SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN THÁNH-PHỤC SINH
Lm. Nguyệt Giang
CHÚA NHẬT LỄ LÁ
Is 50,4-7; Pl 2,6-11; Mt 26,14-27,66
TRƯỚC LÀM PHÉP VÀ RƯỚC LÁ
1. Hôm nay cùng với GH chúng
ta tưởng niệm cuộc khải hoàn vào thành thánh Giêrusalem của Chúa Giêsu, trước
khi Người bước vào cuộc khổ nạn và chết trên thập giá.
Tin Mừng cho chúng ta biết lần
đầu tiên Chúa Giêsu đã đồng ý để cho dân chúng chào đón Ngài như là một vị Vua.
Dân chúng cuồng nhiệt đến độ cởi cả áo mình ra để trải trên đường cho Chúa đi
qua, tay thì liên tục vẫy cành lá, miệng thì không ngớt tung hô: “Hoan
hô Chúa! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Vạn tuế Con vua Đavít!”. Dân
chúng thực sự đã tôn vinh Đức Giêsu là Vua, là Chúa nên họ đã chào đón Đức
Giêsu như là một thần tượng vĩ đại của họ vậy.
Qủa thật Đức Giêsu là thần
tượng, nhưng là thần tượng của hy sinh đến cùng vì yêu thương con người. Mặc
cho người đời có lật lọng tráo trở, thay lòng đổi dạ, đổi trắng thay đen để rồi
kết tội, chế giễu, nguyền rủa, đánh đòn, đóng đinh Ngài vào thập giá thì Ngài
vẫn cứ một lòng một dạ yêu thương con người cho đến cùng.
Xin Chúa cho chúng ta cảm nhận
được tình yêu cao vời của Chúa mà sẵn sàng tin nhận Đức Giêsu là Vua thật của
lòng mình và là Thần Tượng duy nhất của cuộc đời ta. Nhờ đó ta mới can đảm dấn
thân hiệp hành theo Chúa trên con đường hy sinh phục vụ mọi người
bằng một tình yêu nhưng không, cho dẫu bản thân mình phải chịu nhiều
thiệt thòi và thương đau. Amen.
Anh chị em thân mến, với những
tâm tình đó,
Giờ đây chúng ta hãy noi gương
dân thành Giêrusalem mà hoan hỷ lên đường nghênh đón Đức Kitô!
2. Nếu ví đời người là một cuộc hành
trình, thì cuộc hành trình dương thế của Chúa Giêsu khá ngắn, chỉ vỏn vẹn có 33
năm.
Trong đó có đến 30 năm Ngài sống
ẩn dật tại miền quê Nagiaret, chỉ còn lại 3 năm sau hết, Ngài mới bôn ba khắp
các nẻo đường Palestin để thi hành sứ mạng loan báo tin mừng, đem ơn cứu độ cho
trần gian. Tuy nhiên đoạn hành trình ngắn ngủi ấy lại hết sức quan trọng. Bởi
trong chặng đường cuối cùng ấy, Chúa Giêsu đã phải đối mặt với biết bao gian
lao thử thách, và đã trải qua biết bao là cung bậc cảm xúc vui buồn đan
xen.
- Vui: vui vì khi tiến vào thành
thánh Giêrusalem, Ngài được dân chúng đón chào hồ hởi như một
vị Vua. Họ đã cầm những cành lá reo hò tung hô bằng những
mỹ từ tuyệt hảo: “Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh
Chúa!” (Tv 118,2b) Họ cũng sẵn sàng cởi áo choàng mình
ra và chặt những nhành lá để trải đường cho Đức Giêsu cưỡi lừa
con đi qua...
- Buồn: Vì cho dẫu Đức Giêsu là một
vị Vua đúng nghĩa, Vua của hòa bình, Vua chân lý, "Vua của Tình Yêu".
Nên Ngài đã sẵn sàng sống và chết cho tình yêu. Con đường Ngài đi
không nhằm tìm kiếm vinh quang lợi lộc mà là hy sinh quên
mình để cho nhân loại được sống và sống dồi dào. Tuy nhiên Ngài lại
không phải là một vị vua theo quan niệm trần tục, nên Ngài đã bị nhân thế chối
từ, loại bỏ và giết đi.
Lễ Lá là dịp mời gọi chúng
ta sống lại những cảm xúc vui buồn cùng với Chúa Giêsu. Vui
vì chúng ta may mắn có được niềm tin vào Đức Giêsu Vua tình yêu. Buồn
vì chúng ta thấy mình chưa sống hết tình với Chúa. Chúng ta chưa
dám tiến bước trên con đường hy sinh phụng sự Chúa; chúng
ta chưa dám sống hết tình cho tha nhân, nhất là người nghèo khổ như tình yêu
Chúa đã dành cho ta. Buồn vì chúng ta chưa cảm nhận được niềm vui tin mừng
khi hiệp hành bước theo Chúa trên hành trình sống và minh chứng niềm tin của
mình.
Xin Chúa cho chúng ta cảm nhận
được tình yêu cao vời của Chúa mà sẵn sàng tin nhận Đức Giêsu là Vua thật của
lòng mình và là Thần Tượng duy nhất của cuộc đời ta. Nhờ đó ta mới can đảm dấn
thân hiệp hành theo Chúa trên con đường hy sinh phục vụ mọi người
bằng một tình yêu nhưng không, cho dẫu bản thân mình phải chịu nhiều
thiệt thòi và thương đau. Amen.
3. Với Chúa nhật lễ Lá hôm nay, như
là cửa ngỏ đưa dẫn chúng ta đi vào Tuần Thánh-Phục Sinh, đỉnh cao của đời sống
đức tin và phụng vụ trong năm của GH.
Trong nghi thức làm phép Lá hôm
nay, gợi lên cho chúng ta một vài suy nghĩ về cái nhìn tích cực cũng như tiêu
cực ngang qua hình ảnh của chiếc Lá:
- Với cái nhìn tiêu cực
Người
đời cho rằng lá thì có “mặt trái mặt phải”. Như muốn nói đến sự lật lọng, tráo trở, hay thay lòng đổi dạ của con
người.
Tựa như dân Do Thái xưa, lúc thì
hò reo tung hô Chúa là Vua, lúc thì hò hét đòi đóng đinh Ngài vào thập giá; nay
thì yêu mến đến độ cởi cả áo ra để trải đường cho Chúa đi qua, nhưng sau đó lại
căm ghét đến độ lột áo Chúa ra và đóng đinh Ngài vào thập giá.
Các tông đồ cũng vậy, các ông đã
thay lòng đổi dạ: Giuđa dùng nụ hôn để bán đứng Thầy mình; Phêrô dù có thề sống
chết với Chúa nhưng sau đó lại chối bay chối biến là không biết Chúa.
Vậy còn lòng dạ của mỗi người
chúng ta với Chúa, với người khác thì sao? Chúng ta có thay lòng đổi dạ hay là
một lòng một dạ yêu mến và trung tín với Chúa, với nhau cho đến cùng, khi hoàn
cảnh đổi thay?
- Với cái nhìn tích cực
Người
đời thường hay nói: “lá lành đùm lá rách”. Nghĩa là cho dẫu con người có lật lọng tráo trở, thay lòng đổi dạ thế nào
đi nữa, thì Chúa Giêsu vẫn một lòng một dạ yêu thương con người đến cùng. Lòng
Chúa luôn mở rộng như chiếc lá để đùm bọc, cưu mang, ôm ấp nhân loại khổ đau.
Chính Chúa đã chấp nhận mang lấy những bệnh tật, đau khổ và tội lỗi của chúng
ta để hạ mình sinh nghèo, sống nghèo, và chết nghèo để cho chúng ta được chữa lành,
no thỏa và được sống dồi dào.
Lễ Lá hôm nay dẫn chúng ta bước
vào Tuần Thánh, tưởng niệm lại biến cố Chúa Giêsu chịu nạn chịu chết và sống
lại.
Tạ ơn Chúa là chiếc "lá lành
đùm lá rách" nhân loại chúng ta. Xin cho mỗi chúng ta đừng bao giờ
trở thành “lá mặt lá trái”, nhưng hãy trở nên “lá lành đùm lá rách” để một lòng
một dạ trung thành với Chúa và yêu thương nhau đến cùng, như tình yêu của Chúa
dành cho chúng ta. (St)
Anh chị em thân mến, với những
tâm tình đó,
Giờ đây chúng ta hãy noi gương
dân thành Giêrusalem mà hoan hỷ lên đường nghênh đón Đức Kitô!
TRONG THÁNH LỄ
Suy niệm 1: ĐƯỜNG THẬP GIÁ-CON
ĐƯỜNG TÌNH
Phụng vụ Lời Chúa Lễ Lá hôm nay
đã khắc họa đậm nét về dung mạo của một vị TC Giàu Lòng Thương Xót dành cho
chúng ta nơi Đức Giêsu Kitô:
- Bài đọc 1, trích sách tiên
tri Isaia: cho chúng ta
thấy rõ dung dạo của Người Tôi Trung TC. Người tôi trung này rất hiền lành và
khiêm nhượng trong lòng. Người đã đón nhận mọi sĩ nhục do người đời đối xử với
Người. Hình ảnh người tôi trung ấy mà ngôn sứ Isaia trình bày ấy không ai khác
đó chính là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Chúa Giêsu trong cuộc thương khó đã
phải chịu đánh đòn, bị chế nhạo, bị hành hạ, bị lăng nhục… bởi người đời, nhưng
Người đã chấp nhận tất cả chỉ vì vâng lời Chúa Cha và yêu thương nhân loại đến
cùng.
- Bài đọc II, trích thư
thánh Phaolô tông đồ gửi cho tín hữu Philipphê: Trong đoạn thư này, Thánh
Phaolô trình bày cho biết Đức Giêsu chính là Ngôi Hai TC làm người. Ngài không
nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với TC. Trái lại, Người đã tự hủy mình ra
không ngang qua việc mặc lấy thân phận tôi đòi, từ bỏ trời cao xuống thế làm
người để ở cùng chúng ta, nhằm cảm thông và chia sẻ kiếp người với chúng ta,
ngoại trừ tội lỗi. Qua cái chết đau thương trên thập giá, Người đã chuộc lại
tội lỗi cho nhân loại, đã phục hồi chức vị làm con TC mà con người chúng ta đã
đánh mất kể từ khi ông bà nguyên tổ phạm tội trong vườn địa đàng năm xưa.
- Bài thương khó hôm nay khá dài: trình thuật về cuộc khổ nạn
và cái chết đau thương của Chúa Giêsu trên thập tự giá. Trong biến cố đau
thương này, Tin mừng nêu bật những vấn đề xảy ra trong cuộc sống thường ngày
của nhân thế:.
Nếu nhìn vào những năm tháng êm
đềm khi thi hành sứ vụ rao giảng Tin mừng, ai cũng nghĩ rằng Giuđa, Phêrô và
các tông đồ… chính là những người bạn tâm giao với Thầy Giêsu, thì lẽ nào lại
phản bội lại Thầy mình. Nhưng tình người thật trái ngang, lòng người dễ đổi
thay. Chính những môn đệ thân tín của Chúa Giêsu là Giuđa Iscariô lại nhẫn
tâm bán thầy; Phêrô thì nhác đảm chối bỏ thầy; còn các môn đệ khác thì trốn
chạy biệt tâm đang lúc Thầy mình gặp hoạn nạn; cả như môn đệ Mar-cô cũng sợ hãi
và bỏ chạy đến “tuột quần” khi Thầy mình bị bắt. Đúng là như người đời đã nói:
“khi hoạn nạn mới biết ai là bạn.”.
Nhưng cũng thật an ủi vì cuộc đời
vẫn còn đó những con người sẵn sàng sống trung tín với thầy Giêsu. Tình yêu của
họ thật tuyệt vời, đáng trân quý biết bao. Trong số ấy phải kể đến tông đồ
Gioan đã can đảm theo Chúa Giêsu đến tận chân thập giá; như Mẹ Maria sẵn sàng
thông phần đau khổ với con mình trên mọi nẻo đường; như bà Maria Mađalêna,
bà Maria mẹ của Giacôbê hậu và của Giuse, bà Salômê… họ không ngần ngại
bước theo Chúa đến cùng trên con đường thập giá. Nổi bật nhất là khuôn mặt của
ông Simon, quê ở Xy-rê-nê; bà Vê-rô-ni-ca và ông Giu-se
quê ở Arimathia dẫu không hề quen biết Chúa Giêsu, nhưng họ lại sẵn
lòng giúp đỡ Người với hết khả năng của mình.
Nhưng có lẽ điểm nhấn mà
bài thương khó hôm nay muốn hướng đến chính là tình yêu như
trời biển mà TC dành cho nhân loại chúng ta. Vì yêu thương nhân loại quá đỗi
nên TC đã sẵn lòng ban Con Một của Ngài cho chúng ta, để ở cùng chúng ta nên
Người được gọi là “Đấng Emmanuel”. Người đã chấp nhận mặc lấy thân
phận con người, trở nên đồng thân, đồng phận và đồng tử với chúng ta ngoại trừ
tội lỗi, hầu cứu chuộc chúng ta khỏi án chết đời đời trong đau khổ. Qủa
đúng như lời thánh Gioan tông đồ đã nói: “Không có tình yêu nào
cao cả hơn tình yêu của người đã hi sinh tính mạng vì bạn
hữu của mình.” (Ga 15,13).
Xin cho mầu nhiệm thập giá, mầu
nhiệm của tình yêu, một tình yêu hy sinh phục vụ đến chết và chết trên thập giá
được thấm nhập vào trong từng suy nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta, để
mong sao dung mạo của một vị TC Giàu Lòng Thương Xót ấy cũng được khắc họa qua
đời sống khiêm nhường, hy sinh và tận tâm phục vụ nơi mỗi người kitô hữu chúng
ta hàng ngày trong cuộc sống.Amen.
Suy niệm 2: “THƯƠNG KHÓ VÌ
KHÓ THƯƠNG”
Tin mừng hôm nay, tường thuật lại
cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Nguyên nhân dẫn đến cuộc “Thương Khó” của
Chúa Giêsu là vì Người trở nên “khó thương” đối với nhiều người, thuộc mọi
thành phần trong xã hội:
1. Khó thương đối với dân Do Thái
Nhiều lần dân chúng đã nhiệt liệt
vỗ tay, tét đùi khi chứng kiến phép lạ Chúa Giêsu thực hiện: Trừ quỷ câm (Lc11,1
4-23), cứu chữa con trai của viên sĩ quan ngoại giáo (Ga 4,43-54), chữa người
bất toại 38 năm được khỏi bên bờ hồ Bết-da-tha (Ga,1-16), cho người mù từ lúc
mới sinh được xem thấy (Ga 9,1-38) và cho La-da-rô sống lại (Ga1,1-45).
Mới hôm nào họ được no lòng thoả
dạ khi chứng kiến phép lạ Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều, nuôi năm ngàn người ăn
no nê.
Trước đây, họ đã nức tiếng khen
ngợi về những lời giảng dạy khôn ngoan của Chúa Giêsu và tin nhận: “ông
này thật là vị ngôn sứ”; kẻ khác rằng “ông này là Đấng Kitô.”
(Ga 7,40). Họ kháo nhau: “Ông này không học hành gì mà sao lại
thông thạo chữ nghĩa thế!” (Ga 7,15).
Và mới đây, đám đông dân chúng
thành Giêrusalem nô nức phấn khởi, trải áo choàng, chặt những nhánh lá cây rải
trên đường để Chúa đi qua, tay cầm cành lá, miệng reo hò tung hô, họ dành cho
Người một nghi lễ đón rước như là một vị vua vĩ đại của họ. Họ vừa đi vừa tung
hô: “Hoan hô con vua Đavít”; “Vạn tuế Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến”. Thế
mà liền sau đó họ lại chống đối, lên án và la hét đòi "đóng đinh
nó vào thập giá".
Trước đây, Chúa Giêsu là thần
tượng được dân chúng ngưỡng mộ yêu mến, thì trong thời điểm “thương khó”
này, Người lại trở thành nhân vật “khó thương” đối với họ.
2. Khó thương đối với giới chức
lãnh đạo tôn giáo
- Vì Chúa Giêsu đụng chạm
đến uy tín họ:
Chúa Giêsu nhiều lần lên án gắt
gao lối sống giả hình của giới chức tôn giáo. Chỉ chích họ giữ đạo hình
thức, không có tâm tình yêu mến. Vạch mặt những việc đạo đức giả của họ làm,
cốt để lòe mắt thiên hạ. Khiến cho uy tính của họ càng lúc bị lu mờ đi.
- Vì Chúa Giêsu đã đụng
chạm đến quyền lợi vật chất của họ:
Thu nhập kinh tế của hàng ngũ
giới chức tôn giáo chủ yếu nhờ vào việc buôn bán và đổi tiền nơi đền thờ. Đặc
biệt vào những ngày lễ lớn, nguồn thu nhập của họ và con cháu họ rất lớn. Vậy
mà Chúa Giêsu dám động đến nồi cơm của họ. Ngài đã đi vào đền thờ đánh đuổi
những con buôn và lật tung những bàn đổi tiền của họ. Người còn thách
thức: “Cứ phá huỷ Đền Thờ này đi, nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng
lại.” Và tự xưng mình là Con Thiên Chúa (x. Mt 26,61; Mc 14,58).
Có lẽ vì những lý do trên mà Chúa
Giêsu đã trở nên nhân vật “khó thương” trong con mắt của hàng lãnh đạo tôn giáo
thời bấy giờ. Nên không lạ gì, họ quyết tâm lên án tử Chúa Giêsu.
3. Khó thương đối với giới chức
lãnh đạo chính quyền
Để tạo được sự đồng thuận đối với
giới chức chính quyền, giới chức tôn giáo đã gắn Chúa Giêsu vào tội
chính trị. Họ tố cáo Chúa Giêsu đã xách động dân chúng chống lại chính
quyền: “Chúng tôi phát giác ra tên này xách động dân tộc chúng tôi, và
ngăn cản dân chúng nộp thuế cho hoàng đế Xêda, lại còn xưng mình là Mêsia, là
vua nữa.” (Lc 23, 2).
Do đó, Chúa Giêsu bị xem là nhân
vật nguy hiểm đối với giới chức lãnh đạo của đế quốc Rôma, vì có âm mưu lật đổ
chính quyền và lãnh đạo dân chúng nổi dậy làm cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc. Chúa Giêsu đương nhiên trở thành đối tượng nguy hiểm đối với các giới chức
chính quyền. Nên cần phải tìm cách tiêu diệt ngay!
4. Khó thương đối với chính các
môn đệ của mình
- Chúa Giêsu đã trở nên khó
thương trong mắt của môn đệ Giuđa: Giuđa, một con người được Chúa yêu
thương và chọn gọi làm môn đệ Ngài. Được Chúa dạy dỗ và cho chứng kiến bao phép
lạ Chúa làm. Được Chúa tín nhiệm giao cho làm thủ quỹ, giữ túi tiền. Nhưng
vì tham lam tiền của, say cuồng theo đuổi mục tiêu chính trị là giải phóng
dân tộc nên Giuđa đã phản lại thầy mình. Ông dùng một cái hôn xảo
trá để bán đứng thầy. Trong mắt ông, Chúa Giêsu đã trở nên ông thầy
“khó thương”, đáng để cho ông lợi dụng.
- Phêrô cũng chẳng hơn gì! Tự hào
về lòng trung tín đối với thầy: “Dù mọi người có bỏ thầy, thì con sẽ
không bỏ thầy”. Vậy mà ông đã dễ dàng chối bỏ thầy mình trước
một cô đầy tớ. Chẳng những chối một lần mà cả đến ba lần. Không chỉ chối thầy
mà còn chối bỏ cả nguồn gốc, quê hương xứ sở của mình nữa. Với Chúa Giêsu,
trong cuộc thương khó đã trở nên “khó thương” đối với Phêrô thế sao!
- Cũng như Giuđa và Phêrô, các
tông đồ khác cũng đã được Chúa Giêsu hết lòng thương yêu, dạy bảo. Được Chúa
ban cho diễm phúc đồng thân, đồng phận với Chúa. Nhưng vì sợ đồng tử nên các
ông đã bỏ thầy mình trong lúc hoạn nạn, để chạy thoát thân. Ôi, thầy Giêsu
"khó thương" đến thế sao!
5. Khó thương đối với cả chúng ta
nữa:
Nếu xưa kia, Chúa Giêsu trở nên
“khó thương” trong mắt mọi người, thuộc mọi thành phần. Từ giới chức tôn giáo
đến quan chức lãnh đạo đời. Từ dân chúng bình dân đến giới trí thức kinh sư,
luật sĩ. Từ những bà con làng xóm đến những môn đệ thân tín. Thì ngày nay, Chúa
Giêsu cũng có thể trở nên “khó thương” đối với nhiều người trong chúng ta:
- Như Giuđa, Chúa Giêsu trở nên
“khó thương” đối với chúng ta. Bởi vì Ngài không đáp ứng được những yêu
sách đòi hỏi của chúng ta, khi ngăn cản lòng tham lam và những việc
làm giả dối của chúng ta.
- Giống như Phêrô, Chúa Giêsu trở
nên “khó thương” với chúng ta, vì Ngài bắt tôi phải trung thành với
Ngài trong việc tuân giữ Lề Luật và Giáo huấn của Ngài. Ngài còn đòi hỏi
tôi phải thể hiện niềm tin trước mặt mọi người. Trong khi tôi đang sống trong
xã hội vô thần. Ôi khó biết bao!
- Như giới chức tôn giáo,
tôi cảm thấy khó chịu. Bởi vì lời dạy của Ngài ngăn cản lối sống gian dối
và giả hình của tôi. Đã lên án tính kiêu căng tự mãn và công kính mạnh mẽ đến
những việc làm sai trái của tôi.
- Cũng giống như giới chức chính
quyền, nhiều lúc tôi không có chút cảm tình với Chúa Giêsu. Bởi Ngài
chính là đối tượng nguy hại, ảnh hưởng đến cuộc đời tôi.
Chính vì Ngài mà tôi bị loại ra khỏi hàng ngũ lãnh đạo xã hội. Vì Ngài mà tôi
mất đi cơ hội ngồi vào chiếc ghế quyền lực chính trị. Vì Ngài mà tôi mất đi
việc béo bở…. Vì thế tôi cần phải đánh chéo tên Giêsu trên văn bản và loại trừ
Người ra khỏi cuộc đời tôi.
- Tệ hại hơn, giống như đám đông
dân chúng, tôi cũng nông nổi nhẹ dạ, dễ nghe theo dư luận, hùa theo đám
đông lúc thì vỗ tay ủng hộ đạo thánh Chúa, lúc thì gào
thét đả đảo Giáo Hội Chúa. Vì chức quyền, danh vọng, tiền bạc…
tôi sẵn sàng bất trung với Chúa và vì lợi ích mau qua tôi sẵng sàng chống lại
Thiên Chúa.
Một nỗi buồn thấm thía, sao Chúa
lại trở nên “khó thương” và bị bạc bẽo đến mức như vậy!
Suy niệm 3:
Ngày xưa, có 2 anh em nọ sống
chung với nhau trong cùng một căn nhà. Người anh rất tốt lành, siêng năng làm
việc và kính sợ TC. Còn đứa em thì lọc lừa, gian manh, và phạm đủ mọi thứ tội
ác, như cướp của giết người...Một đêm nọ, đứa em chạy về nhà, quần áo đính đầy
máu. Nó tự thú với người anh: “em đã phạm tội giết người”.
Vài phút sau, căn nhà đã bị
cảnh sát bao vây, không còn cách nào trốn thoát được. Đứa em sợ hãi nói rằng:
“em không có ý giết người” và “em không muốn chết”. Ngay lúc đó có
tiếng cảnh sát gõ cửa. Người anh liền cởi quần áo mình đang mặc cho đứa em và
mặc lấy bộ quần áo đang dính đầy máu của đứa em.
Sau đó cảnh sát xông vào nhà cồng
tay người anh và bắt đi giam giữ chờ ngày xét xử. Sau cùng người anh đã
bị tòa kết án tử hình thay cho em mình.
Câu chuyện trên giúp chúng ta
hiểu được phần nào về tình yêu tột cùng mà Chúa Giêsu dành cho nhân loại chúng
ta. Tuy Người vô tội nhưng Người lại sẵn sàng chịu
chết đau thương trên thập giá để đền tội thay cho chúng ta.
Chúng ta vừa nghe lại bài thương
khó khá dài, trình thuật lại cuộc khổ nạn và cái chết thảm
thương của Chúa Giêsu. Khi suy niệm lại cuộc khổ nạn và cái chết của
Chúa Giêsu, chúng ta phải tự nhủ
rằng không một ai trong chúng ta là vô tội trước
cái chết của Chúa Giêsu.
REMBRANDT, hoạ sĩ tài
danh thế giới, người Hoà Lan đã vẽ lại bức tranh về “Ba Cây
Thập Tự” rất nổi tiếng. Những ai chiêm ngắm bức
tranh này đều bị thu hút ánh nhìn vào trung tâm của bức hoạ. Ở
giữa hai cây thập giá của 2 tên gian phi là thập giá treo
Chúa Giêsu được vươn cao hơn. Dưới chân thập giá của Chúa Giêsu là cả một
rừng người, nhưng lạ là khuôn mặt ai nấy đều lộ vẻ căm
thù và oán hận; trong số đó có cả khuôn mặt của nhà danh
hoạ nổi tiếng của bức tranh này.
Qua tác phẩm đó, tác
giả Rembrandt như muốn nói với chúng ta rằng: không
ai là vô tội trước cái chết đau thương của Đức Giêsu trên thập giá. Có
thể ta là Giuđa, Phêrô, Philato, Caipha, quân lính, đám đông hay những nhà lãnh
đạo đạo đời…đã tham gia vào vụ án giết Chúa Giêsu.
Nếu Chúa Giêsu đã xuống thế
làm người, mặc lấy thân phận tôi đòi và giống chúng ta mọi
đàng, ngoại trừ tội lỗi, thì Chúa cũng muốn nói với chúng ta
rằng: mỗi người trong chúng ta đều là hiện thân của Chúa. Vì thế
khi ta giúp đỡ cho ai đó là chúng ta đang giúp cho chính Chúa.
Ngày nay chung quanh chúng ta vẫn
còn đó những Đức Kitô nơi những người nghèo khổ, bệnh tật. Họ là những người
mắc bệnh nan y không tiền chữa trị; họ là những người bị vụ khống, bị tù
đày cách bất công; họ là những người đau khổ què quặt, đùi mù, câm điếc
không cơm ăn áo mặc, không chốn nương thân...Đó chính là những Chúa Giêsu bị bỏ
rơi trên thập giá, đang mong đợi được chúng an ủi và giúp đỡ tận
tình.
Trần gian được ví là bể khổ
nên “người nghèo thì luôn có bên cạnh”. Chúng ta tự hỏi, với
khả năng hạn hẹp ta làm được gì? Chắc hẳn ta không thể làm được những
điều vĩ đại để làm hết khổ đau cho tha nhân, nhưng chúng ta vẫn có
thể thực hiện những điều bé nhỏ làm vơi đi một phần gánh nặng của anh chị
em mình qua những hành động cụ thể như: cảm thông với những ai nghèo
khổ giống như các phụ nữ khi xưa đã đi
theo và khóc thương Chúa Giêsu trên con đường thập giá. Chúng ta
có thể nâng đỡ tha nhân như ông Simon đã kê vai vác đỡ thập
giá nặng nề của Chúa. Chúng ta có thể an ủi những
ai đau khổ như bà Vêrônica trao khăn cho Chúa lau mặt đẩm mồ hôi và máu. Chúng
ta cũng có thể lên tiếng bênh vực những ai đang gặp bất công như
người trộm lành bên hữu Chúa. Chúng ta cũng có thể cảm
thông với sự đau khổ của anh em mình như Mẹ Maria, như môn
đệ Gioan và các bà đạo đức…Tất cả họ đã can đảm theo Chúa đến cùng và
đã can đảm đứng dưới chân thập giá chứng kiến cái chết đau thương
của Chúa.
Vì yêu mến nhân loại đau khổ và
phải chết vì tội lỗi, Chúa đã sẵn sàng chấp nhận chịu đau
khổ và hy sinh mạng sống mình vì chúng ta hầu cho chúng ta được sống và
sống dồi dào. Đáp lại tình yêu lớn lao cao vời của Chúa, chúng ta hãy
can đảm chết đi cho tính hư nết xấu và tội lỗi của mình qua việc
xét mình ăn năn tội mỗi ngày trong giờ kính tối; siêng năng tham
dự các giờ đạo đạo đức và tĩnh tâm mùa chay để dọn mình xưng tội với
mong muốn được sống lại thật về phần linh hồn. Nhất là biết siêng năng
tham dự thánh lễ và rước lễ hàng ngày để được kết hợp mật thiết với
Chúa, nhờ đó ta mới có thể được sống hạnh phúc cùng với
Chúa trong niềm vui phục sinh, như lời Chúa đã hứa với
người trộm lành có lòng ăn năn hối cải: “Tôi bảo thật anh,
hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiêng đàng”. Amen.
Suy niệm 4:
Hôm nay Chúa nhật Lễ Lá, là ngày
Giáo Hội kỷ niệm dân Do Thái ngày xưa đã đón Đức Chúa Giê-su vào thành
Giê-ru-sa-lem cách long trọng, và để mở đầu cho cuộc thương khó của Đức Chúa
Giê-su vì yêu thương nhân loại mà phải chịu chết trên thánh giá. Ý nghĩa của
ngày lễ Lá là như thế, nhưng tâm tình của bạn và tôi cũng như của những người
Ki-tô hữu khác trong thánh lễ này lại mang tâm trạng khác, tôi xin chia sẻ với
bạn những tâm tình này:
1. Tình cảm của con người.
Bạn có thấy tình cảm của con
người không, cụ thể là người Do Thái đối với Đức Chúa Giê-su đó, hôm nay tình
cảm họ dành cho Ngài thật dạt dào trân trọng, họ tôn sùng Ngài cách cuồng
nhiệt, và nếu giờ phút ấy Đức Chúa Giê-su xách động quần chúng đứng lên lật đổ
nhà vua, đuổi quân Rô-ma ra khỏi đất nước, thì chắc quần chúng vẫn nghe theo,
nhưng Đức Chúa Giê-su không làm như thế, bởi vì Ngài biết lòng dạ của người
dân, tình cảm của con người hay thay đổi, nay trắng mai đen, nay hoan hô mai đả
đảo.
Tình cảm của dân Do Thái hôm qua
cũng là tình cảm của bạn và tôi hôm nay, giống nhau như đúc ở sự hay thay đổi:
thích thì hoan hô, không thích thì đả đảo, dù cho đối tượng là người tốt hay
người vô tội.
2. Sự khiêm hạ và hiền hòa của
Đức Chúa Giê-su.
Trước một đám người cuồng nhiệt
hoan hô mình, Đức Chúa Giê-su biết đó chỉ là sự phấn chấn nhất thời của họ, và
ngày mai chính họ sẽ lên án mình cách bất công, nhưng Ngài vẫn cứ đón nhận lời
tung hô của họ mà không cau có, dỗi hờn hay chỉ trích. Thái độ hiền hòa ngồi
trên mình lừa mẹ tiến vào thành Giê-ru-sa-lem của Đức Chúa Giê-su đã nói lên
tất cả sự khiêm cung của Ngài, chính những lời tung hô “vạn tuế con Vua Đa-vít”
“Đấng ngự đến nhân danh Chúa” của người Do Thái như một lời tiên tri ứng nghiệm
nơi Ngài, Đấng Thiên Chúa làm người.
Sự khiêm cung và hiền hòa của Đức
Chúa Giê-su là một bài học cho chúng ta, khi chúng ta biết bạn bè chơi khăm
mình thì nhất định sẽ nổi giận và không thèm tham gia với họ, khi chúng ta biết
những lời khen ngợi của mọi người chỉ là lời khen giả tạo và hàm ý chê bai, thì
chúng ta đùng đùng nổi giận...
Chúa nhật lễ lá là bắt đầu tuần
thánh mà cao điểm là Tam Nhật Vượt Qua, Giáo Hội cho chúng ta nghe tường thuật
bài Thương Khó của Đức Chúa Giê-su trong ngày chúa nhật Lễ Lá, là để cho bạn và
tôi cùng chia sẻ với những đau khổ của Ngài đã chịu vì yêu thương bạn và tôi,
cũng như yêu thương nhân loại. Và cũng để cho bạn và tôi học được bài học khiêm
tốn và hiền hòa nơi Đức Chúa Giê-su, Đấng từng tuyên bố mình là Đấng hiền lành
và khiêm nhượng trong lòng.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho
chúng ta.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
Suy niệm 5:
Bài Tin Mừng rước lá hôm nay,
thuật lại sự kiện Đức Giê-su khải hoàn vào thành Giê-ru-sa-lem như một
vị Vua Thiên Sai, Ngài được dân chúng theo sau hoan hô như đón mừng một
ông vua khải hoàn vào thành, hầu ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ
Gia-ca-ri-a.
Vào thời Đức Giê-su, nhiều
người Do thái đang chờ mong Đấng Thiên Sai đến để lãnh đạo dân đánh
đuổi quân Rô-ma ra khỏi bờ cõi Do thái và thiết lập một Triều Đại
Mới, giống như triều đại của vua Đa-vít và vua Sa-lô-mon xưa. Nhưng thực
ra sứ mệnh cứu thế của Đức Giê-su không phải như dân Do thái đang trông
đợi.
Người là Đấng Thiên Sai nhưng
là ông Vua “Mục Tử tốt lành, hiền hậu và khiêm nhường”. Người đã xưng mình
là Vua trước mặt quan Tổng Trấn Phi-la-tô, khi hai tay đang bị trói, thân thể
bị đòn đánh tan nát; khi phải đứng trước tòa án như một tội nhân. Danh hiệu Vua
của Chúa Giê-su được ghi bằng dòng chữ viết tắt “INRI” gắn trên cây thập giá,
nghĩa là : “Giê-su Na-da-rét Vua dân Do thái”.
Đức Giê-su chính là Vua nhưng
không phải như một ông Vua trần tục, đòi được người khác hầu hạ, nhưng là ông
Vua Mục Tử Tốt Lành, hiền hậu và khiêm nhường :
- Là Vua Mục Tử : Người biết rõ đàn chiên, yêu
thương mọi con chiên và chăm sóc từng con, nhất là sẵn sàng đi tìm những con
đi hoang, băng bó những con bị thương tích, âu yếm và vác chúng trên vai mà đưa
về đàn. Ngày nay Người yêu thương đàn chiên Hội Thánh và yêu đến tột cùng, khi
thiết lập bí tích Thánh Thể để ở với Hội Thánh mọi ngày và trở nên lương thực
thần linh nuôi dưỡng Hội Thánh. Người cũng nêu gương khiêm nhường cho chúng
ta, và mời gọi chúng ta hãy học nơi Người sự hiền lành và khiêm nhường trong
lòng.
- Là Vua Hòa Bình : Người không ngồi trên ngựa chiến
uy quyền khải hoàn vào thành thánh Giê-ru-sa-lem, nhưng khiêm tốn ngồi trên con
lừa. Người đến không để kết án và trừng phạt tội nhân, nhưng để yêu
thương, tha thứ cho những tội nhân thực lòng sám hối ăn năn như tha tội
người trộm lành trên cây thập tự.
Người là Vua Mục Tử bảo vệ đàn
chiên và sẵn sàng chịu chết để cho chiên được sống và sống dồi dào.
Vậy chúng ta ngày hôm nay sẽ
làm gì để đáp lại tình thương vô biên của Vua Giê-su ?
+ Siêng năng cầu nguyện : Lý do Tông đồ Phê-rô sa ngã
và hèn nhát chối Thầy ba lần là vì quá tự tin vào sức riêng hơn tin
cậy vào ơn Chúa, đã ăn uống no say và không theo lời Thầy dạy :” Hãy tỉnh
thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ”.
+ Luôn vâng theo thánh ý Chúa
Cha : Khi gặp rủi ro, bệnh
tật và những điều trái ý cực lòng, chúng ta hãy xin vâng theo ý Chúa
Cha. Tránh đi coi bói toán, tin vào bùa phép và các thứ mê tín khác…
Hãy xin Chúa thêm sức mạnh giúp chúng ta chấp nhận những đau khổ không
thể tránh khỏi, coi đau khổ gặp phải như phương thế để đền tội mình và
góp phần cứu rỗi anh em.
+ Không cố tình phạm tội như Giu-đa, vì sẽ bị phạt chung
số phận với ma quỷ như lời Chúa phán : “Khốn cho kẻ nộp Con Người. Thà
nó đừng sinh ra thì hơn”.
+ Sẵn sàng tha thứ cho những ai có
lỗi với mình như lời kinh Lạy Cha dạy, noi
gương Chúa Giê-su đã tha thứ cho Phê-rô sau khi ông chối Thầy ba lần; hãy năng
cầu xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ làm hại mình noi gương Chúa Giê-su đã
xin Cha tha cho những kẻ làm khốn mình.
+ Luôn giữ bình tĩnh và dùng tình
thương để hoán cải kẻ thù, noi gương Chúa Giê-su đã ứng xử với Giu-đa khi anh ta hôn mặt để nộp
Người cho kẻ thù.
+ Kiên nhẫn chịu đựng khi bị
khích bác, noi gương Chúa Giê-su đã im lặng
chịu đựng trước những lời hò hét đả đảo của đám đông cuồng nộ.
+ Thực lòng sám hối và tin yêu Chúa noi gương kẻ trộm lành trên cây
thập tự khi trách bạn : “Mi chịu cùng một án, mà mi chẳng sợ Thiên Chúa
sao ? Phần chúng ta, bị như thế này là đích đáng, vì xứng với tội ta đã làm.
Còn ông Giê-su này đâu có làm điều gì xấu ?” và cầu xin Chúa Giê-su
: “Lạy ông Giê-su. Khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi cùng”. Chúa
Giê-su đã lập tức tha tội và ban ơn cứu độ cho anh khi phán: “Ta bảo thật. Ngay
hôm nay anh sẽ được ở trên Thiên Đàng với Ta”.
+ Quyết tâm loại trừ tính ghen tị, ganh ghét : Sau cùng, mỗi người chúng
ta hãy quyết tâm loại trừ tính ganh ghét những ai hơn mình, để tránh phạm thêm
tội ác khác như các đầu mục Do Thái xưa đã ganh ghét và giết hại Chúa Giê-su.
(St)
Suy niệm 6:
Chúa nhật Lễ Lá
hôm nay là cánh cửa mở ra tuần Thương Khó, kiể niệm lại cuộc thương khó của
Chúa Giê-su đã chịu vì tội lỗi của nhân loại và của mỗi chúng ta. Trong tuần
này Giáo Hội mời gọi chúng ta cùng nhau chia sẻ những đau khổ của Chúa Giê-su
đã chịu từ khi vào thành Giê-ru-sa-lem cho đến khi Ngài trút hơi thở cuối cùng
trên thập giá.
Nếu ai trong
chúng ta đã từng bị hiểu lầm, đã từng bị kết án cách bất công, hay đã hơn một
lần nếm mùi nhục nhã trước những người đã chịu ơn mình, nhưng bây giờ lại phản
bội, đấu tố hãm hại lại mình, thì mới cảm nhận được thế nào đau khổ trong tâm
hồn của Chúa Giê-su.
Mới đó, Ngài đã
được đặt trên mình lừa con tiến vào thành thánh Gierusalem và được dân chúng
cởi áo lót đường đi, được tung hô: “vạn tuế, vạn tuế”, và được
tuyên xưng là “Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến...” thật oai
hùng như một vị vua. Nhưng liền sau đó, Chúa Giê-su lại phải đau buồn đến nỗi
linh hồn Ngài phải chết được, vì thấy rằng chính những con người cầm những cành
lá tung hô vạn tuế Ngài trước đó, thì nay lại vung nắm tay la hét chống đối và
tố cáo Ngài trước tòa án Phi-la-tô: “đóng đinh nó vào thập giá”.
Khi suy gẫm về
cuộc thương khó của Chúa Giêsu, chúng ta, mới cảm nhận được nhân tình thế thái
là dường nào! Trách người không bằng trách mình, rất có thể chúng ta cũng đối
xử như thế đối với Chúa. Đó là khi chúng ta cũng hùa theo hiệu ứng của đám đông
la to hét lớn đòi đóng đinh Chúa của chúng ta vào thập giá mỗi khi chúng ta cố
tình phạm tội, hay không dám can đảm sống và làm chứng cho niềm tin của mình.
Chắc chắn khi ấy Chúa Giê-su rất đau khổ bởi vì Ngài nhìn thấy chúng ta đang
sống nhưng tâm hồn như đã chết, vì sa vào những cám dỗ của ma quỷ, thế gian và
xác thịt.
Trong suốt những
năm ở trần gian, Chúa Giê-su đã không ngừng thi ân giáng phúc cho những người
Do Thái, nhưng Ngài đã phí công vô ích, bởi lẽ những người mà Ngài đã hết lòng
yêu thương, ban ơn giáng phúc, giờ đây lại nhẫn tâm kết án tử cho Ngài. Nhưng
Ngài lại không oán hận, bởi Ngài tin chắc rằng với máu Ngài đổ ra, với những
cực hình mà Ngài phải chịu, và với cái chết nhục nhã trên thập giá, Ngài sẽ cứu
chuộc chúng ta là những người đang sống nhưng tâm hồn đã chết, sẽ cùng được
sống lại với Ngài.
Bài Thương Khó
mà chúng ta vừa nghe, đã khiến cho nhiều tâm hồn tội lỗi trở lại đường ngay nẻo
chính, nó cũng đã đánh động nhiều tâm hồn kiêu ngạo chỉ biết kết án tha nhân
giờ biết khiêm tốn kết án chính mình.
Trong Tuần Thánh này chúng ta học
hỏi Chúa Giê-su những bài học cao quý sau: không oán trách người hiểu lầm mình,
không trả thù những kẻ vô ơn, không giận ghét người bạc nghĩa, không nói xấu
người chỉ trích mình.v.v... đó những là việc làm tích cực nhất của chúng ta cần
phải thể hiện trong đời sống thường ngày để xoa dịu nỗi đau của Chúa phãi chịu
và chúng ta, và đó cũng chính là tâm tình cần phải có của mỗi chúng ta vì chúng
ta được mang danh của Ngài, là kitô hữu trong ngày lãnh nhận bí tích rửa tội.
(St)
Thứ hai: Is 42, 1-7; Ga 12, 1-11
Ai là mẹ tôi? Ai là anh em
tôi?...Ai thi hành ý muốn Cha tôi,…người ấy là anh chị em tôi, là mẹ
tôi.” (Mt
12,48-49). Gia đình của Chúa là gia đình đức tin. Người thân của Chúa
là những ai yêu mến và sống Lời Chúa. Gia đình Bêtania là gia đình
đức tin vì mỗi người trong gia đình này đều thể hiện niềm tin của mình cách
tích cực với hết khả năng của mình. Do đó họ xứng đáng là anh chị em của Chúa
và được Chúa yêu thương.
Xin cho mỗi thành viên trong gia
đình chúng ta, biết yêu Chúa với hết lòng qua những việc làm cụ thể trong
tuần thánh này, để xứng đáng là gia đình đức tin.
Tin mừng hôm nay thuật lại việc
Chúa Giêsu đến làng Bêtania, (cách Giêrusalem độ chừng 3km) để dùng bữa cơm tối
tại nhà La-da-rô, người được Chúa Giêsu cho sống lại.
Trong bữa ăn tối thân tình này,
ta nhận ra một mẫu gia đình cần phải có để xứng đáng hưởng ơn cứu độ
của Chúa.
- Mác-ta: Vốn là con người năng động “lăng
xăng nhiều việc”. Hôm nay lại đuợc Chúa Giêsu viếng thăm và ở lại dùng bữa.
Trong tâm tình biết ơn, vì Chúa đã cho La-da-rô em mình sống lại nên đã chuẩn
bị bữa tiệc chu đáo thết đãi Chúa.
- Maria: Tin Mừng cho biết là người thích
ở bên chân Chúa để nghe Chúa dạy bảo. Cô cũng là cô gái tội lỗi đi tìm Chúa và
gặp Chúa đang dự tiệc tại nhà ông Si-mon. Cô mang đến một cái bình bằng đá ngọc
quý, đựng nước hoa hảo hạng, cô đến quỳ bên chân Chúa rồi đập cả bình để đổ hết
nước hoa trên chân Chúa, khiến cả nhà thơm ngào ngạt, rồi cô lấy tóc mà lau.
Tin mừng hôm nay thánh Gioan cho biết, vì lòng yêu mến Chúa nên cô đã lấy một
cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá mà xức chân Chúa Giêsu, rồi lấy
tóc mà lau. Cả nhà sực mùi thơm.
- La-da-rô: Người được Chúa thương, được Chúa
cho sống lại. Anh là chứng nhân sống động cho mọi người tin Chúa. Anh được ngồi
đồng bàn cùng với Chúa.
Một gia đình có ba người, mỗi con
người mỗi tính cách, mỗi người thể hiện tình yêu của mình nơi Chúa Giêsu mỗi
cách thế khác nhau:
- Mác-ta, không ngại vất vả làm
việc nhiệt tâm để lo bữa ăn chu đáo cho Chúa và các môn đệ.
- Ma-ri-a, không sợ tốn hao tiền
của vì Chúa. Cô không ngại thể hiện mọi cử chỉ khiêm tốn nhất, để nói lên lòng
kính yêu Chúa.
- La-da-rô, người được gọi là bạn
của Chúa Giêsu. Anh được Chúa thương mến cho sống lại. Trong bữa tiệc, anh được
ngồi bên Chúa. Chứng tỏ anh cũng đã yêu Chúa hết lòng.
Một gia đình toàn những con người
chân tình, hết lòng yêu thương Chúa thì làm sao Chúa không thương mến.
Xin cho mọi gia đình Công giáo,
biết bắt chước mẫu gương của gia đình Bê-ta-ni-a hết lòng yêu mến Chúa. Sẵn sàng
hy sinh làm tất cả vì tình yêu Chúa. Nhất là trong tuần thánh này biết sẵn sàng
hy sinh thời giờ, công việc riêng, để sống thân tình với Chúa qua việc tham dự
đầy đủ và tích cực các nghi thức phụng vụ. Đồng thời cũng sẵn sàng hy sinh cả
tiền của, công sức để góp phần vào việc tổ chức các nghi lễ trong tuần thánh
được trang trọng nơi giáo xứ mình.
Thứ ba: Is 49, 1-6; Ga 13, 21-33.36-38
Xã hội xưa nay đều lên án những
kẻ phản bội, bất trung. Ai cũng đều căm ghét những kẻ “ăn cháo đá bát”. Nhưng
bất trung và phản bội vẫn tồn tại trong xã hội con người, rất có thể trong đó
có cả chúng ta. Xin cho ta được lòng trung thành tin yêu Chúa.
Thiên Chúa là “Tình Yêu” nên khi
tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa thì Người đã muốn cho con người sống yêu
thương nhau “như Chúa yêu”. Nên có thể nói tình yêu chính là
bản chất cốt yếu nhất làm nên con người. Nhưng tình yêu lại thiêng liêng nhiệm
mầu nên cần có những dấu chỉ để biểu tỏ. Mà một trong những dấu chỉ căn bản để
biểu tỏ tình yêu chính là lòng “trung tín”.
Thế nhưng, trong thời
đại hôm nay, hai chữ “trung tín” hình như đã xuống cấp trầm trọng, ngay trong
đời sống hôn nhân và gia đình trước nay vốn dĩ được xem là thành trì vững
chắc nhất, bất khả xâm phạm, vậy mà cũng bị rạn nứt và đỗ vỡ. Có nhiều nguyên
nhân gây nên sự đỗ vỡ trong đời sống hôn nhân và gia đình, nhưng có lẽ nguyên
nhân lớn nhất vẫn là vì con người ngày nay quá đề cao cái tôi của mình, say mê
tiền bạc và thích chạy theo danh vọng. Từ đó đưa đến sự bất trung với nhau, gây
ra đau khổ và bất ổn trong đời sống gia đình và xã hội.
Tin mừng hôm nay cho biết, cũng
vì quá đam mê tiền bạc và chạy theo theo danh vọng mà tông đồ Giu-đa
Ít-ca-ri-ốt đã xa dần tình yêu Chúa, để rồi cuối cùng ông đã nhẫn tâm bán đứng
Thầy mình.
Bằng cử chỉ “chấm chung” chén,
vốn dĩ là cử chỉ thể hiện tình yêu, nhưng với Giu-đa thì đó lại là “cái
chấm dối trá” của sự phản bội.
Sự phản bội của tông đồ Giu-đa
đáng bị lên án và trừng phạt đích đáng. Tuy nhiên khi lên án ông ta, chúng ta
cũng cần nghĩ đến bản thân mình. Rất có thể chúng ta cũng trở thành kẻ phản bội
Chúa giống như Giu-đa nếu chúng ta cố tình loại bỏ TC ra khỏi cuộc đời của mình
để nhắm mắt chạy theo sức hấp dẫn của tiền bạc, của cải, danh vọng và lạc thú.
Xin Chúa thương tha thứ vì những
lần chúng ta đã phản bội lại Chúa. Nguyện xin Chúa ban thêm tình yêu vào tâm
hồn chúng ta, để chúng ta luôn biết sống trung tín với Chúa và luôn trung thành
với nhau trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.
Thứ tư: Is 50,
4-9a; Mt 26, 14-25
Suy niệm 1:
Bài tin mừng hôm nay cũng gần
giống bài tin mừng hôm qua, thuật lại những tình tiết diễn ra của bữa tiệc ly.
Nhưng Tin mừng hôm nay nhấn mạnh đến nỗi buồn của Chúa Giêsu khi biết Giuđa là
kẻ phản bội. Chúa cũng sẽ rất buồn nếu ta phạm tội phản bội lại tình
thương của Người.
Nhân loại chúng ta vừa trải qua
cơn đại dịch đại dịch Covid-19 trong lo sợ và đau buồn. Bởi lẽ đại dịch này đã
gây ra biết bao tổn thất về kinh tế, sức khỏe và cướp đi rất nhiều mạng sống
con người.
Tin mừng hôm nay cũng diễn tả nỗi
buồn xé lòng của Chúa Giêsu khi phải chứng kiến người môn đệ thân tín của mình
là Giuđa Ítcariô đã bị lây nhiễm bởi loại Virus độc hại, đó là Virus của tiền
bạc và danh vọng. Loại Virus này tuy không gây tổn thương đến hai lá phổi,
nhưng lại làm xơ cứng con tim, khiến cho ông mất đi cả nhân tính khi nhẫn tâm
phản bội lại người Thầy đã hằng tin tưởng yêu mến ông hết lòng.
Dẫu biết Giuđa phản bội, nhưng
Chúa Giêsu vẫn một lòng yêu thương ông cho đến cùng. Trong bữa tiệc ly, Người
đã dùng những cử chỉ và lời nói nhẹ nhàng, tế nhị nhằm thức tỉnh Giuđa từ bỏ ý
định đen tối. Nhưng vì quá đam mê chạy theo mục đích cá nhân nên ông không còn
lắng nghe được tiếng Thầy. Thế là ông đã quyết định nộp Thầy mình với giá 30
đồng. Thật đau buồn biết bao!
Người đời thường nói: “Nỗi đau
lớn nhất không phải vì biết được sự phản bội của người thân mà là vì phải
tiếp tục yêu thương họ.” Đúng vậy, Giuđa là người môn đệ được Đức Giêsu
tín nhiệm và yêu thương ông hết lòng. Vậy mà giờ đây ông lại nhẫn tâm phản bội
lại tình nghĩa Thầy trò. Dẫu vậy, nhưng Chúa Giêsu vẫn tôn trọng quyền tự do
của ông và tiếp tục yêu thương ông cho đến cùng. Đúng là “Phúc bất trùng
lai, họa vô đơn chí ”. Nỗi đau chồng chất nỗi đau!
Đạo lý Việt Nam chúng
ta thường coi hành động lừa thầy phản bạn là một tội ác về luân lý, không thể
dung thứ. Nhưng với Chúa Giêsu thì lại không bao giờ thất vọng về con người.
Cho dẫu con người chúng ta xấu xa và tội lỗi tới đâu đi nữa, thì tình yêu Chúa
đối với ta không hề suy giảm đổi thay. Người vẫn yêu thương và sẵn sàng tha thứ
cho ta nếu chúng ta biết ăn năn sám hối.
Xin Chúa cho chúng ta biết cảm
nếm được nỗi đau chồng chất mà Chúa Giêsu phải chịu vì tội lỗi chúng ta. Và
mong sao cho tất cả chúng ta đừng có ai mắc phải lỗi lầm của Giuđa là phản bội
lại tình yêu Chúa.
Suy niệm 2:
Tin Mừng hôm nay cho
ta thấy được tấm lòng của Chúa Giêsu dành cho Giuđa trước
khi ông phản bội Ngài.
Chúa Giêsu đau
buồn: “Kẻ giơ tay cùng chấm dĩa với Thầy, đó chính là kẻ nộp Thầy” (Mt
26,23).
Ngài tiếc
xót: “Khốn cho kẻ nộp Con Người. Thà kẻ đó đừng sinh ra còn hơn” (Mt
26,24). Các nhà chú giải bảo đừng dựa vào câu này để nói Chúa Giêsu muốn nguyền
rủa Giuđa. Thực ra, Ngài đang nói theo giọng điệu của những bài ai ca.
Ngài vẫn tôn
trọng: vừa trả lời thẳng cho Giuđa biết hắn là kẻ phản bội, vừa kín
đáo không nói lớn kẻo người khác biết lòng dạ hắn.
Chúng ta hãy dừng lại
một chút để suy gẫm về trường hợp của Giuđa và nhận thấy rằng: phạm tội là cả
một quá trình đi từ nhẹ tới nặng.
Truyện: Có một câu
truyện ngụ ngôn kể rằng: Lúc ông Noe trồng nho, Satan tò mò để ý và mon men đến
gạ chuyện.
- Ông trồng gì đấy?
- Cây nho.
- Thế, trồng nho thì
được cái gì?
- Trái nho trông rất
đẹp mắt, ăn vào ngon tuyệt, còn nước ép lên men sẽ làm ngây ngất tâm hồn.
- Vậy thì tôi sẽ giúp
ông.
Satan đi bắt một con
chiên, giết đi và đổ máu nó vào gốc cây nho. Hắn cũng giết một con sư tử, một
con khỉ và một con heo, rồi cũng đổ hết máu những con vật ấy vào gốc cây nho.
Cây nho hút hết những thứ ấy mà lớn lên.
Từ khi đó, mỗi lần
người ta uống một chút rượu, họ trở nên hiền lành và duyên dáng như con chiên.
Nếu tăng “đô” lên, họ sẽ mạnh mẽ và hung hăng như sư tử. Nếu cứ thế tiếp tục,
họ sẽ trở nên ngổ ngáo, vô tư múa nhảy như con khỉ. Và nếu, chẳng may, không chịu
dừng ở đó, thì kết cuộc họ sẽ không khác gì như con heo (Frech Legend).
Không ai phạm tội
trọng trong một sớm một chiều. Phạm tội là cả một quá trình từ nhẹ tới nặng, do
để mình bị khống chế bởi những giá trị trên thế gian mà bưng tai bịt mắt trước
những lời mời gọi và nhắc nhở âm thầm của Chúa.
Trường hợp Giuđa
Iscariot là một ví dụ. Ông đã được Chúa Giêsu yêu thương gọi làm môn đệ, chọn
làm tông đồ; hắn còn được Chúa tín nhiệm giao giữ tiền; nhưng đồng tiền đã dần
dần kống chế hắn (xem bài Tin Mừng ngày thứ hai: “Y giữ túi tiền và
thường lấy cho mình những thứ người ta bỏ vào quỹ chung” (Ga12,6).
Chúa Giêsu đã nhiều lần tế nhị đánh thức lương tâm hắn, nhưng hắn cũng không
hồi tâm. Cuối cùng hắn đã đi ra lao mình vào bóng đêm.
Xin Chúa đừng để
chúng ta sống trong sự tự mãn mà mù quáng và cũng đừng để chúng ta sa vào những
lợi lộc vật chất mà chống lại lời nhắc nhở của Chúa. Nhưng xin cho chúng ta
biết noi gương thánh Phaolô tông đồ biết khiêm tốn nhận ra những lầm lỗi của
mình mà quay về với Chúa và dùng phần còn lại của cuộc đời mình để cộng tác
chặt chẽ với ơn Chúa, đến độ có thể nói như ngài: “Nhờ ơn Chúa tôi được như
ngày nay. Ơn Chúa đã không trở nên vô ích nơi tôi. Ước được như
vậy!”. (St)
* TÌM HIỂU THÊM: Mt
26, 14-25
1. Giu-đa nộp Đức Giê-su (Mc
14: 10 -11; Lc 22: 3-6)
14 Bấy giờ, một người trong
Nhóm Mười Hai tên là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, đi gặp các thượng tế15 mà
nói: "Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao
nhiêu. "Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc.16 Từ
lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giê-su.
Họ quyết định cho hắn ba mươi
đồng bạc
Giá hợp đồng là 30 quan tiền, là
giá bán của một người nô lệ theo luật cũ đã quy định (Xh
21,32) Nếu bò húc tôi tớ nam nữ, thì người ta sẽ đưa cho chủ của nạn nhân
ba mươi đồng bạc.
Qua đoạn Tin Mừng này
Thánh Matthêu cho thấy, chính Thiên Chúa bị dân người ruồng bỏ. Đức Giêsu Ngôi
Hai Thiên Chúa bị người ta rao bán với giá của một tên nô lệ.
2. Chuẩn bị ăn lễ Vượt Qua
(Mc 14: 12 -16; Lc 22: 7-13)
17 Ngày thứ nhất trong tuần
bánh không men, các môn đệ đến thưa với Đức Giê-su: "Thầy muốn chúng con
dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu? "18 Người bảo:
"Các anh đi vào thành, đến nhà một người kia và nói với ông ấy: "Thầy
nhắn: thời của Thầy đã gần tới, Thầy sẽ đến nhà ông để ăn mừng lễ Vượt Qua với
các môn đệ của Thầy."19 Các môn đệ làm y như Đức Giê-su đã
truyền, và dọn tiệc Vượt Qua.
3. Đức Giê-su tiên báo
Giu-đa sẽ nộp Thầy (Mc 14: 17 -21; Lc 22: 21 -23; Ga 13: 21 -30)
20 Chiều đến, Đức Giê-su vào
bàn tiệc với mười hai môn đệ.21 Đang bữa ăn, Người nói:
"Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy."
20 Chiều đến, Đức Giê-su vào
bàn tiệc với mười hai môn đệ.21 Đang bữa ăn, Người nói:
"Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy."
22 Các môn đệ buồn rầu quá
sức, lần lượt hỏi Người: "Thưa Ngài, chẳng lẽ con sao? " 23 Người
đáp: "Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy.24 Đã
hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp
Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn! "25 Giu-đa, kẻ nộp
Người cũng hỏi: "Ráp-bi, chẳng lẽ con sao? " Người trả lời:
"Chính anh nói đó! "
- Diễn biến của các
sự việc trên đây: Việc mượn nhà của một người thân quen và việc tiên
báo Giuđa sẽ nộp Người, chứng tỏ Rabbi Giêsu biết rõ mọi chuyện sẽ xảy đến cho
mình.
- Chấm chung một
đĩa với thầy câu nói này gợi lại Thánh Vịnh 41 câu 10 “10 Cả
người bạn thân con hằng tin cậy, đã cùng con chia cơm sẻ bánh, mà nay
cũng giơ gót đạp con!”.
Ở đây Đức Giêsu không chỉ rõ là
ai, nhưng Ngài muốn tỏ bày nỗi niềm chua xót: Một người đã cùng chia sẻ cuộc
sống thân thiết với mình hằng ngày, và giờ đây đang cùng ăn với mình, bề ngoài
có vẻ hiệp thông, nhưng trong lòng thì rấp tâm phản bội.
- Khốn cho người
nào nộp Con Người: chữ khốn ở đây cho thấy trước tình trạng
khốn nạn của Giuđa: Một con người tuyệt vọng. Sự tuyệt vọng có thể dẫn đưa con
người, hoặc hoá điên, hoặc tự sát. Giuđa rồi đây sẽ chọn con đường thứ hai này.
Rabbi Giêsu không nguyền rủa cũng chẳng lên án Giuđa, nhưng chỉ thương hại đến
thân phận của kẻ phản bội với một kết thúc bi thảm.
Gm. Stêphanô Tri Bửu Thiên
Thứ năm: Xh 12,
1-8.11-14; 1Cr 11, 23-26; Ga 13, 1-15
Dẫn 1:
Anh chị em thân mến, ba ngày: thứ
năm, thứ sáu và thứ bảy Tuần Thánh được gọi là Tam Nhật Vượt Qua và là đỉnh cao
của năm phụng vụ.
Trong thời gian cao điểm này,
được bắt đầu bằng Thánh lễ Tiệc Ly chiều hôm nay, nhằm nhắc lại việc Chúa Giêsu
lập Bí tích Thánh Thể và trao ban thánh chức Linh mục và truyền dạy giới luật
yêu thương.
Mỗi khi chúng ta hiệp dâng Thánh
Lễ là mỗi lần chúng ta hiện tại hóa hy tế thập giá của Chúa Giêsu trên đồi
Golgotha xưa.
Giống như các tông đồ năm xưa
trong phòng tiệc ly, chiều hôm nay chúng ta cũng vây quanh bên Chúa
Giêsu bên bàn tiệc Thánh Thể. Xin Chúa cho chúng ta có cùng một tâm tình,
cùng một đức tin và cùng một lòng mến như các tông đồ xưa, với mong muốn cảm
nếm được tình Chúa yêu ta là dường nào.
Dẫn 2:
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,
Chiều nay, cùng với Giáo Hội hoàn
vũ, chúng ta bước vào Tam Nhật Vượt Qua, ba ngày thánh thiêng tưởng niệm cuộc
khổ nạn, sự chết và phục sinh vinh hiển của Chúa Giêsu Kitô, trung tâm của đời
sống đức tin của chúng ta.
Trong Thánh lễ Tiệc Ly chiều hôm
nay, chúng ta tưởng niệm ba mầu nhiệm cao cả:
- Thứ nhất, Chúa Giêsu
thiết lập Bí tích Thánh Thể, trao ban chính Mình và Máu Ngài làm lương thực
nuôi sống linh hồn nhân loại.
- Thứ hai, Ngài thiết lập
chức linh mục thừa tác, để qua các linh mục, Bí tích Thánh Thể tiếp tục
được cử hành giữa lòng Hội Thánh.
- Và thứ ba, Ngài để lại
giới răn yêu thương, qua hành vi rửa chân khiêm hạ cho các môn đệ, như một
lệnh truyền sống động cho những ai muốn đi theo Ngài.
+ Với chủ đề mục vụ của năm nay
là: "Cùng nhau loan báo Tin Mừng hy vọng của Chúa
Giêsu". Chiều nay, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm tình yêu hy
sinh của Đấng Cứu Thế, để từ đó, chúng ta được mời gọi ra đi để loan báo Tin
Mừng cứu độ, mang ánh sáng hy vọng đến cho thế giới đang chìm trong bóng tối
của chia rẽ, ích kỷ và tuyệt vọng.
Xin cho mỗi người chúng ta, khi
cùng nhau cử hành Thánh lễ này, biết mở rộng tâm hồn đón nhận tình yêu cứu độ
của Đức Kitô, và can đảm trở nên chứng nhân sống động cho Tin Mừng hy vọng nơi
gia đình, cộng đoàn và giữa lòng xã hội hôm nay.
Định luật tình yêu dạy cho ta
hiểu rằng: yêu ai thì muốn ở gần người đó, yêu ai thì muốn hy sinh phục vụ
cho người đó, yêu ai thì muốn trở nên một với người mình yêu. Tình yêu ấy
được biểu tỏ cách rất cụ thể nơi Đức Giêsu qua bài trình thuật Tin mừng hôm
nay:
- Yêu ai thì muốn ở gần người đó
“Ngài đã yêu thương những kẻ
thuộc về mình còn ở thế gian; và Ngài yêu thương họ đến cùng.” (Ga 13,1). “Đức Giêsu biết giờ
của người đã đến”, thời gian mà Người phải lìa bỏ thế gian
mà trở về cùng Thiên Chúa Cha.
Khoảng thời gian còn lại không
bao nhiêu nên Ngài muốn tận dụng thời điểm mừng đại lễ vượt qua của người Do
Thái để tổ chức bữa tiệc với các môn đệ theo đúng luật định, vừa để tranh thủ
giờ phút ngắn ngủi trong phòng tiệc ly ấm cúng để được ở bên các môn đệ yêu dấu
của Ngài.
Thánh Gioan cho biết Đức Giêsu đã
ao ước mãnh liệt được dùng bữa ăn này với các môn đệ vì đây là bữa tiệc cuối
cùng. Trong bữa tiệc, Chúa Giêsu đã không ngại lên tiếng bộc lộ những tâm tình
sâu kín về lòng yêu thương của Ngài dành cho các môn đệ. Ngài gọi họ bằng những
lời lẽ đầy thân thương: “những người con bé nhỏ của Thấy”. Lòng bên
lòng, Chúa Giêsu giãi bày tâm sự vừa thắm thiết vừa đượm chất u buồn. Nhưng
vượt trên hết là linh cảm về cái chết, với những lời tiên báo về sự phản bội, bỏ
rơi, sự hy sinh mà Ngài phải chịu. Cuộc trao đổi thân tình dần dần đi đến kết
thúc, trong khi những lời của Chúa Giêsu vẫn tiếp tục tuôn ra một cách dịu
dàng và cuốn hút, mặc dù có một chút căng thẳng khác thường ẩn trong những lời
ám chỉ nghiêm trọng của Ngài giữa sự sống và sự chết. Tất cả những gì mà Chúa
Giêsu thể hiện trong bữa tiệc ly là muốn được ở bên các môn đệ cách thân tình
nhất, để Ngài thể tình yêu của Ngài.
- Yêu nhau là sẵn sàng hy sinh
phục vụ
Yêu thương bằng lời thì có thể
coi là đầu môi trót lưỡi, yêu thương bằng thái độ có thể bị coi là giả hình.
Chỉ có yêu thương bằng hành động mới là tình yêu chân thực. Chúa Giêsu không
chỉ dạy các môn đệ của Ngài : “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy yêu
thương chúng con” mà Chúa Giêsu còn thể hiện tình yêu cụ thể bằng cách
cúi xuống để rửa chân cho các môn đệ. Ngài không ngần ngại cởi bỏ chiếc áo
cao sang của Thiên Chúa; nhận lấy chiếc áo của phận người tôi đòi để cúi xuống
rửa chân cho các môn đệ. Rửa chân xong, Chúa Giêsu ngồi vào bàn tiệc và dạy cho
các môn đệ về bài học yêu thương bằng cách phục vụ trong khiêm
tốn: “Anh em gọi Thầy là “Thầy, là “Chúa, điều đó phải lắm.
Vậy Thầy là Thầy, là Chúa mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa
chân cho nhau.”
Bằng hy sinh khiêm tốn phục vụ,
người ta đo lường được sự chân thành và mức độ của tình yêu.
- Yêu nhau người ta muốn nên một
với người mình yêu
Khi Yêu nhau người ta không dừng
ở việc phục vụ trong hy sinh, nhưng người ta còn muốn nên một với người mình yêu
vì mình với ta tuy hai mà một mà. Vì lẽ đó, Chúa Giêsu đã lập Bí Tích Thánh
Thể, biến bánh thành Thịt và rượu thành Máu Người để ở lại mãi với người mình
yêu.
Người đời trước khi đi xa, xưa
nay thường để lại cho người thân bằng những kỉ vật, bằng của hồi môn quý giá.
Đối với Chúa Giêsu những kỉ vật những của hồi môn dù cho quý giá mấy cũng tầm
thường, không đủ nói lên hết tấm lòng yêu thương của Chúa dành cho nhân loại.
Nên Chúa muốn dùng kỉ vật hết sức đặc biệt và cao trọng nhất, đó chính bản thân
Chúa. Nhưng bản thân bằng xường thịt của Chúa chỉ có thể trao ban một lần,
không thể trao ban mãi. Vì thế, Chúa muốn lưu lại bản thân Ngài bằng hình thức
nhiệm mầu dưới hình bánh và rượu làm của ăn của uống thiên liêng dưỡng nuôi
linh hồn ta. Làm như thế Chúa muốn ở lại với các tông đồ và với chúng ta luôn
mãi. Đồng thời qua việc kết hiệp với Mình Chúa, Chúa lưu truyền sự sống của
Ngài trong thân thể và trở nên một trong chúng ta.
Để thể hiện yêu thương các môn đệ
đến cùng, Chúa Giêsu còn muốn các môn đệ trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài
và là hiện thân của Ngài giữa trần gian. Vì thế Chúa Giêsu trao ban thánh chức
linh mục cho các môn đệ “các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.
Trong thánh lễ, nhờ việc đặt tay trên bánh rượu và đọc lời truyền phép như Chúa
Giêsu đã làm trong bữa tiệc ly, Chúa sẽ hiện diện nơi hình bánh rượu ấy, trở
nên của ăn bổ dưỡng thân xác nuôi sống linh hồn cho những ai đón nhận Ngài, bởi
thế Chúa trở nên một với chúng ta.
Tham dự cử hành nghi thức rửa
chân và thánh lễ chiều thứ năm hôm nay, ước gì giúp ta hiểu được bài học khiêm
tốn phục vụ và tình thương đến cùng mà Chúa dành cho chúng ta. Xin cho chúng ta
cảm nhận sâu sắc tình Chúa mà nỗ lực hết sức mình để đáp lại tình Chúa yêu
thương bằng đời sống gắn bó thân tình với Chúa; bằng những hy sinh phục vụ quên
mình vì Chúa và tha nhân, nhất là luôn biết gắn kết với Chúa nơi Bí Tích Thánh
Thể để Chúa ở lại trong ta và ta được sống trong Chúa bằng chính tình yêu viên
mãn của Ngài. Amen.
CẦU NGUYỆN TRƯỚC THÁNH THỂ
Mẫu 1: KHI YÊU NGƯỜI TA MUỐN NÊN
MỘT VỚI NHAU
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Khi yêu nhau người ta không dừng
lại ở việc phục vụ trong hy sinh, nhưng người ta còn muốn nên một với người
mình yêu : “mình với ta tuy hai mà một” là thế! Vì lẽ đó, Chúa đã lập Bí Tích
Thánh Thể, biến bánh thành Thịt và rượu thành Máu Chúa để ở lại mãi với chúng
con, những người được Chúa yêu.
Người đời trước khi đi xa, xưa
nay thường để lại cho người thân mình những kỉ vật quý giá. Đối với Chúa những
kỉ vật quý giá mấy cũng chỉ là tầm thường, không đủ nói lên hết tấm lòng yêu
thương Chúa dành cho nhân loại chúng con. Thế nên, Chúa đã dùng cách thức hết
sức đặc biệt và cao trọng, đó chính thân thể rất thánh của Người để trao ban
cho chúng con. Nhưng thân thể bằng xương thịt của Chúa cũng chỉ có thể trao ban
một lần chứ không thể nào trao ban và ở lại mãi với chúng con. Vì thế, Chúa
muốn lưu lại bản thân Ngài bằng hình thức nhiệm mầu dưới hình bánh và hình rượu
làm của ăn của uống thiêng liêng dưỡng nuôi linh hồn chúng con. Làm như thế Chúa
muốn ở lại với các tông đồ và với chúng con luôn mãi. Nhờ việc kết hiệp mật
thiết với Mình và Máu Chúa, mà sự sống bất diệt của Chúa được tuôn chảy và lưu
lại dồi dào trong thân thể chúng con vì Chúa đã trở nên một trong chúng con.
Để thể hiện tình thương với các
môn đệ cho đến cùng, Chúa còn muốn các môn đệ trở nên đồng hình đồng dạng với
Ngài, trở nên hiện thân của Ngài giữa trần gian, Chúa còn trao ban thánh chức
linh mục cho các môn đệ khi phán rằng: “các con hãy làm việc này mà nhớ
đến Thầy”. Vì thế mà trong mỗi thánh lễ, khi linh mục đặt tay trên
hình bánh và hình rượu rồi đọc lời truyền phép như Chúa Giêsu đã làm trong bữa
tiệc ly, thì lập tức hình bánh hình rượu ấy trở nên Mình và Máu Chúa. Cho nên
những ai đón nhận Mình và Máu Chúa thì sẽ được Chúa bổ dưỡng thân xác nuôi
sống linh hồn vì có Chúa ở cùng.
Tham dự cử hành nghi thức Rửa
Chân và Thánh Lễ chiều thứ năm hôm nay, ước gì chúng ta hiểu được bài học khiêm
nhường phục vụ đến cùng mà Chúa Giêsu đã dành cho chúng ta. Xin cho chúng ta
cảm nhận được sâu sắc tình Chúa yêu ta mà nỗ lực hết mình đáp lại tình Chúa yêu
thương bằng cách gắn bó mật thiết với Chúa; sẵn sàng chấp nhận hy sinh để phụng
sự Chúa và phục vụ anh em hết mình như tình Chúa yêu ta; nhất là biết siêng
năng tìm đến Chúa nơi bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể, với mong muốn được Chúa ở
lại trong ta và ta được sống trong Chúa mỗi ngày sâu xa hơn. Amen.
Mẫu 2: SÁNG
KIẾN CỦA TÌNH YÊU
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, chính
vì biết giờ của Chúa đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa
Cha. Nhưng vì Chúa yêu thương quá đổi những kẻ thuộc về
mình còn ở thế gian, nên Chúa đã có những sáng kiến thật kì diệu để
minh chứng cho tình yêu của Chúa dành cho nhân loại chúng con qua
việc: Thiết lập BTTT, trao ban chức LM thừa tác và truyền dạy giới luật
Yêu Thương.
- Thiết lập nên bí
tích Thánh Thể: Đây là sáng kiến độc nhất vô nhị trong toàn thể vũ trụ này. Chỉ
một mình Chúa với tình yêu thương tận cùng mới có thể nghĩ ra cách
thức để được ở lại với nhân loại chúng con. Cách thức này gọi là tình
yêu hiến mình.
- Trao ban chức Linh Mục thừa
tác: Cũng chính trong tình
yêu, Chúa đã thông ban thánh chức Linh Mục cho một số người do Chúa
tuyển chọn, với mục đích duy trì sự hiện diện của Chúa ở trần gian và
thay mặt Chúa ban phát Mình và Máu Chúa để nuôi sống chúng con trên đường
lữ thứ trần gian. Cách thức này gọi là tình yêu trao ban.
- Truyền dạy giới luật yêu
thương: Cuối
cùng với hành động quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ như một
người đầy tớ phục vụ cho chủ mình, Chúa như muốn để lại cho các môn
đệ và mỗi người chúng ta bài học tuyệt đẹp về việc hy sinh phục vụ khiêm
tốn và vô vị lợi. Cách thức này được gọi là yêu thương đến cùng.
Lạy
Chúa Giêsu Thánh Thể, đứng trước tình yêu hiến mình, trao ban
và phục vụ đến tận cùng của Chúa, xin cho chúng con cũng biết tích cực
đáp lại tình yêu của Chúa trong hy sinh hiến mình, trong trao ban phục
vụ bằng một tình yêu vô vị lợi theo gương Chúa. Cách đặc biệt xin cho chúng
con cảm nhận được nỗi buồn vô hạn của Chúa trong đêm nay trong vườn dầu để
chúng con dám can đảm tạm gác lại mọi công việc bộn bề trong cuộc sống mà quảng
đại hy sinh thời giờ đến với Chúa để “thức với Chúa một giờ” trong đêm hôm
nay. Amen.
Mẫu 3: YÊU ĐẾN CÙNG
Kính lạy Chúa Giêsu Thánh
Thể,
Trước lễ Vượt Qua, Chúa biết giờ
của Chúa đã đến gần, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Nhưng vì yêu
thương những kẻ thuộc về Chúa còn ở thế gian, và muốn yêu thương họ đến cùng. (x.
Ga 13,1). Nên trong bữa tiệc ly, Chúa đã có những sáng kiến thật bất ngờ là
thiết lập Bí Tích Thánh Thể, trao ban thánh chức linh mục và truyền dạy giới
luật yêu thương.
Người đời cho rằng, yêu thương
thì phải làm những điều tốt đẹp cho người mình yêu, dẫu mình phải chịu
nhiều thiệt thòi và gian khổ. Tình yêu Chúa dành cho chúng con còn vượt xa hơn
thế. Chúa không chỉ làm mọi điều tốt lành cho chúng con mà Chúa còn gánh lấy
tất cả những đau khổ vì chúng con và sẵn sàng hy sinh và hiến dâng mạng sống mình
cho chúng con được sống và sống dồi dào.
- Với tình yêu sáng tạo: Chúa đã dựng nên chúng con
giống hình ảnh của Chúa, và muôn loài muôn vật cho chúng con hưởng dùng.
- Với tình yêu cứu chuộc: Chúa đã chấp nhận trở nên
người tôi tớ đau khổ để gánh lấy hết mọi tội lỗi cho chúng con, sẵn sàng chịu
đóng đinh vào thập tự giá (x. Is 52,14-15), và chết đi để giải thoát chúng con
khỏi tội lỗi và cái chết đời đời.
- Với tình yêu thánh hóa: Vì muốn ở lại mãi với
chúng con cho đến ngày tận thế, nên trong bữa tiệc ly, Chúa đã thiết lập nên bí
tích Thánh Thể, trao ban thánh chức linh mục, để qua đó Chúa hiện diện, đồng
hành và ban ơn giúp sức chúng con tiến bước trên con đường theo Chúa.
- Sau hết, vì muốn tất cả chúng
con hiệp hành bước theo Chúa trên con đường tình, nên Chúa đã trao ban cho
chúng con giới luật yêu thương mới: “là anh em hãy yêu thương nhau; như
Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).
Sự mới mẻ của giới luật ấy chính
là “yêu thương như Chúa đã yêu.” Nghĩa là tình yêu của chúng con
phải gập theo tình yêu của Chúa. Tình yêu của Chúa phải là khuôn mẫu và nền
tảng cho tình yêu của chúng con. “Yêu như Chúa yêu” không chỉ
dừng lại ở lý trí, cảm xúc hay ở đầu môi chót lưỡi mà đòi buộc chúng con phải
thể hiện bằng những hành động cụ thể trong hy sinh phục vụ quên mình, với lòng
khiêm tốn, như chính Chúa đã noi gương cho chúng con.
Lạy Chúa, ước gì trong gia đình
cộng đoàn họ đạo chúng con, đừng có ai gây cớ chia rẽ loại trừ nhau. Nhưng xin
cho chúng con biết sống tinh thần hiệp thông, cùng nhau tích cực tham gia vào
sứ mạng loan Tin Mừng, với mong muốn xây dựng và phát triển gia đình họ đạo và
giáo hội Chúa mỗi ngày thêm vững mạnh và tốt đẹp hơn, bằng chính tình yêu như
chính Chúa đã yêu chúng con.
Ước gì chúng con đừng trở thành
gánh nặng thập giá của nhau, nhưng luôn biết hy sinh kê vai vác đỡ thập giá cho
nhau, nâng đỡ dìu dắt nhau tiến bước trên con đường hiệp hành theo Chúa.
Ước gì mỗi người chúng con biết
mở lòng ra để sống bao dung, cảm thông và chia sẻ với nhau khi vui cũng như lúc
buồn, theo như lời thánh Phao-lô chỉ dạy: “Vui với người vui, khóc
với người khóc” (Rm 12,15)
Sống được như thế, là chúng con
đang đi đúng con đường tình mà Chúa đã đi qua. Khi hiệp hành bước đi trên con
đường tình ấy của Chúa, tin rằng Chúa sẽ đưa dẫn chúng con về đến bến bờ của
niềm vui, hạnh phúc và bình an đích thực.
Ước gì đêm nay, mỗi người trong
chúng con dành chút thời gian ở lại bên Chúa và thức với Chúa một giờ, để chúng
con cảm nhận được tình Chúa yêu con và nhận ra lối đường mà Chúa muốn chúng con
bước đi trong Chúa với niềm tin, hy vọng và biết ơn của những người môn đệ
Chúa. Amen.
Thứ sáu: Is 52,
13-53,12; Dt 4, 14-16; 5,7-9; Ga 18, 1-19, 42
KHÔNG AI VÔ CAN TRƯỚC CÁI CHẾT
CỦA CHÚA
OB và ACE thân mến, chúng ta vừa
nghe lại bài tường thuật về cuộc thương khó của Chúa Giêsu đã chịu vì tội lỗi
chúng ta. Suy niệm về cuộc thương khó của Chúa, chúng ta cảm thấy không ai
trong chúng ta vô tội trước cái chết đau thương của Chúa:
Có thể ta là những
Thượng tế, những biệt phái và Pharisêu muốn tiêu diệt Chúa
để Chúa đừng làm phiền, đừng nhắc nhở những sai trái
của ta.
Có thể ta là dân chúng
bàng quang, hoặc có tâm lý hùa theo đám đông mà không dám nói lên
chính kiến của mình, để bênh vực cho những người anh em vô tội.
Có thể ta là những
tên lính đã đánh đòn, đóng đinh, hành hạ Chúa cho hả cơn giận nơi
những người anh em chúng ta tốt lành, hiền từ.
Có thể ta là những
người phụ nữ thành Giêrusalem khóc thương chỉ vì tội nghiệp
Chúa nơi những người khốn cùng, nghèo khó chứ chưa biết phải làm
sao để giúp cho họ đỡ khổ.
Có thể ta là tên
trộm dữ đã bao lần oán trách cuộc đời và than trách
Chúa khi thấy những điều trái ý xảy đến cho chúng ta.
Hãy xin cho chúng
ta là Simon, sẵn sàng vác lấy thánh giá Chúa qua việc
chấp nhận thử thách gian khổ mà Chúa gửi đến và sẵn sàng san sẻ nỗi đau
với người khác.
Hãy xin cho chúng
ta biết noi gương Đức Mẹ mạnh dạn, can trường bước
theo Chúa Giêsu trên đường đau khổ mà không một lời
than thở, không một chút kêu ca.
Hãy xin cho chúng
ta là Gioan, đón lấy sứ mạng của Chúa trao ban để
sẵn sàng hiến thân phục vụ cho những chương trình, hoạch định
của Chúa.
Trên hết, xin cho chúng
ta giống như viên đại đội trưởng: “Thấy sự việc xảy ra như
thế, viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa”. (Lc
23,47).
Lạy Chúa, đã biết bao
lần chúng con ngước nhìn lên Chúa bị đóng đinh,
nhưng chúng con chưa xác tín niềm tin mạnh mẽ vào
Chúa; nhất là chưa dám sống chết vì niềm tin trước người đời. Xin Chúa tha thứ
và ban ơn oán cải sâu xa như tông đồ Phêrô khi xưa. Amen.
Suy niệm 2: ĐAU KHỔ BIỂU TỎ
TÌNH YÊU
Tam nhật vượt qua, là dịp GH
tưởng niệm tình yêu cao vời của Thiên Chúa dành cho nhân loại chúng ta.
Thứ năm tuần thánh, GH tưởng niệm tình
yêu hạ mình của Chúa Giêsu biểu lộ qua việc rửa chân cho các môn đệ và
lập nên Bí Tích Thánh Thể để ban Mình-Máu Ngài làm lương thực thần lương nuôi
sống chúng ta.
Thứ sáu tuần thánh, GH tưởng
niệm tình yêu hiến mình của Chúa Giêsu bằng cách tự nguyện hy
sinh chết trên thập tự giá để đền thay tội lỗi chúng ta.
Thứ bảy tuần thánh, GH tiếp tục
tưởng niệm tình yêu hòa mình của Đức Giêsu qua sự phục sinh
vinh hiển nhằm đem lại sự sống mới, sự sống vĩnh cửu cho chúng ta.
Như vậy tam nhật vượt qua, GH
muốn mời gọi chúng ta sống lại mầu nhiệm tình yêu hạ mình, hiến mình
và hòa mình theo mẫu gương của Chúa Giêsu Kitô.
Cách riêng hôm nay, thứ sáu tuần
thánh, chúng ta được mời gọi tưởng niệm về tình yêu hiến mình của
Chúa Giêsu trên thập tự giá.
Vậy khi chiêm ngắm tình
yêu tự hiến của Chúa Giêsu trên đỉnh cao thập giá, mỗi người chúng ta
có cảm nhận như thế nào? và đâu là sứ điệp mà Chúa muốn gửi đến cho từng người
trong chúng ta?
Riêng tôi khi chiêm ngắm tình yêu
tự hiến của Chúa Giêsu từ trên đỉnh cao thập giá, tôi có 2 cảm nhận sâu sắc,
xin chia sẻ cùng với quý ông bà và anh chị em.
1. Không ai là vô tội trước cái
chết của Chúa Giêsu.
Trước đây, khi nghe đọc hay hát
bài thương khó của Chúa Giêsu, tôi cảm thấy nóng lòng vì phải đứng lâu và có
khi khó chịu vì cảm thấy mình chẳng liên can gì trong cuộc thương khó của Chúa
Giêsu. Nhưng sau này khi đặt mình vào vị trí của các nhân vật trong sự thương
khó Chúa, tôi cảm thấy bị thu hút, bời thấy mình có liên quan không ít tới cuộc
khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu.
- Rất có thể tôi là Philatô đã
không dám lên tiếng bênh vực cho công lý và sự thật.
- Rất có thể tôi là Giuđa khi đặt
tiền bạc, quyền lợi cá nhận làm ưu tiên hàng đầu, mà bất chấp lề luật, giới răn
Chúa dạy. Ngay cả sẵn sàng bán Chúa và làm hại GH và người khác.
- Rất có thể tôi là Phêrô vì sợ
hãi nên sẵn sàng chối bỏ Chúa trước mặt người khác.
- Rất có thể tôi là Thượng
tế kiêu căng tự mãn khi cho rằng ý mình là hay là đúng nhất. Từ đó tỏ ra khó
chịu khi thấy người khác tài giỏi, thành công hơn mình. Nguy hiểm hơn
nữa là kết bè lập nhóm để chống đối, tố cáo, hạ bệ những ai mình
không ưa thích.
- Rất có thể tôi là quân dữ
khi nhẫn tâm chế diễu, đùa cợt, mỉm cười trên sự đau khổ, thất bại của người
khác.
- Rất có thể tôi là người trộm dữ
khi dám thách thức, nghi ngờ quyền năng của Chúa , cũng như không dám chấp nhận
sự thật sai lầm tội lỗi của mình.
- Rất có thể tôi là đám đông dân
chúng không kiên định trong lập trường và chính kiến nên dễ dàng thay lòng đổi
dạ, sẵn sàng chạy theo sự dẫn dắt của dư luận để mưu
tìm lợi ích cho mình.
2. Không ai là xấu hoàn toàn, ai
cũng có những điểm sáng đáng trân quý.
- Tựa như Mẹ Maria, lắm khi
tôi cũng can đảm đón nhận thập giá và nghịch cảnh của cuộc sống để
trung thành theo Chúa đến cùng, với niềm tin và hy vọng vào tình thương
của Chúa.
-
Tựa như ông Simon, trái tim tôi cũng biết đồng
cảm và sẵn sàng kề vai chia sẻ gánh nặng thập giá với tha
nhân, chứ không phải lúc nào cũng vô cảm bỏ mặc người khác trong những
lúc gặp nguy khốn.
- Tựa như bà
Vêrônica nhiều lần tôi cũng đã nhạy bén nhận ra khuôn mặt của
Chúa Giêsu nơi những người khốn khó, để rồi sẵn lòng an ủi, trợ giúp họ với
mong muốn làm vơi đi những gánh nặng mà họ phải chịu trong cuộc đời này.
- Hay
cũng giống như người trộm lành, nhiều lần tôi cũng đã
khiêm tốn nhận thấy mình là kẻ yếu đuối, tội lỗi mà thành tâm đấm
ngực ăn năn sám hối, xin ơn tha thứ của Chúa.
Ước gì trong những ngày này, mỗi
người chúng ta biết dành thời giờ để chiêm ngắm Chúa Giêsu Đấng chịu đóng đinh
trên thập giá mà cảm nhận tình yêu hải hà của Chúa; nhất là nhận ra tội lỗi của
mình đã phạm tựa như những gai nhọn, đinh sắt cắm sâu vào thân thể
Chúa, gây ra cái chết đau thương của Chúa trên thập giá mà chê
ghét chừa bỏ, hầu đón nhận ơn được tình thương và ơn tha thứ của TC,
đấng giàu lòng thương xót.
Sau khi cảm nhận về những bài học
sâu sắc mà Chúa gửi đến, tôi đã tóm kết lại những tâm tình ấy bằng bài thơ sau
đây, xin gửi đến cùng cộng đoàn:
CHIÊM NGẮM TÌNH YÊU TỰ HIẾN
Thứ Sáu Tuần Thánh lặng sâu,
Ngắm nhìn Thập Giá, cúi đầu tri
ân.
Tình yêu tự hiến vô ngần,
Chúa trao mạng sống vì nhân thế
này.
Trên đồi cao vút chiều nay,
Giêsu hấp hối, đắng cay tận cùng.
Tôi nhìn, tôi ngẫm trong lòng,
Lời mời tha thiết vang trong tim
người:
Không ai vô tội – xin vâng,
Chính tôi cũng góp vào chăng vết
hằn?
Có khi tôi giống Philatô,
Im lặng, bỏ mặc lẽ ngay công
bình.
Cũng từng như Giuđa tình,
Bán Chúa vì chút lợi mình riêng
tư.
Hay là Phêrô ngày xưa,
Vì sợ, vì yếu loại trừ Chúa xa.
Tôi như Thượng tế kiêu sa,
Thấy ai hơn chút là ra mặt buồn.
Có khi tôi cũng vô hồn,
Cười trên khổ lụy người còn khổ
đau.
Hoặc như tên trộm dữ nào,
Không nhận tội lỗi, trách sao đời
này.
Dân chúng ngày ấy đổi thay,
Theo chiều dư luận – lòng đầy
hững hờ...
Nhưng rồi chợt hiểu bất ngờ:
Không ai xấu trọn, cũng mơ điều
lành.
Giống như Mẹ thánh trung thành,
Vượt bao gian khó, dõi theo bước
Ngài.
Simon giúp Chúa một vai,
Tôi cũng muốn gánh một vài khổ
đau.
Vêrônica – tay nhiệm mầu,
Tôi cũng từng muốn lau màu lệ
rơi.
Hay như trộm lành cuối đời,
Thành tâm sám hối – sáng ngời
niềm tin.
Dẫu là yếu đuối, tội mình,
Tôi vẫn được mến – được nhìn bằng
thương.
Xin cho tim mãi vấn vương,
Tình yêu Thập Giá – đoạn trường
vì tôi.
Để rồi từ ấy trong đời,
Biết chê tội lỗi, sống lời Chúa
răn.
Nguyện xin ơn Chúa vô ngần,
Thứ tha, cứu độ, dắt dân về trời.
Thứ bảy: St
1,1-2,2; Xh 14,15-15,1a; Is 54, 5-14; Rm 6,3-11; Mt 28,1-10.
Suy niệm 1:
Tin mừng đêm vọng phục sinh tường
thuật lại sự kiện hai người phụ nữ Maria Mácđala và Maria đến thăm mộ Chúa từ
sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần. Hai bà chứng kiến cảnh tượng đất chuyển động
dữ dội và Thiên Thần Chúa từ trời xuống lăn tảng đá đậy cửa mộ ra, rồi ngồi lên
trên. Diện mạo Người như ánh chớp, y phục nguời trắng như tuyết.
Lính canh cũng như hai bà thấy
vậy thì khiếp sợ. Tuy nhiên Thiên Thần chấn an hai bà “đừng sợ” và
nói: "Chúa Giêsu chịu đóng đinh, Người không còn ở đây nữa. người
đã sống lại như Lời Người phán trước…Hai bà vừa mừng vừa sợ chạy về báo tin cho
các tông đồ. Nhưng Chúa Giêsu đón hai bà lại. Hai bà liền phục lạy và ôm chân
Chúa. Chúa bảo hai bà về báo cho các môn đệ đến Galilê. Họ sẽ gặp Người ở
đó."
Trình thuật của bài tin mừng đêm
vọng phục sinh mà chúng ta vừa nghe muốn gởi đến chúng ta hai sứ điệp quan
trọng.
- Sứ điệp I: Chúa phục sinh mang đến
niềm hy vọng
Sau khi Chúa Giêsu chết, các môn
đệ đều hoang mang và lo sợ. Chính vì thế mà ngay khi phục sinh, Chúa Giêsu muốn
chấn an các môn đệ của Người khi sai sứ Thần Chúa hiện ra để trấn an nỗi
lo sợ của hai người phụ nữ, qua đó cũng muốn chấn an các môn đệ của Người
là “đừng sợ!”
“Đừng sợ!” thập giá của đau
khổ, bởi từ nay thập giá sẽ trở thành thánh giá vinh quang.
“Đừng sợ!" những kẻ chỉ giết
được thân xác mà không giết được linh hồn.
"Đừng sợ!" thế lực ác
thần là thế gian, xác thịt và ma quỷ vì từ nay chúng sẽ bị đánh bại.
"Đừng sợ!" thần chết vì
Chúa Giêsu phục sinh đã giải thoát chúng ta khỏi tử thần.
Vì thế, từ nay ai tin nhận Người
cũng sẽ chiến thắng vinh quang như thế.
- Sứ điệp II: Hãy tích cực
tham gia vào sứ vụ loan báo tin mừng phục sinh
Sau khi nhận ra Chúa phục sinh,
hai bà Maria Mácđala và Maria liền tiến đến định ôm chân Chúa và bái
lạy. Thì ngay lúc đó Chúa phục sinh lại trao ban cho hai bà sứ mạng loan báo
tin mừng phục sinh: “Hãy về báo cho anh em của thày để họ đến Galilê.
Họ sẽ gặp thầy ở đó”
Như vậy sứ vụ loan báo tin mừng
phục sinh là một nhiệm vụ cấp bách cần phải được loan báo, đó chính là lệnh
truyền của Chúa Giêsu Phục sinh. Thánh Phêrô và các tông đồ của Chúa đã vâng
nghe lệnh truyền ấy nên đã thực thi hành cách cực. Điều này đã được diễn tả
trong bài đọc 1, trích sách công vụ tông đồ (Cv 10,34.37-43).
Viên quan bách quản Rô-ma, là
người ngoại giáo, khi nghe biết về Chúa Giêsu phục sinh, ông đã đến và xin
thánh Phêrô làm phép rửa để ông và gia đình được gia nhập cộng đoàn các tín hữu
đầu tiên. Khi ấy thánh Phêrô đã nhắc lại cho ông xác tín mạnh mẽ vào niềm tin
căn bản là "Đức Giêsu đã phục sinh".
Có thể nói đây là điều căn bản mà
tông đồ Phêrô rao giảng cho dân chúng. Thánh Kinh gọi bài giảng truyền giáo này
của tông đồ Phêrô là Keryma. Như vậy ta có thể tóm lược bài giảng Keryma gồm 4
điểm chính sau:
1. Tóm tắt cuộc đời của Đức Giêsu
ở trần thế.
2. Nói về cái chết của Đức Giêsu.
3. Xác quyết sự kiện Đức Giêsu
sống lại.
4. Kêu gọi mọi người hãy tin vào
Đức Giêsu là Thiên Chúa để được hưởng nhờ ơn cứu chuộc.
Qủa thật, Chúa Giêsu đã chịu khổ
hình, chịu chết trên thánh giá và đã phục sinh đem lại sự sống đời đời cho
chúng ta. Đó là tin mừng lớn lao mà chúng ta đã tin nhận. Tuy nhiên tin chưa đủ
mà chúng ta còn có bổn phận loan báo niềm vui lớn lao ấy cho mọi người ở khắp
mọi nơi qua mọi thời đại.
Xin Chúa cho chúng ta biết chết
đi cho con người cũ với những tính hư tật xấu và tội lỗi của mình để được sống
lại con người mới nhờ vào sức mạnh và quyền năng của Chúa Phục sinh.
Đồng thời cũng xin cho chúng ta biết tích cực thi hành sứ vụ loan báo tin
mừng phục sinh đến cho mọi người với hết khả năng của mình với mong muốn góp
phần xua tan bóng tối của sợ hải, hận thù, chia rẻ, ích kỉ, bất công và
chết chóc do ma quỷ, thế gian và xác thịt gây ra để mọi người đón nhận
được ánh sáng tình thương, công bằng ,chân lý và sự sống đích thực do Chúa
Giêsu phục sinh đem đến. Amen.
Suy niệm 2:
Phụng Vụ Lễ Vọng
Phuc Sinh đêm nay khởi đầu bằng nghi thức làm phép lửa mới và thắp nến Phục
Sinh, nhằm diễn tả cuộc vượt qua của Đức Giê-su từ bóng tối tử thần đến ánh
sáng Phục Sinh.
Qủa thật Đức
Giê-su chính là Ánh Sáng đã đến thế gian để xua tan bóng tối như Người đã tuyên
bố : “Tôi là ánh sáng thế gian, ai theo Tôi sẽ không phải đi trong bóng
tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8,12). Và ánh
sáng ấy đã được nêu bật qua nghi thức trong phần đầu lễ tối nay.
- Lúc đầu, bóng tối bao trùm không gian Nhà thờ, bởi các ngọn đèn đều bị
tắt hết. Sau đó Chủ tế làm phép lửa mới ở cuối Nhà thờ và đã dùng lửa ấy để
thắp sáng cây nến Phục Sinh. Tiếp đến là nghi lễ rước nến Phục Sinh cách
long trọng.
Trong cuộc rước,
Chủ tế cầm cây nến Phục Sinh rồi lần lượt công bố ba lần: “Ánh Sáng Chúa
Ki-tô” và mọi người đáp : “Tạ ơn Chúa”.
Lần thứ nhất
được công bố ngay sau khi thắp lửa mới vào cây nến Phục Sinh
Lần thứ hai được
công bố khi chủ tế bước đến giữa nhà thờ. Khi ấy ánh sáng từ cây nến phục sinh
được thắp lên dần dần cho đến khi vị chủ tế long trọng công bố
Lần thứ ba trước
cung thánh, thì lập tức ánh sáng phục sinh của Chúa được tỏa sáng khắp cả
Nhà thờ.
Và rồi niềm vui
Phục Sinh được thể hiện một cách long trọng khi chủ sự công bố bài Tin Mừng
Phục Sinh “Exultet”, nghĩa là “Mừng Vui Lên”.
Ánh ánh chân lý,
tình yêu, niềm vui và sự sống của Chúa đã chiếu giãi vào trần gian cách đây hơn
2000 năm. Thế mà ngày nay vẫn còn đó nhiều người trong chúng ta đang sống trong
bóng tối của nấm mồ tội lỗi, vẫn muốn ở lì trong con người cũ cùng với các thói
hư tật xấu, khiến họ chưa đón nhận được niềm vui trọn vẹn của Chúa Phục
Sinh.
Cuộc sống của
nhiều người trong chúng ta vẫn còn bị đè nặng bởi sự gian dối, ham mê tiền bạc
của cải vật chất, khiến chúng ta không thể trở thành người loan báo tin vui
phục sinh cho anh chị em mình.
Nhiều gia đình
tín hữu vẫn còn bị đè nặng bởi bóng tối của sự cãi vã, giận hờn ganh ghét và
ích kỷ, khiến cuộc sống gia đình của họ luôn bị căng thẳng và u buồn. Cho
nên rất cần sức mạnh của ánh sáng Chúa chiếu giãi vào những nấm mồ tối tăm ấy,
để họ đón nhận được ánh sáng phục sinh của Chúa.
Mỗi tín hữu
chúng ta không thể tuyên xưng Chúa phục sinh với khuôn mặt buồn rầu thất vọng.
Chúng ta cũng không thể nói về Chúa Phục Sinh khi lời nói và hành động của
chúng ta thiếu lòng bao dung, cảm thông trước nỗi đau của anh chị em chung
quanh mình. Niềm tin vào Chúa Phục Sinh phải là động lực thúc đẩy
chúng ta canh tân đổi mới nếp sống bản thân, gia đình mình thì mới mong đem lại
cho cuộc đời này một sức sống mới.
Nếu phiến đá trấn an ngoài cửa mộ đã không thể cầm hãm được Đức
Giê-su phục sinh. Và những băng vải, khăn liệm không tài nào trói buộc
được Ngài ở lại trong mồ đá, thì chúng ta cũng nên phá bỏ những tảng đá
của sự giận hờn, ghen ghét, hận thù...đang đè nặng tâm hồn chúng ta; hãy để cho
ánh sáng sự sống của Chúa phục sinh bừng lên xua tan bóng tối âm u của
thần chết, và ánh sáng tình yêu Chúa được vinh thắng khải hoàn dù cuộc sống
còn nhiều gian nan thử thách.
Niềm vui Phục
sinh sẽ là quà tặng bất ngờ cho chúng ta giống như Ma-ri-a Mác-đa-la
đã nhận được khi gặp gỡ Chúa Phục Sinh ở bên cạnh nấm mồ Chúa; và cho
các môn đệ khi gặp lại Chúa tại xứ Ga-li-lê.
Điều quan
trọng là sau khi gặp gỡ Chúa, chúng ta hãy noi gương bà Ma-ri-a Mác-đa-le-na
cũng như các tong đồ hăng hái ra đi loan báo Tin Mừng cho anh chị em mà chúng
gặp gỡ hàng ngày.
Xin Chúa Phục sinh gia tăng lòng
mến nơi chúng ta, thôi thúc chúng ta sẽ mau mắn ra đi tìm đến Chúa nơi
Thánh kinh, trong Thánh lễ và nhận thấy Chúa đang hiện diện nơi những
anh chị em bệnh tật đau khổ, cũng như qua các biến cố vui buồn xảy ra
trong cuộc sống hàng ngày. Nhờ đó, chúng con sẽ vui tươi phấn khởi và nhiệt
tâm loan báo Tin Mừng Phục Sinh theo gương Ma-ri-a Mác-đa-la và như các
Tông đô khi xưa. Amen. (St)
Suy niệm 3:
Có thể nói thánh lễ đêm nay là
thánh lễ quan trọng nhất vì là đêm Mẹ của các đêm; vui
nhất vì Chúa Giêsu đã phục sinh vinh quang đem đến niềm hy vọng sống
lại cho chúng ta, giá trị nhất vì sự phục sinh của Đức Kitô
đem đến ơn cứu chuộc cho toàn thể nhân loại, cách đặc biệt là dài
nhất vì có nhiều nghi thức, cho nên trong bài giảng tối nay tôi chỉ
nêu lên hai điểm quan trọng sau đây:
- Thứ nhất: nói về ý
nghĩa của đêm vọng phục sinh.
- Thứ hai: nêu lên hai sứ
điệp căn bản mà lời Chúa muốn nói với chúng ta.
1. Ý nghĩa của đêm vọng phục
sinh:
Phụng vụ đêm nay được khởi đầu
bằng nghi thức làm phép lửa mới và thắp nến Phục Sinh. Nghi thức này nhằm diễn
tả cuộc vượt qua của Đức Giê-su từ trong bóng tối của sự chết đến Ánh sáng của
sự sống.
Đức Giê-su chính là Ánh Sáng thật
đã đến trần gian để xua tan bóng tối của tội lỗi và sự chết như Người đã tuyên
bố: “Tôi là ánh sáng thế gian, ai theo Tôi sẽ không phải đi trong bóng
tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.” (Ga 8,12). Cho nên
lúc đầu lễ, các đèn trong Nhà thờ đều được tắt hết, bóng tối bao trùm khắp
không gian. Sau đó, Chủ tế cử hành nghi thức làm phép lửa mới ở cuối Nhà thờ và
đã dùng ngọn lửa ấy để thắp sáng cây nến Phục Sinh, rồi rước cây nến Phục sinh
vào Nhà thờ cách long trọng. Trong cuộc rước ấy, Chủ tế cầm cây nến Phục
Sinh đưa lên cao và lần lượt công bố ba lần: “Ánh Sáng Chúa Ki-tô”, mọi người
cùng đáp : “Tạ ơn Chúa”.
Tại cung thánh Nhà thờ khi chủ tế
công bố lần thứ ba “Ánh sáng Chúa Ki-tô”, thì lập tức tất cả đèn trong nhà thờ
được bật lên sáng rực, đem đến niềm vui cho chúng ta.
Nghi thức ấy cho chúng ta hiểu
rằng: Chúa Ki-tô chính thật là “ánh sáng đem lại sự sống”. Cảm
nhận được niềm vui lớn lao về ánh sáng sự sống do Chúa đem đến, nên Giáo hội
mời gọi cộng đoàn tín hữu chúng ta cùng hiệp lời với chủ tế cất cao niềm vui
Phục Sinh qua bài ca “Exultet”, nghĩa là “Mừng Vui Lên!”.
ÔBACE thân mến, Chúa Giêsu đã đến
trần gian và đã thắp lên ánh sáng chân lý, tình yêu, niềm vui và sự sống cách
đây hơn 2000 năm. Thế mà ngày nay vẫn còn nhiều người đang sống trong bóng tối
của nấm mồ tội lỗi, bởi sự gian dối, hận thù, ham mê danh vọng và tiền bạc
vật chất…Nên vẫn còn đó những bóng tối của nghi ngờ, cãi vã, giận hờn, ganh
ghét và ích kỷ… khiến cho cuộc sống luôn bị căng thẳng và u buồn. Cho nên
rất cần đến ánh sáng phục sinh của Chúa chiếu giãi vào những nấm mồ tối tăm ấy,
để mọi người cảm nhận được niềm vui, bình an và hạnh phúc thật sự trong tâm
hồn.
2. Vì thế mà bài Tin mừng
hôm nay, Chúa muốn gửi đến với chúng ta hai sứ điệp quan trọng:
- Sứ điệp I: Chúa
phục sinh là Đấng xua tan bóng tối của lo sợ.
Sau khi Chúa Giêsu chịu chết, hầu
hết các môn đệ đều hoang mang, sợ hãi. Chính vì thế mà ngay khi phục sinh, Chúa
Giêsu đã xua tan bóng tối của lo sợ nơi hai người phụ nữ Maria Mácđala và Maria
bằng lời chấn an: “đừng sợ!”
“Đừng sợ!” Đừng sợ thập giá
của đau khổ, bởi từ nay thập giá đã trở thành thánh giá vinh quang.
“Đừng sợ!" những kẻ chỉ giết
được thân xác mà không giết được linh hồn.
"Đừng sợ!" thế lực của
ác thần là thế gian, xác thịt và ma quỷ vì từ nay chúng đã bị đánh bại.
"Đừng sợ!" thần chết vì
Chúa Giêsu phục sinh đã chiến thắng tử thần.
Cho nên, từ nay những ai tin nhận
vào Chúa Giêsu phục sinh sẽ vượt thắng mọi nỗi sợ hãi cho dẫu cuộc đời mình
phải đối mặt với nhiều gian nan thử thách.
- Sứ điệp II: Cần phải hăng
say loan báo Tin mừng phục sinh.
Sau khi nhận ra Chúa phục sinh,
hai bà Maria Mácđala và Maria liền tiến đến ôm chân Người và
phục lạy. Nhưng Chúa Giêsu lại với các bà “Hãy đi báo tin cho các anh em Ta
phải trở về Galilêa, rồi ở đó, họ sẽ gặp Ta.” Điều này cho thấy
sứ vụ loan báo tin mừng phục sinh là một nhiệm vụ cấp bách cần phải được thi
hành ngay.
Thánh Phao-lô trong bài
thánh thư cũng đã xác quyết với chúng ta rằng: “nếu chúng ta được liên
kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng
ta cũng được hợp nhất với Người trong sự sống lại giống như vậy.” Tin
nhận và chịu phép rửa trong Ðức Giêsu là cách chúng ta liên kết với Chúa
Kitô trong cùng một cái chết, nên chúng ta cũng sẽ được sống lại với
Người (x. Rm 6,3-4). Đó là niềm tin lớn nhất của người kitô hữu chúng
ta.
Vậy chúng ta hãy mạnh dạng
ra đi loan báo niềm tin ấy cho hết mọi người ở khắp mọi nơi qua mọi thời đại
không hề sợ hãi, để nhờ đó mọi dân nước đều tin nhận và chịu phép rửa trong
Chúa Kitô, ngỏ hầu tất cả đều đón nhận được sự sống mới do chính Chúa Giêsu
phục sinh đem đến.
Đêm hôm nay, trên tay mỗi người
Ki-tô hữu chúng ta khi tham dự thánh lễ đều cầm trên tay mình một cây nến nhỏ,
được thắp lên từ cây nến Phục sinh. Đó chính là biểu tượng đức tin của chúng
ta. Cây nến ấy rồi sẽ cháy hết và sẽ tắt, nhưng đức tin của chúng ta vào Chúa
Giêsu phục sinh cần được thắp sáng và cháy mãi, cho dẫu những phong ba bảo táp
có ập đến trong cuộc đời chúng ta.
Nguyện xin ánh sáng phục
sinh của Chúa Kitô luôn được thắp lên trong tâm hồn của mỗi chúng ta và cầu
mong ánh sáng niềm vui, bình an và sự sống của Chúa Giêsu phục sinh mang đến
trần gian được chiếu sáng và lan tỏa đến hết mọi người ở khắp mọi
nơi. Amen.
CHÚC MỪNG PHỤC SINH
Trong niềm hân
hoan mừng Chúa chúng ta Phục sinh khải hoàn,
Xin kính chúc
quý Cha, quý Tu sĩ, quý ông bà và anh chị em luôn được an bình, vui tươi, hạnh
phúc trong Chúa Giêsu Phục Sinh và một mùa Phục Sinh tràn đầy ân sủng, niềm vui
và hy vọng. Nguyện xin tình yêu và bình an của Đấng Phục Sinh
ở cùng tất cả anh chị em.
Chúa đã sống
lại! Chúc Mừng Phục
Sinh! Alleluia! Alleluia!
RẢY NƯỚC THÁNH THAY SÁM HỐI ĐẦU LỄ
CÁC CHÚA NHẬT MÙA PHỤC SINH
X. Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi
Chúa cho chúng con (MPS. Al-le-lui-ia).
Đ. Và ban ơn cứu rỗi cho chúng
con (MPS. Al-le-lui-ia).
X. Lạy Chúa, xin nhậm lời con cầu
nguyện.
Đ. Và cho tiếng con kêu lên tời
Chúa.
X. Chúa ở cùng anh chị em.
Đ. Và ờ cùng cha.
Chúng ta dâng lời cầu nguyện,
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là
Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin nhậm lời chúng con và đoái thương sai Thánh
Thiên Thần Chúa từ trời xuống, để canh giữ, nâng đỡ, bảo vệ, viếng thăm, và bên
vực mọi người sum họp trong nhà này. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng
con. Amen
X. Vinh danh
Thiên Chúa trên các tầng trời….
CHÚA NHẬT PHỤC SINH
Cv 10,34a-37-43; Cl 3,1-4; Ga 20,1-9
Suy niệm 1: PHƯƠNG CÁCH NHẬN RA CHÚA KITÔ PHỤC SINH
Hiệp thông cùng Giáo Hội, hôm nay
chúng ta hân hoan mừng trọng thể lễ Chúa Phục sinh, kỉ niệm biến cố Đức Kitô đã
chết và sống lại. Đây là mầu nhiệm nền tảng và cao cả nhất của người Kitô hữu
chúng ta. Bởi như lời thánh Phao-lô tông đồ đã xác quyết: "Nếu Chúa Kitô không sống lại thì niềm tin của
chúng ta là hão huyền và lời rao giàng của chúng ta là vô ích. Chúng ta là
những người khờ dại nhất." (x.1Cr 15,12-19). Nhưng Đức Kitô đã sống lại
nên đem đến niềm vui, hy vọng cho chúng ta.
Vui vì Đức Giêsu là người nên
Ngài cũng đã chết thật nhưng Ngài là Thiên Chúa nên Ngài đã sống lại thật, vì
thế từ này sự chết không còn làm chủ được chúng ta nữa.
Hy vọng vì qua mầu nhiệm phục
sinh của Đức Kitô, chúng ta tin rằng nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô thì
chúng ta cũng sẽ được cùng sống lại với Người.
Vậy xin Chúa
thương củng cố đức tin nơi mỗi người chúng ta để chúng ta kiên cường sống và
làm chứng cho niềm tin của mình với niềm hy vọng vào sự sống vĩnh cửu mai
sau.
Truyện kể:
Trong kho tàn
truyện cổ tích, có một câu truyện lý thú sau đây:
Mặt trăng và Mặt
Trời tranh cãi với nhau về Trái Ðất. Mặt Trời nói: “Lá và cây
cối, tất cả đều màu xanh”. Nhưng Mặt Trăng thì lại cho rằng, tất cả chúng mang
một ánh bạc lấp lánh. Mặt Trăng nói rằng, con người trên Trái Ðất thường
ngủ. Còn Mặt Trời lại bảo con người luôn hoạt động đấy chứ.
- Con người hoạt
động, vậy tại sao trên Trái Ðất lại yên ắng đến vậy? Mặt Trăng cãi.
- Ai bảo là trên
Trái Ðất yên lặng? – Mặt Trời ngạc nhiên – Trên Trái
Ðất mọi thứ đều hoạt động, và còn rất ồn ào, náo nhiệt nữa.
Và họ cãi nhau rất
lâu, cho đến khi Gió bay ngang qua.
- Tại sao các bạn
lại cãi nhau về chuyện này chứ? Tôi đã ở bên cạnh Mặt Trời khi Mặt Trời nhìn
xuống Trái Ðất, và tôi cũng đi cùng Mặt Trăng khi
Mặt Trăng xuất hiện. Khi Mặt Trời xuất hiện, mọi thứ là ban ngày, cây cối màu
xanh, con người hoạt đông. Còn khi Trăng lên, đêm về, mọi người chìm vào giấc
ngủ.
Nếu chỉ nhìn mọi
việc dưới con mắt của mình, thì mọi thứ chẳng có gì là hoàn hảo, trọn vẹn cả.
Không thể đánh giá Trái Ðất chỉ bằng con mắt của Mặt
Trời hoặc Mặt trăng được.
Cũng vậy khi đánh giá một con
người, một sự việc nào đó, không thể nhìn từ một phía…
Tin mừng Phục Sinh thuật lại cho
thấy ba cái nhìn khác nhau khi chứng kiến cùng một sự kiện “Ngôi mộ
trống”:
- Ma-ri-a Ma-đa-lê-na cứ đinh
ninh rằng xác Chúa Giêsu đã bị đánh cắp (Ga 20, 13-15).
- Phêrô thì rất đỗi ngạc nhiên vì
sự việc đã xảy ra (Lc 24,12).
- Còn Gioan, người môn đệ Chúa
Giê-su thương mến, thì tin chắc rằng Chúa Giêsu đã sống lại như lời Ngài đã
tiên báo (Ga 20,9).
Sở dĩ có những cái nhìn khác nhau
như vậy là vì họ có những tâm trạng khác nhau:
- Maria Mac-đa-la, với tâm trạng thương nhớ
Chúa thiết tha. Có lẽ cả đêm dài bà không chợp mắt được. Bà ước ao trời mau
sáng để ra thăm mộ Chúa. Nhưng khi chứng kiến tảng đá đậy mộ bị lăn ra và xác
Chúa không còn trong mộ, bà đã hốt hoảng chạy về báo tin cho các môn đệ Chúa.
Tình thương của Maria Mác-đa-la dành cho Chúa Giêsu là một tình thương đáng
trân trọng. Nhưng nếu tình thương ấy chỉ dừng lại ở mức độ cảm tính thường tình
thì không có khả năng nhận ra sự phục sinh của Chúa.
- Tông đồ Si-mon-Phêrô thì đang mang nặng tâm
trạng buồn rầu vì tội lỗi đè nặng tâm hồn, bởi đã chối Thầy. Cho nên ông cũng
không nhận ra gì hơn ngoài việc rất đổi ngạc nhiên khi chứng kiến những mảnh
băng vải và khăn che đầu được cuốn lại xếp riêng ra rất ngăn nắp; cùng với ngôi
mộ trống. Phải chăng lúc đó tâm trí của ông vẫn còn bị ám ảnh giờ phút chối
Chúa. Phải chăng lòng ông vẫn còn mang nặng nỗi u buồn về tội lỗi mà mình đã
nhát đảm gây ra. Ông còn phải có thời gian như là liều thuốc đặc trị để chữa
lành vết thương tâm hồn bất tín ấy để tiến đến niềm tin trọn vẹn vào Chúa Giêsu
phục sinh.
- Cách riêng tông đồ Gioan, người
môn đệ Chúa yêu cũng là môn
đệ rất yêu Chúa, nên khi chứng kiến những băng vải đặt bên trên ngôi mộ trống,
lập tức ông đã tin là Thầy mình sống lại như lời sách thánh đã tiên báo.
Vì thế, để tin vào sự phục sinh
của Chúa Giêsu, Gioan phải vượt lên trên tình cảm tự nhiên như Maria Mac-đa-la,
cũng như phải thắng vượt nỗi đau buồn mặc cảm tội lỗi của Phêrô, để định hướng
cái nhìn của mình vào sự kiện ngôi mộ trống bằng tình yêu trong sáng dưới sự
hướng dẫn của ánh sáng Lời Chúa. Chính cái nhìn này đã giúp Gioan vững tin vào
sự sống lại của Chúa Giêsu. Như thế, cùng một sự kiện nhưng lại có những cái
nhìn khác nhau, khởi đi từ những tâm trạng khác nhau.
Trong cuộc sống hàng ngày, luôn
có những biến cố vui buồn, sướng khổ, thành công thất bại xảy ra…tựa như là dấu
chỉ “ngôi mộ trống”. Vậy trước những dấu chỉ đó ta có cái nhìn
như thế nào?
Có thể giống như Maria Mac-da-la,
ta chỉ dừng lại ở cái nhìn do cảm tính tự nhiên thúc đẩy nên khi đối diện với
những biến cố ấy ta không nhận ra gì cả ngoài những cảm xúc đau buồn khi gặp
khó khăn, nghèo khổ, mất mác, thất bại và vui mừng khi thành công, may mắn
trong cuộc sống.
Có thể chúng ta cũng giống như
Phêrô, chẳng nhìn thấy gì hơn trước những biến cố xảy ra trong đời sống vì quá
tự ti mặc cảm bởi những lầm lỗi trong quá khứ của mình.
Xin Chúa cho chúng ta có được cái
nhìn đức tin, được định hướng dưới ánh sáng lời Chúa như thánh Gioan. Nhờ đó ta
mới có thể nhận ra sự hiện của Chúa Giêsu phục sinh trong mọi biến cố xảy ra
trong cuộc đời chúng ta. Amen
Suy niệm 2:
Trong một cơ hội
tình cờ, có ba người đại diện cho ba tôn giáo lớn là: Phật giáo, Hồi giáo và
Thiên Chúa giáo ngồi lại tranh luận với nhau, và ai cũng tự hào về đấng sáng
lập đạo của mình.
- Người Phật tử
nói: "Khi Đức Phật Thích Ca của chúng tôi chết, chúng tôi đưa đi hỏa táng
và hài cốt của Ngài hiện đang để trong chùa Xá Lợi (Xương Phật), điều đó chứng
tỏ đức Phật Thích Ca của chúng tôi hiện hữu."
- Tiếp đến, Môn đồ
Hồi giáo lên tiếng: "Khi Giáo Chủ Mahomét của chúng tôi chết, ngài để lại
cho chúng tôi nắm tóc và bộ râu, và đã được lưu giữ trong đền thờ bên Árập.
Điều đó chứng minh Giáo chủ chúng tôi có mặt trên trần gian này."
Rồi hai người hỏi
tín hữu Kitô giáo: "Còn Chúa Giêsu của anh chết, Ngài có gì lại làm bằng
chứng không?".
- Người tín hữu trả
lời: Khi Chúa chúng tôi chết, Ngài để lại ngôi mộ trống, vì Ngài không chết
luôn như Giáo Chủ của các anh, Ngài đã sống lại ra khỏi mồ. Do đó, chúng tôi
không có mảnh xương, hài cốt như đức Phật Thích Ca; hay nắm tóc, bộ râu như đức
Giáo Chủ Mahomét.
Nếu Chúa Giêsu của
chúng tôi chết mà không sống lại, thì chúng tôi chẳng tôn thờ Ngài. Các nhà
truyền giáo cũng chẳng dại gì mà phải dấn thân vào những nơi xa xôi để rao
giảng Tin mừng. Các thánh tử đạo cũng chẳng bao giờ liều mình đổ máu ra để làm
chứng cho Đấng đã chết mà không sống lại.
Thánh Phaolô đã nói rằng: "Nếu
Đức Kitô chết mà không sống lại, thì đức tin của chúng ta chỉ là hão huyền và
lời rao giảng cũng trở nên vô ích…" (1Cr 15,14-19).
Nếu Đức Kitô chết mà không sống
lại, thì Ngài không phải là con Thiên Chúa hằng sống; việc Ngài hiến mình chịu
chết là một điên rồ. Những phép lạ Ngài làm chỉ là phù phép giả tạo. Toàn bộ
giáo lý Ngài rao giảng đều sụp đổ.
Nếu Đức Kitô chết mà không sống
lại, chắc chắn các Bí tích phát sinh từ cạnh sườn Ngài đều vô hiệu hoá. Giáo
hội Ngài thiết lập sẽ không tồn tại. Và như vậy, sẽ không có đạo Công Giáo,
không có những ngôi thánh đường trên thế giới.
Nếu Đức Kitô chết mà không sống
lại, thì Ngài cũng chẳng hơn gì chúng ta, cùng lắm thì như các vị đạo sư, chết
là hết.
Nhưng, Đức Kitô đã chết và đã
sống lại, chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa hằng sống, như lời Ngài nói: "Ta
có quyền thí mạng sống và cũng có quyền lấy lại” (Ga 10,18); “Ta
là sự sống lại và là sự sống." (Ga 10, 25).
- Thế thì, Chúa Kitô sống lại
Ngài mang lại cho chúng ta những gì?
Trước nhất, Ngài mang lại cho
chúng ta niềm vui. Niềm vui này khởi đi từ các tông đồ, "các
ông vui mừng vì xem thấy Chúa" (Ga 20, 20), và cũng là niềm vui
cho toàn thể dân thánh. Vui vì Chúa đã chiến thắng tử thần "Ngài
không bao giờ chết nữa" (Rm 6, 9). Vui vì nhờ cuộc khổ nạn và
phục sinh của Chúa, chúng ta được thông phần vào đời sống mới, với tư cách là
con cái Thiên Chúa, được đồng thừa tự với Đức Kitô.
Chúa sống lại ban cho chúng
ta niềm hy vọng. Hy vọng ngày mai đây khi nhắm mắt lìa đời, chúng
ta cũng được sống lại với Chúa, lúc đó ta sẽ gặp lại những người thân đi trước
chúng ta.
Chúa sống lại ban cho chúng
ta nguồn an ủi, vì Chúa đã vượt qua cái chết bởi những đau khổ, đã
nếm mùi cay đắng của một kiếp người rồi mới tiến đến vinh quang.
Như vậy, mọi việc lành chúng ta
làm ở đời này đều sinh công ích. Mọi đau khổ của chúng ta đều có giá trị vĩnh
cửu đời sau, nếu chúng ta biết chấp nhận vì lòng yêu mến Chúa. Chúa sống lại,
Ngài muốn minh chứng cho chúng ta biết rằng: Ngài là Thiên Chúa giàu lòng
thương xót, đã chết đi để chúng ta được sống.
Chớ gì mỗi năm mừng kỷ niệm Chúa
Phục Sinh, là dịp nhắc nhở chúng ta sống lời mời gọi của Thánh Phaolô: "Nếu
anh em muốn sống lại với Đức Kitô, thì anh em hãy tìm kiếm những sự trên
trời..." (Cl 3,1).
Tìm kiếm những sự trên trời,
không phải là bỏ hết công ăn việc làm để rồi tối ngày chỉ đi nhà thờ quỳ cầu
nguyện liên lỉ, nhưng tìm kiếm những sự trên trời, theo như lời thánh Phaolô
khuyên nhủ đó là: "Dù anh em ăn, dù anh em uống hay làm bất cứ
việc gì, anh em hãy làm vì vinh danh Chúa." (1Cr 10,31). Mỗi sáng
khi thức dậy, người mà chúng ta nhớ đầu tiên phải là Chúa. Việc lo lắng tìm
kiếm trước tiên phải là Nước trời "Tiên vàn, các con hãy tìm kiếm
Nước Thiên Chúa trước..." (Mt 6, 33). Rồi cuối ngày trước khi ngả
lưng xuống ngủ, người nhớ cuối cùng cũng phải là Chúa, nếu có gì lầm lỗi trong
ngày xin Chúa thứ tha. Nếu ngày nào chúng ta cũng sống với tất cả ý thức như
thế, là chúng ta đang tìm kiếm những sự trên trời, đang sống Tin mừng Chúa Phục
Sinh.
Anh chị em thân mến,
Mỗi lần tham dự Thánh lễ, sau khi
linh mục truyền phép chúng ta đồng thanh tung hô: "Lạy Chúa, chúng
con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới
khi Chúa đến" (1Cr 11,26).
- Nhưng để loan truyền và
tuyên xưng việc Chúa sống lại ta phải làm gì?
1. Phải sống chứng nhân lòng
thương xót bằng cách đem
yêu thương vào nơi oán thù; đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi
tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.
2. Thay đổi lối sống của
mình. Cách tuyên
xưng việc Chúa sống lại không hệ tại ở "đầu môi chót lưỡi" nhưng hệ
tại ở lối sống. Như các tông đồ, họ không còn sống cho chính mình nữa, mà họ
sống cho "Đấng đã chết và sống lại". Vì thế, họ sẵn sàng chịu đau
khổ, chịu chết vì danh Chúa Phục sinh.
Ngày xưa, trong cuộc thương khó
Chúa, các tông đồ hoảng sợ, đức tin lung lay tận gốc rễ, nhưng nhờ Đức Mẹ
củng cố niềm tin mà các ông được vững mạnh. Thì bây giờ, giữa một thế giới có
nhiều biến động và nhiều thách đố, nhiều khi làm cho đức tin chúng ta bị lung
lay chao đảo, thì hãy bắt chước các tông đồ mau chạy đến với Đức Mẹ, người Mẹ
của lòng thương xót, Mẹ sẽ ra tay nâng đỡ phù trì, giúp chúng ta can đảm sống
và làm chứng cho Tin Mừng Phục Sinh của Chúa.
Lạy Nữ Vương thiên đàng, hãy vui
mừng Alleluia.
Vì Con Mẹ đã sống lại thật.
Alleluia.
Xin cầu cho chúng con. Amen.
Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải, CMC
Suy niệm 3:
Anh chị em thân mến,
Hôm nay là ngày hân hoan nhất
trong năm phụng vụ: Ngày Chúa Giêsu đã sống lại thật!. Cái chết không còn
là tận cùng. Bóng tối không còn bao phủ con người. Và tuyệt vọng đã nhường chỗ
cho Hy vọng. Hy vọng bất diệt từ mồ trống và từ ánh sáng Phục Sinh.
Trong Năm Thánh 2025, với chủ
đề “Hy vọng”, Giáo hội mời gọi chúng ta không chỉ đón nhận Tin Mừng ấy cho
riêng mình, mà còn cùng nhau loan báo Tin Mừng Hy Vọng, loan
báo rằng Chúa đã sống lại và đang hiện diện giữa chúng ta!
1. Một ngôi mộ trống, một niềm
tin bừng sáng
Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại sự
kiện bà Maria Mađalêna đến mồ lúc trời còn tối, và thấy tảng đá đã lăn ra
khỏi cửa mồ. Thánh Phêrô và Gioan cũng chạy đến. Ngôi mộ trống trở
thành chứng từ đầu tiên cho cuộc phục sinh.
Chính từ mồ trống ấy, niềm
hy vọng được thắp sáng:
- Hy vọng cho những ai từng đánh
mất đức tin,
- Hy vọng cho người lầm lỡ, từng
chối Chúa như Phêrô,
- Hy
vọng cho những tâm hồn tan nát vì đau khổ và mất mát.
Chúa đã chiến thắng sự chết và
chúng ta được mời gọi sống lại với Ngài.
2. Loan báo Tin Mừng Phục Sinh là
sứ mạng của tất cả chúng ta
Tin Mừng không thể giữ riêng cho
mình. Phêrô, Gioan, Maria Mađalêna và các Tông Đồ, sau khi gặp Chúa sống
lại, đã trở nên những chứng nhân không mỏi mệt.
Hôm nay, sứ mạng đó tiếp nối
nơi mỗi người chúng ta:
Loan báo Tin Mừng Phục Sinh chính
là loan báo Hy vọng, loan báo rằng Thiên Chúa đang hiện diện giữa
cuộc đời, và sự sống mạnh hơn sự chết.
Chúng ta loan báo Tin Mừng bằng:
- Một niềm tin sống động,
không nao núng trước thử thách;
- Một đời sống yêu thương,
dấn thân và phục vụ anh chị em mình;
- Một tâm hồn tràn đầy hy
vọng, kể cả khi xã hội còn nhiều tối tăm và chia rẽ.
3. Loan báo Tin Mừng không phải
đi một mình mà “cùng nhau”
Chủ đề của Năm Thánh không chỉ là
loan báo, mà là “cùng nhau loan báo”. Giáo hội là một cộng đoàn hy vọng,
một Gia đình của Đấng Phục Sinh, được sai đi không phải như những cá
nhân đơn lẻ, mà là trong sự hiệp nhất của Đức Tin.
- Gia đình là nơi đầu
tiên ta làm chứng về niềm tin và hy vọng.
- Họ đạo là cộng đoàn loan báo
Tin Mừng qua thánh lễ, bác ái, giáo lý, và sứ vụ truyền giáo.
- Người trẻ, các hội
đoàn, giới lao động, người già yếu, tất cả đều được mời gọi trở
thành chứng nhân hy vọng, dù là qua những hành động nhỏ nhất, miễn là từ
trái tim sống động bởi Phục Sinh.
Thánh Gioan Phaolô II từng gọi
các tín hữu là “những người canh giữ buổi sáng sớm”, những người dõi theo ánh
sáng Phục Sinh giữa bóng tối trần gian. Ngày hôm nay, Chúa Giêsu Phục Sinh cũng
đang trao vào tay chúng ta ngọn đuốc của hy vọng:
- Hãy để ánh sáng ấy sưởi ấm
gia đình,
- Soi sáng cộng đoàn họ đạo,
- Và chiếu rọi cả thế giới
đang khát khao một hy vọng vững bền.
Chúa đã sống lại thật! Alleluia!
Chúng ta cũng hãy sống lại thật
trong đức tin, để cùng nhau loan báo Tin Mừng hy vọng của Chúa
Giêsu! Amen.
Suy niệm 4:
Phục Sinh không chỉ là một sự
kiện, mà là một bước ngoặt lịch sử. Ngôi mộ trống hôm ấy không chỉ là dấu
chỉ vắng mặt của một xác chết, mà là khởi đầu của một sự hiện diện mới, sự
hiện diện sống động của Đấng Phục Sinh.
Gioan đã thấy và đã tin. Ông
không thấy Chúa Giêsu bằng mắt thể lý, nhưng nhìn thấy các dấu
chỉ tấm khăn liệm xếp lại, ông hiểu: Thầy đã sống lại.
Phêrô, Gioan, và sau đó là Maria
Mađalêna, các tông đồ, và vô số môn đệ đều từng bước đi từ ngỡ ngàng đến xác
tín. Niềm tin phục sinh không đến như một phép màu, mà là một hành trình
đi từ bóng tối của đau thương đến ánh sáng của hy vọng.
Ngày nay, chúng ta cũng được mời
gọi bước vào hành trình ấy. Ngôi mộ trống của Chúa là lời mời gọi vượt qua
mọi nghi nan, mọi tổn thương, để tin rằng: tình yêu mạnh hơn sự chết, ánh
sáng mạnh hơn bóng tối.
- Tôi có đang sống như thể
Chúa vẫn đang chết, hay tôi tin rằng Ngài đang sống động giữa cuộc đời tôi?
- Tôi có để ánh sáng Phục
Sinh biến đổi góc tối trong tâm hồn mình, nỗi sợ, tuyệt vọng, ích kỷ thành niềm
vui, niềm tin và lòng bác ái?
- Tôi có trở thành chứng
nhân phục sinh bằng lời nói, bằng hành động yêu thương, bằng lòng tha thứ?
Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh,
Xin cho con được “thấy và tin”
như Gioan,
Dù nhiều khi Chúa ẩn mình trong
thinh lặng,
Con vẫn tin Chúa đang sống và
đang yêu con.
Xin biến con thành người mang Tin
Mừng Phục Sinh,
Đến với những ai đang khổ đau và
thất vọng,
Để từ nay, không còn bóng tối nào
có thể che lấp ánh sáng hy vọng nơi Ngài.
Alleluia! Amen.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét