ba pho tượng vàng này, tìm ra
xem pho tượng nào quí giá nhất. Các nhà thông thái nghĩ ngay tới giá trị của
mỗi pho tượng sẽ căn cứ vào cân nặng nhẹ, hoặc vào tuổi vàng tốt xấu, hoặc căn
cứ vào nghệ thuật tìm thấy trên ba pho tượng vàng! Nhưng rồi các nhà thông thái
đành phải bó tay, vì ba pho tượng này giống hệt nhau về nghệ thuật, khối
lượng và tuổi vàng.
Nhà vua nước Chư hầu
rất buồn, vì không biết được giá trị hơn kém của ba pho tượng. Vua liền cho
loan báo khắp nước: Ai tìm được bí mật giá trị của mỗi pho tượng sẽ được trọng
thưởng.
Có một người tù, biết chuyện xin
được xem ba pho tượng và nếu anh ta tìm ra giá trị hơn kém của ba pho tượng này
thì anh chỉ xin một điều kiện là cho anh được tự do.
Lập tức nhà vua cho anh xem ba
pho tượng. Vừa ngó xong ba pho tượng, anh ta xin một cọng rơm. Chỉ trong ít
phút, anh đã khám phá ra giá trị hơn kém của ba pho tượng vàng.
Anh lấy cọng rơm chọc vào lỗ tai
pho tượng thứ nhất, thì thấy cọng rơm xuyên từ lỗ tai này sang lỗ tai kia, anh
bảo: “ đây là pho tượng ít giá trị nhất, vì nó tượng trưng cho hạng người nghe
điều gì, vừa vào tai nọ, đã ra tai kia, không biết ghi nhớ, không để tâm gì suy
nghĩ điều đã nghe”.
Anh ta lại lấy cọng rơm chọc vào
lỗ tai pho tượng thứ hai, thì thấy cọng rơm đi từ lỗ tai chạy xuống miệng pho
tượng. Anh bảo: “pho tượng này hơn pho tượng trước là vì nó tượng trưng cho
hạng người biết nghe, biết nhớ nhưng mắc khuyết điểm là: vừa nghe được gì đã
vội nói ngay, không suy nghĩ xem điều mình nghe đúng hay sai, nói ra có lợi hay
có hại”.
Anh lại lấy cọng rơm chọc vào lỗ
tai pho tượng thứ ba, thì thấy cọng rơm đi từ lỗ tai chạy xuống bụng. Anh nói:
“pho tượng này quý giá nhất, vì nó tượng trưng cho hạng người biết nghe, biết
nhớ, biết để lòng suy nghĩ, biết ghi vào tâm dạ mình.
Vua nước lớn nghe được lời giải
đáp của thần dân nước nhỏ thì vô cùng kính nể. Ông về nói với các quan trong
triều: “Nước họ có người thông minh tài giỏi như vậy, hẳn nước họ là nước mạnh
mẽ, hưng thịnh, ta nên giao hoà với họ chứ không nên giao chiến”.
2. Thứ hai thánh Giuse dạy ta bài
học về sự tín thác và sự vâng phục Chúa.
Nếu ông Giacaria nghi ngờ về ý
định của Thiên Chúa qua biến cố truyền tin của thiên thần Chúa nơi đền thờ và
Mẹ Maria ngỡ ngàng trước lời mời gọi của Thiên Chúa nơi biến cố truyền tìn, thì
Giuse lại hoàn toàn vâng phục không một lời chấp vấn hay bối rối gì cả.
Thánh Kinh thuật lại: Khi biết
được Đức Maria mang thai là do quyền năng Chúa Thánh Thần, Thánh Giuse đã không
ngần ngại nhận Đức Maria về nhà mình để chở che và nuôi dưỡng. Nhận lãnh hay
bảo lãnh Đức Maria về nhà cũng đồng nghĩa Thánh Giuse giải cứu Đức Maria khỏi
búa rìu dư luận và thoát khỏi án tử. Việc bảo trợ Đức Maria cũng có nghĩa
là đồng bảo trợ Hài Nhi đang được cưu mang trong cung lòng Đức Maria. Việc nhận
Đức Giêsu làm con cũng đồng nghĩa với việc bảo trợ cho Đức Giêsu sinh ra cách
hợp pháp và đưa Đức Giêsu vào trong dòng tộc vua Đavít.
Vâng phục ý Chúa, không chỉ bảo
trợ cho Hài nhi Giêsu sinh ra hợp pháp mà thánh Giuse còn bảo toàn mạng sống
của Đức Giêsu khỏi nanh vuốt của vua Hêrôđê qua việc vâng theo lời báo mộng của
Chúa trong đêm mà nhanh chóng đem mẹ Người và Hài Nhi Giêsu vượt đường xa hiểm
trở gần 500 cây số xuyên qua sa mạc dài hơn 200 km không một bóng cây, không
một ngọn cỏ, không một giọt nước, rất gian khổ để đến Ai-cập tị nạn. Và
khi tình hình yên ổn, một lần nữa Giuse lại nghe theo lời báo mộng bỏ Ai-cập
đem gia đình trở về Palestine, định cư tại Nagiarét để chăm sóc nuôi dưỡng bằng
chính công sức lao động chân chính của mình với nghề thợ mộc.
Còn chúng ta thì khác, chúng ta
thường tìm ý mình hơn là ý Chúa. Và mỗi khi gặp phải những tai ương hoạn nạn,
chúng ta thường kêu trách và xúc phạm đến Chúa, vì chúng ta cho rằng Chúa bất
công và vâng lời chỉ là một hành động hèn nhát, mất tự do và chôn vùi nhân
phẩm.
Chúng ta không phải lúc nào cũng
biết được kế hoạch của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Chúng ta chỉ biết
rằng cách của Người thì khác với cách của chúng ta, nhưng cách của Người thì
luôn luôn tuyệt vời nhất. Vì thế, hãy tín thác và vâng phục thánh ý Thiên
Chúa, để chúng ta sẽ trở nên những tôi tớ trung thành và khôn ngoan như thánh
cả Giuse ngày xưa.
Truyện kể rằng: Có 3 cái cây trên một
ngọn đồi trong rừng, cùng tranh luận với nhau về những hi vọng và giấc mơ của
chúng...
Cái cây đầu tiên nói: “Tôi hi
vọng một ngày nào đó tôi sẽ trở thành tủ đựng vàng bạc châu báu. Tôi sẽ được
nhét đầy vàng, bạc và ngọc quý, được trang hoàng với nghệ thuật chạm khắc cầu
kỳ và mọi người sẽ thấy rằng tôi rất đẹp”.
Đến lượt mình cây thứ hai nói:
"Tôi ao ước sẽ được là một con thuyền mạnh mẽ. Tôi sẽ chuyên chở các vị
vua và hoàng hậu đến mọi nơi trên thế giới. Mọi người sẽ cảm thấy an toàn khi
ngồi trên thuyền tôi vì thân tàu mạnh mẽ và vững
chắc".
Cuối cùng cây thứ ba mơ ước:
"Tôi muốn được là một cây cao lớn và mạnh mẽ nhất trong rừng. Mọi người sẽ
nhìn thấy tôi trên ngọn đồi, nhìn lên các cành của tôi và biết rằng tôi đang
vươn cao và gần bầu trời đến mức nào. Tôi sẽ mãi là cái cây vĩ đại nhất và mọi
người sẽ luôn nhớ đến tôi".
Sau nhiều năm cẩu nguyện, ngày
mong đợi của chúng cũng đến - một nhóm người lấy gỗ đến khu rừng đó.
Một người trong bọn họ tiến đến
bên cây thứ nhất và nói: "Cây này trông có vẻ chắc lắm đấy. Tôi nghĩ là
tôi sẽ bán nó cho anh thợ mộc" và anh bắt đầu đốn cây. Cái cây cảm thấy
rất hạnh phúc vì nó nghĩ rằng anh thợ mộc sẽ dùng nó để đóng thành một hộp đựng
đồ quý giá...
Nhìn thấy cây thứ hai, người thợ
rừng bảo: "Cây này cũng chắc lắm đấy, ta sẽ bán nó cho một hãng đóng
thuyền". Cây thứ hai vô cùng sung sướng vì nghĩ rằng mình sắp được đóng
thành một con thuyền lớn.
Khi người thợ rừng tiến đến gần
cây thứ ba, nó cảm thấy thật sợ hãi bởi vì nó biết rằng nếu ông ấy hạ nó giấc
mơ của nó sẽ không thể nào thành hiện thực được. Một người thợ bảo "Tôi
chưa có dự định gì đặc biệt cho số cây của tôi nhưng tôi sẽ chặt cái cây
này". Và ông ta cưa nó.
Khi cây thứ nhất đến tay người
thợ mộc, ông đóng nó thành máng ăn cho ngựa. Sau đó ông ấy đặt nó trong chuồng
ngựa và chất đầy cỏ khô lên. Đây không phải là điều cái cây mơ ước.
Còn cây thứ hai, nó được xẻ ra và
đóng thành một cái thuyền câu cá nhỏ. Mơ ước được trở thành một con thuyền mạnh
mẽ và được chở các vị vua đã kết thúc.
Cây thứ ba thì bị cưa thành những
thanh gổ lớn và bị xếp vào một góc tối tăm, hôi hám.
Rồi năm tháng trôi qua, những cái
cây đã quên hết ước mơ của mình. Thế rồi một ngày nọ một người đàn ông và một
phụ nữ đến bên chuồng ngựa. Cô ấy sinh nở tại đây và họ đặt đứa bé nằm trong
lớp cỏ khô trong máng ăn được đóng từ cây thứ nhất. Người đàn ông ao ước có
được một cái giường cũi cho đứa bé và ông ấy sẽ sử dụng cái máng với mục đích
này. Cái cây cảm nhận được tầm quan trọng của việc này và nó biết rằng nó đang
giữ trong tay một tài sản quý báu nhất.
Vài năm sau, có một nhóm người
bước lên chiếc thuyền câu được làm từ cây thứ hai. Một người đàn ông mệt và ngủ
thiếp đi. Trong khi họ đang lênh đênh trên biển, một cơn bão lớn nổi lên và cái
cây không nghĩ rằng mình đủ mạnh để đưa họ qua cơn sóng to gió lớn này. Họ đánh
thức người đàn ông đang nằm ngủ, ông ấy đứng dậy và nói: "Biển lặng".
Ngay tức thì cơn bão
tan biến. Trong lúc này cây thứ hai biết rằng nó đang được chở vị vua của tất
cả các vị vua trên thuyền.
Cuối cùng cũng có người đến và
mang cái cây thứ ba đi. Nó được khiêng qua các con đường. Suốt dọc đường người
ta nhạo báng người đàn ông đang khiêng nó. Khi họ lên đến đỉnh đồi, người đàn
ông kia bị đóng đinh trên cây và bị treo ở đó cho đến chết. Ngày Chúa nhật đến,
cái cây cảm thấy mình đủ mạnh để đứng trên đỉnh đồi và thật gần với Thượng Đế
bởi vì Chúa đã bị đóng trên thân của nó.
Do vậy, khi mọi việc diễn tiến
không đúng với những gì ta mơ ước, hãy luôn tin tưởng và phó thác vào Chúa bởi
vì Người luôn luôn có sẵn kế hoạch cho chúng ta. Hãy vững tin rồi chúng ta sẽ
nhận được quà tặng từ Người. Giống như những cây kia, cuối cùng cũng đạt được
giấc mơ của mình tuy không hoàn toàn giống như những gì chúng nguyện cầu.
Lạy Chúa, giữa bao triết lý và
lắm luồng tư tưởng trong xã hội này, con phải chọn lựa như thế nào?. Giữa những
nền văn hóa đa dạng và những nền văn minh phức tạp, con biết đâu là đúng, đâu
là sai? Xin cho con biết học nơi thánh Giuse bài học của thinh lặng để trở về
với chính mình và với Chúa. Xin cho con biết chọn tiếng Chúa mời gọi hơn là
tiếng đời thúc đẩy và nỗ lực thi hành tiếng Chúa với hy vọng được trở nên công
chính theo gương thánh cả Giuse kính yêu. Amen.
* Mùa
chay: Ga 5, 31-47
Suy niệm 1:
Tin hay không tin là chấp nhận
hay từ chối. Dù những người Do Thái, nhất là nhóm Biệt Phái đã chứng kiến biết
bao điều lạ Chúa Giêsu đã làm, nhưng họ vẫn không tin nhận Chúa Giêsu đến từ
Thiên Chúa. Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu kiên nhẫn đưa ra những bằng chứng xác
thực để minh chứng về Ngài. Nhưng vì thiếu lòng yêu mến Chúa và cứng lòng, họ
vẫn không tin.
Xin cho chúng ta biết nhận ra lời
dạy của Chúa qua các dấu chỉ của thời đại, nhất là qua lời Chúa dạy nơi Thánh
Kinh mà khiêm tốn thi hành với niềm tin tưởng vào ơn cứu độ Chúa ban.
Để ứng cử và thi hành nhiệm vụ
HĐND hay Đại Biểu Quốc Hội, người ta cần được sự giới thiệu của địa phương và
được cử tri tín nhiệm cao.
Để làm Linh Mục nhằm thi hành sứ
vụ tông đồ, cần có người giới thiệu, được đấng bản quyền chuẩn nhận, cho phép.
Còn Chúa Giêsu trái lại, khi thi
hành sứ mạng Chúa Cha giao phó là cứu độ nhân loại, thì chẳng có sự chuẩn nhận
nào của Giáo quyền cũng như Chính quyền. Nên không lạ gì Ngài luôn bị khước từ
và chống đối. Nếu ta ở vào trường hợp của họ lúc ấy, chúng ta cũng khó lòng
chấp nhận Đấng Cứu Thế là ông Giêsu đến từ Nazarét. Một Đấng Cứu thế xem ra
không phù hợp với quan niệm, suy nghĩ của con người.
Thân thế và sứ mạng của Chúa
Giêsu xem ra không hợp pháp theo quan niệm con người, nhưng đó lại phù hợp với
ý muốn của Thiên Chúa. Vì Đức Giêsu là Thiên Chúa nên Ngài vượt lên trên và
không phụ thuộc vào những ràn buộc của thế quyền. Nhưng để cho thế quyền chấp
nhận, Chúa Giêsu sẵn sàng đưa ra những bằng chứng xác thực để minh chứng về
thân thế và sứ mạng của Ngài qua bài tin mừng hôm nay.
Thứ nhất: Bằng chứng của Gioan Tẩy
Giả: “Đấng đến sau tôi, nhưng quyền thế hơn tôi. Tôi rửa anh em bằng
nước, nhưng Đấng ấy sẽ rửa anh em trong Thánh Thần”.
Thứ hai: Chính lời Tôi nói và những việc
Tôi làm: Có ai làm cho người mù mới sinh được khỏi như Chúa Giêsu. Có ai làm
cho một người phong cùi được sạch. Có ai làm cho một đứa bé đã chết được sống
lại. Có ai làm cho đứa con trai của bà goá thành Naim bị cột chặt trong vải
liệm và đang khiêng đem chôn được hồi sinh. Có ai làm cho ông Lazarô chết 4
ngày được chỗi dậy. Chỉ có Thiên Chúa mới có quyền làm những điều ấy.
Thứ ba: Chúa Cha làm chứng về
Ngài: “Này là Con Chí Ái của Ta, các ngươi hãy nghe lời Người”.
Thứ tư: Bằng chứng của Thánh Kinh và Môsê
đã loan báo về Ngài chính là Đấng Messia.
Tuy Chúa đã đưa ra những bằng
chứng xác thực như vậy, nhưng người Do Thái không nhìn nhận Ngài.
Lý do: Vì họ không có lòng yêu
mến Thiên Chúa và vì tính ích kỉ, hám danh. Vì thế họ đã không còn khả năng mở
lòng đón nhận Ngài.
Dù họ có tin hay không tin, thì
sự thật Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa làm người. với tất cả nhân tính và Thiên
tính nơi Ngài. Suốt hơn hai ngàn năm qua, không ai có thể để lại dấu ấn sâu đậm
trong lịch sử như Chúa Giêsu.
Không nhà cách mạng tài ba nào có
thể biến đổi thế giới được như Ngài. Không có vị tôn sư nào có` một dòng dõi
môn đệ đông đảo như Ngài. Không có tên ai được nhắc một cách cực trong như tên
Ngài. Không có một ân nhân nào được yêu mến say mê như Ngài. Thế mới rõ Đấng vĩ
đại ấy chính là một người, nhưng là người Chúa, vì Ngài là Con Thiên Chúa.
Xin cho chúng con và hết mọi
người biết khiêm tốn tin nhận Đức Kitô là Chúa lòng mình và nổ lực hết lòng hết
sức sống theo lời Người chỉ dạy với tình yêu mến. Amen.
Suy niệm 2:
1. Lời chứng về Đức Giêsu – có
đủ, nhưng lòng người vẫn cứng cỏi
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức
Giêsu khẳng định: Người không tự mình làm chứng về mình, nhưng có nhiều lời
chứng khác: lời của Gioan Tẩy Giả, những việc Người làm, chính Chúa Cha, và cả
Kinh Thánh. Nhưng những người Do Thái lại không tin, không chấp nhận. Họ có
Kinh Thánh, nhưng không nhận ra Đức Kitô mà Kinh Thánh loan báo. Họ chờ đợi một
Đấng Cứu Thế theo kiểu của họ, nên khi Đức Giêsu đến, họ đã khước từ.
2. Tâm hồn đóng kín-mắt không
thấy, tai không nghe, lòng không hiểu
Bi kịch của dân Do Thái xưa vẫn
là cơn cám dỗ của chúng ta hôm nay: Khi trái tim ta không thực sự mở ra cho
Thiên Chúa, ta sẽ dễ dàng đóng khung Thiên Chúa theo cách hiểu riêng mình. Ta
đòi hỏi Chúa phải hành động theo ý ta, và nếu không đúng như vậy, ta sẵn sàng
loại trừ Người. Cũng như dân Do Thái xưa, chúng ta có thể biết Kinh Thánh, biết
giáo lý, biết những lời dạy của Chúa, nhưng nếu không sống điều ấy với trái tim
khiêm tốn và yêu mến, thì tất cả chỉ là chữ nghĩa vô hồn.
3. Đâu là chứng từ của Chúa hôm
nay?
Ngày nay, Đức Giêsu vẫn tiếp tục
tỏ mình ra qua nhiều chứng từ: nơi Lời Chúa, nơi Bí tích Thánh Thể, nơi Giáo
Hội, và nơi những người bé mọn, khổ đau. Người đang hiện diện rất sống động, nhưng
chỉ ai có đôi mắt đức tin và trái tim khiêm tốn mới nhận ra. Chúng ta có đang
tìm kiếm vinh quang của Chúa hay chỉ tìm danh giá của chính mình?
Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã đến giữa trần gian, nhưng
thế gian không nhận biết.
Chúa đã yêu thương con, nhưng nhiều
lần con thờ ơ.
Xin mở mắt con để con nhận ra
Chúa trong đời sống hằng ngày.
Xin mở lòng con để con lắng nghe
và thực thi lời Chúa cách trọn vẹn.
Xin đừng để con vì kiêu ngạo mà
khước từ sự thật và tình yêu của Ngài. Amen.
Thứ sáu: Kn
2,1a.12-22; Ga 7,1-2.10.25-30
Suy niệm 1:
Tự mãn về sự hiểu biết của mình,
dân Do Thái nói chung, cách riêng những người Biệt Phái đã trở nên mù quáng,
không còn khả năng nhận ra Đức Giêsu chính là Đấng từ Thiên Chúa mà đến. Do đó
họ đã không tin nhận Ngài và ra sức chống đối quyết liệt. Dù ngày nay chúng ta
dễ dàng tin Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người, nhưng nhiều lúc đức tin chúng ta
cũng bị chao đảo. Xin Chúa ban thêm lòng tin nơi chúng ta. Và cho nhiều người
chưa tin Chúa cũng đón nhận ơn đức tin như chúng ta.
Càng ngày cuộc tranh luận về
nguồn gốc của Chúa Giêsu với người Do Thái, cách riêng với nhóm Biệt Phái càng
trở nên gây gắt. Khiến họ đưa đến quyết định bắt và giết Ngài.
- Bằng lời giảng dạy khôn ngoan
đầy thuyết phục, đã khiến cho dân chúng rất ngạc nhiên về Đức Giêsu. Những ai
thành tâm đều tin rằng lời lẽ khôn ngoan của Đức Giêsu phải đến từ Thiên Chúa.
- Với những bằng chứng cụ thể do
ông Môsê đã truyền phải làm phép cắt bì mà họ luôn tuân giữ và có người đã chịu
phép cắt bì ngay trong ngày sabát để khỏi phạm luật Môsê, thì tại sao Chúa
Giêsu cứu chữa người bệnh trong ngày sabát lại phạm luật. Phải chăng chữa cho
một phần cơ thể bị khiếm khuyết trong việc cắt bì thì đáng làm trong ngày
sabát, còn việc cứu chữa toàn thân thể người bị bệnh tật trong ngày sabát thì
không được làm?
Từ đó, Chúa Giêsu khẳng định: sở
dĩ họ không tin nhận Ngài là do họ chỉ xét đoán theo bề ngoài. Họ cho rằng họ
biết quá rõ về lý lịch Đức Giêsu. Biết nơi sinh, chổ ở và còn biết cả cha mẹ,
bà con họ hàng của Người nữa. Một người xuất thân từ một nơi chốn, một hoàn
cảnh và một gia đình nghèo khó, tầm thường, nhỏ bé thì làm sao là Đấng Cứu Thế
được! Cách riêng với giới lãnh đạo thì ghen ăn tức ở vì thấy Đức Giêsu được dân
chúng ngưỡng mộ. Nhất là họ không thể chịu nổi những lời tuyên bố về nguồn gốc
xuất thân từ Thiên Chúa của Ngài. Nên họ đã quyết tâm trừ khử Ngài.
Thế đã rõ: Vì kiêu căng-tự mãn,
không muốn đón nhận lời chân lý do Chúa Giêssu giáng dạy nên đã có cái nhìn sai
lạc về Chúa. Và vì tự ái, ghen ghét, không muốn người khác hơn mình mà họ tìm
cách giết hại Chúa.
Xin Chúa giúp chúng con hết lòng
tin yêu Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ trần gian. Xin cho chúng con biết vâng theo
lời Người hướng dẫn mà ăn năn sám hối quay về đón nhận tình thương và ơn chữa
lành những vết thương lòng trong những ngày mưa chay này.
Suy niệm 2:
Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta
thấy Đức Giêsu đang đối diện với một hoàn cảnh đầy nguy hiểm: "Người
Do Thái tìm giết Người", thế nhưng Người vẫn lên Giêrusalem dự
lễ, âm thầm nhưng đầy chủ ý.
Người Do Thái bối rối và chia rẽ:
Họ ngỡ rằng Đấng Kitô khi đến thì phải "ẩn danh", còn Đức Giêsu thì
họ biết rõ gốc gác. Họ cho rằng: “Chúng ta biết ông này xuất thân từ
đâu.” Nhưng họ lại không thực sự biết nguồn gốc đích thực của Người,
đó là từ Thiên Chúa.
Đức Giêsu khẳng định: “Tôi
không tự đến. Đấng đã sai Tôi là Đấng chân thật… Phần Tôi, Tôi biết Người, vì
Tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai Tôi.” Đây là một lời
mạc khải rõ ràng về căn tính thần linh của Người. Và cũng chính vì điều đó,
Người càng bị thù ghét và tìm cách bắt giữ.
Ngày hôm nay, Đức Giêsu vẫn còn
bị từ chối, vẫn còn bị hiểu lầm nơi thế giới này, ngay cả trong lòng của chính
chúng ta. Chúng ta có thực sự nhận ra Đức Giêsu là ai trong cuộc đời mình
không? Có khi nào chúng ta cũng như những người Do Thái xưa, chỉ “biết về Chúa”
mà không thật sự “biết Chúa”?
Chọn sống theo Chúa trong
một thế giới đầy khước từ và vô cảm không phải là điều dễ. Nhưng như Đức Giêsu,
ta được mời gọi can đảm bước đi trong chân lý, dù có thể phải âm thầm và chịu
thiệt thòi.
Xin Chúa mở mắt
lòng con để con nhận biết Chúa đang hiện diện trong cuộc đời con. Xin cho con
biết dấn thân theo Chúa, dù trong những nghịch cảnh hay bị hiểu lầm. Xin cho
con can đảm sống chứng nhân cho sự thật như Chúa đã sống. Amen. (St).
Thứ bảy: Gr 11,
18-20; Ga 7, 40-53
Sống theo cảm tính và nhận định
chủ quan, khiến cho con người có cái nhìn sai lạc, dễ dàng đưa đến cách hành xử
tàn bạo, độc ác. Đó là điều mà Tin mừng hôn nay muốn đề cập đến.
Trước những phép lạ và lời giảng
dạy của Chúa Giêsu, người Do Thái có những phản ứng khác nhau: Người bình dân,
đơn sơ thì tin Ngài là một ngôn sứ cao cả được Môsê báo trước. Một số người
hiểu biết thì cho rằng: Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế như lời
ngôn sứ Isaia đã loan báo. Còn những người thuộc giới lãnh đạo tôn giáo thì phủ
nhận hoàn toàn, cho rằng: Ngài không phải là ngôn sứ, cũng không phải là Đấng
Cứu Thế.
Có nhiều lý do:
1. Không hội đủ những điều kiện
về địa dư và dòng tộc.
2. Sứ điệp lời Chúa có nguy cơ
làm cho dân chúng sao lãng lý tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc.
3. Lời giảng dạy và phép lạ Chúa
Giêsu làm lu mờ hình ảnh và uy thế của họ. Vì thế họ quyết định nhổ “cái gai
Giêsu” ra khỏi mắt họ.
Nhưng đối với những người am
tường luật lệ và yêu mến sự thật thì có cái nhìn trong sáng và cách hành xử
công minh. Ông Nicôđêmô là một điển hình. Ông là thành viên của hội đồng lập
pháp, là tiến sĩ luật có thế giá và là người can đảm đứng ra biện hộ cho Chúa
Giêsu, ông nói: “muốn bắt người ta, tức là Chúa Giêsu, thì trước hết
phải đối diện thẩm vấn, phải có nhân chứng và xét xử theo luật lệ”. Nhưng
lời đề nghị của ông chẳng ăn nhằm gì với số đông chỉ biết xử dụng luật rừng.
Thời nay cũng vậy. Chân lý thuộc
về số đông và vận mạng con người nằm trong tay những kẻ có quyền. Công lý
thường bị bẻ cong và hậu quả là những người sống theo sự thật, chân lý và tình
thương bị xem là người khờ dại. Có nguy cơ đẩy toàn bộ thế hệ đi vào hướng nhìn
lệch lạc, nhầm lẫn. Không còn phân biệt đâu là thật, đâu là giả; đâu là chính,
đâu là phụ; đâu là điều ưu tiên phải thực hiện và đâu là điều cần bỏ qua nếu
cần.
Xin cho chúng ta biết tôn thờ
Chúa trên hết mọi sự. Biết làm theo ý Chúa hơn ý mình. Biết ưu tiên làm việc
của Chúa, cho Chúa và vì Chúa. Nhất là biết chọn Chúa làm lẽ sống và là con
đường để ta dấn bước. Xin đừng để ta sống theo cảm tính nhẹ dạ, cả tin vào
những luồng tư tưởng, thông tin bên ngoài áp đặt, nhưng biết khôn ngoan lấy Lời
Chúa và Giáo Huấn Giáo làm lẽ sống. Hy vọng chúng ta không phải đi vào vết xe
đổ của người Do Thái khi xưa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét