SUY NIỆM LỜI CHÚA TUẦN V MÙA CHAY
Lm. Nguyệt Giang
CHÚA NHẬT V MÙA CHAY-NĂM A
Ed 37,12-14; Rm 8,8-11; Ga
11,1-45
ĐỔI MỚI ĐỜI SỐNG TRONG ĐỨC GIÊSU KITÔ.
Suy niệm 1:
Hôm nay Chúa nhật cuối cùng của
Mùa Chay. Đây là lúc chúng ta cần nhìn lại chặng đường mà phụng vụ lời Chúa đã
dẫn ta đi trong suốt những tuần qua.
- Chúa nhật I MC: Phụng vụ lời Chúa mời chúng
ta hiệp hành cùng với Đức Giêsu đi vào sa mạc dưới sự tác động của Chúa Thánh
Thần, để chay tịnh tâm hồn, rèn luyện ý chí, nâng cao đời sống tinh thần. Luôn
lấy Lời Chúa làm vũ khí để chiến đấu với ba thù là xác thịt, thế gian và ma
quỷ. Tin rằng chúng ta cũng sẽ chiến đấu và chiến thắng vẻ vang như Đức Giêsu.
- Chúa nhật II MC: Phụng vụ lời Chúa mời gọi
chúng ta cùng lên núi cao với Đức Giêsu. Trên núi cao ta sẽ dễ dàng tiếp xúc
thân mật với Thiên Chúa ngang qua đời sống cầu nguyện, và nhờ tích cực thực
hành Lời Con yêu dấu của Chúa Cha chỉ dạy, mà đời sống ta được biến đổi mỗi
ngày nên tốt đẹp hơn.
- Chúa nhật III MC: Phụng vụ lời Chúa mời gọi
chúng ta theo chân Đức Giêsu ra đi đến vùng ngoại vi để gặp gỡ những người bất
đồng tôn giáo, xa cách về quan niệm sống, mặc cảm về tội lỗi. Chính bên bờ
giếng tổ phụ Gia-cóp, Đức Giêsu đã khơi dậy tinh thần hòa hợp dân tộc khi vượt
qua mọi rào cản để gặp gỡ, lắng nghe và phân định cùng với người phụ nữ và dân
thành Samari dưới ánh sáng Lời Chúa.
Tại nơi đây Đức Giêsu đã xác
quyết
“việc tôn thờ TC không phải nơi này hay nơi kia mà phải trong Chân lý và
Thần khí.” Và thật ngỡ ngàng, qua cuộc đối thoại ấy, người phụ nữa và
dân làng đã tin nhận Người chính là nguồn nước trường sinh, uống vào sẽ không
còn khát nữa, nguồn nước trường sinh ấy mang tên là “Giêsu”.
- Chúa nhật IV MC: Phụng vụ lời Chúa tiếp tục
mời gọi chúng ta theo chân Đức Giêsu rảo bước trên khắp nẻo đường đời, hòa nhập
vào cuộc sống của những người đang gặp đau khổ do bệnh tật và tội lỗi gây nên,
để đồng cảm và ra tay nâng đỡ, chăm sóc, cứu giúp họ bằng tất cả tấm lòng yêu
thương, với mong muốn đem lại ánh sáng niềm vui, hy vọng tươi sáng cho những ai
biết tin nhận vào Đức Giêsu là Ánh sáng đích thực đã đến trần gian.
- Chúa Nhật V MC hôm nay, phụng vụ Lời Chúa
lại thúc bách chúng ta hiệp hành cùng Đức Giêsu đến với những ai đang sống
trong tình cảnh đau buồn vì mất đi người thân. Bằng tình thương và quyền năng,
Đức Giêsu đã phục sinh Lazarô, mang lại niềm tin và hy vọng vào sự sống vĩnh
cửu cho những ai biết tin tưởng và cậy trông vào quyền năng của Ngài.
Như thế, Chúa Giêsu đã đi bước
trước trong lối sống hiệp hành, bằng cách chấp nhận bước xuống trần, đã ra đi
đến hết mọi nẻo đường, đã len lỏi vào mọi ngõ ngách của cuộc đời. Ngài đã sống
và cảm nếm hết mọi nỗi buồn-vui, sướng-khổ, vinh-nhục, giàu- nghèo,
sang-hèn…của kiếp người.
- Ngài đã từng chiến đấu cam go
với những cám dỗ do ma quỷ gây ra và đã chiến thắng nhờ vào sức mạnh Lời Chúa
và sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
- Ngài cũng vượt qua mọi khó nhọc
để lên núi cao, tiếp xúc thân mật với Chúa Cha bằng đời sống cầu nguyện không
ngừng, cho nên dung nhan Ngài được biến đổi nên sáng ngời.
- Ngài đã không ngần ngại ra đi
đến vùng ngoại vi nhằm phá bỏ những bức tường ngăn cách, xây dựng lại nhịp cầu
hiệp thông trong chân lý và niềm tin; nhất là ban cho họ nguồn nước trường
sinh, làm no thỏa mọi nỗi khát vọng vào chân lý của con người.
- Ngài cũng lân la vào những làng
mạc, sải bước trên những con đường quanh co, gặp gỡ những con người đau đớn về
thể xác và khổ sở về tinh thần, đã chữa lành, phục hồi nhân phẩm, đem đến ánh
sáng niềm vui và sự sống cho bao người.
- Ngài sẵn sàng hiện diện nơi
những gia đình đang gặp hoạn nạn đau khổ, để an ủi, động viên đem lại niềm vui,
hy vọng và khơi dậy lòng tin nơi họ. Với tấm lòng yêu thương, Ngài đã đến tận
ngôi mộ chôn xác Lazarô để ban lại sự sống cho anh, bởi chính Ngài là chủ của
sự sống: "Ta là sự sống lại và là sự sống, Ai
tin vào Ta thì dầu có chết cũng sẽ được
sống." (Ga 11,25).
Mùa chay, Chúa cũng mời gọi chúng
ta hãy đi đến mọi ngả đường của cuộc sống, bước qua mọi ranh giới của nghi kị
và đi vào tận bên trong tâm hồn của tha nhân, để nhận ra những lo toan, trăn
trở, vất vả thường ngày của anh chị em mình; để chứng kiến những nỗi buồn, đau
khổ và bất hạnh của những người già cả, bệnh tật, thiếu thốn, của những gia
đình bất hòa, ly tán, thiếu vắng tình thân… mà cảm thông, chia sẻ và nâng đỡ họ
vượt qua mặc cảm tội lỗi, nghèo khổ, thiếu thốn...
Chúa cũng thiết tha mời gọi chúng
ta đến với bất cứ ai, dù là lương hay giáo; người thân quen hay xa lạ; với
người dễ thương hay khó thương, người đồng thuận hay kẻ chống đối, người đau
khổ thể xác hay tinh thần; bạn hay thù… Ta hãy lên đường đi đến mọi nơi, gặp gỡ
mọi người bất chấp đường xa, lắm chông gai, thuận tiện hay khó khăn; bất luận
đêm hay ngày, mưa hay nắng để ta thăm viếng, giải hòa, xua tan mặc cảm, ban
tặng niềm vui và hy vọng bằng chính tình yêu chân thành của ta theo tinh thần
của Chúa Giêsu.
Làm được như vậy mùa chay thánh
mới thật sự mang lại nhiều ơn ích lợi liêng liêng cho đời sống đức tin của
chúng ta. Sống được như thế chúng ta mới làm cho ánh sáng Tin mừng tình
thương của Chúa được lan tỏa đến mọi người và mọi nơi. Khi thi hành những
điều trên là chúng ta đang canh tân lại đời sống theo tinh thần sám hối của mùa
chay, để rồi như thánh Phaolô, ta có thể hãnh diện nói rằng: “Tôi sống nhưng không phải là
tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2,20).
Amen.
Suy niệm 2:
Cùng với GH hôm nay chúng ta bước
vào Chúa Nhật cuối cùng của Mùa Chay, mùa của chay tịnh và cầu nguyện, của bác
ái và sám hối để chết đi cho tội lỗi với niềm hy vọng được sống lại với Chúa
Kitô.
Phụng vụ Lời Chúa tuần này mời
gọi chúng ta mạnh dạn hiệp hành cùng với Chúa Giêsu trên mọi nẻo đường đời, bởi
Ngài là sự sống lại và là sự sống, tin và bước theo Ngài ta cũng sẽ được cùng
sống lại với Ngài.
Xin cho chúng ta luôn can đảm
vững bước theo Chúa, với niềm hy vọng được sống lại trong ngày sau hết để hưởng
phúc đời đời.
Truyện kể: Tần Thủy Hoàng sinh năm 259 TCN.
Ông là vị vua thứ 36 của nước Tần và là người đầu tiên chấm dứt thời kỳ Chiến
quốc, thống nhất Trung Quốc. Kế vị cha, ông lên ngôi vua từ năm 13 tuổi và trở
thành hoàng đế ở tuổi 38. Sau khi chinh phục 6 nước chư hầu, Tần Thủy Hoàng tự
đặt cho mình danh xưng Thủy hoàng đế với mục đích chứng minh rằng nhà Tần vĩ
đại hơn các triều đại khác. Theo sử sách ghi lại thì Tần Thủy Hoàng rất
sợ chết, ông muốn được trường sinh bất tử, nên tìm đủ mọi cách để được cải lão
hoàn đồng. Một hôm, các chiêm tinh gia kể cho ông nghe về một hòn đảo thần tiên
ở biển Đông, dân cư ở đây đã khám phá ra bí quyết trường sinh. Tần Thủy Hoàng
liền phái một số tầu thuyền chất đấy châu báu lên đường, hy vọng đổi được bí
quyết trường sinh. Nhưng dân chúng không đổi cho ông bí quyết trường sinh của
họ.
Thế rồi ông
lo xây nhà mồ như cung điện nguy nga rộng lớn, lấy châu ngọc làm tinh tú, lấy
thủy tinh làm sông ngân hà, lấy vàng bạc lát tường và chôn sống hàng trăm cung
nữ trong đó, để kiếp sau được sống như thần tiên. Nhưng kẻ tàn bạo ham sống ấy
chỉ làm vua được hơn chục năm và sống trên năm mươi tuổi thì chết đi.
Câu chuyện trên
cho ta hiểu rằng, sự sống vô cùng quý giá nên người đời thường hay bảo: “mạng sống
hơn đống vàng” là vậy! Ai cũng khao khát được sống, sống lâu, sống khỏe. Cho
nên người ta tìm mọi cách ăn uống, tập luyện, thuốc men để sống. Tuy nhiên cho
dù nhân loại có văn minh, tiến bộ đến đâu thì cũng không tài nào thoát khỏi
được lưỡi hái của Tử thần.
Thế nhưng thật
bất ngờ, Chúa Giêsu đã đến trần gian và đem theo bí quyết trường sinh bất tử khi
Ngài công bố: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy
sẽ không bao giờ phải chết.” Bởi lẽ Ngài là người nhưng cũng là Thiên
Chúa nên Ngài đã dùng chính thần lực của mình mà đánh bại thần Chết để giải
thoát muôn người thoát khỏi nanh vuốt của Tử thần.
Ngài đã đánh bại
thần Chết khi làm cho con gái ông Giai-rô mới chết được sống lại. Ngài đã đánh bại thần Chết khi cho người con trai bà góa
thành Na-in đang được người thân mang đi chôn được trở về với cuộc sống; Ngài
đã đánh bại thần Chết khi làm cho La-da-rô,
cho dù đã chết bốn ngày rồi được sống lại, từ giã ngôi mộ đá, quay về đoàn tụ
với bao người thân yêu. Đặc biệt
nhất là Ngài đã tự mình sống lại và đã lên trời vinh hiển.
Như vậy, Đức
Giêsu chính là vị Cứu tinh cao cả nhất của nhân loại, Ngài đã giúp loài người
thoát khỏi gông cùm của sự chết và ban cho con người sự sống đời đời. Cho nên
từ đây ai biết tin vào Ngài và sống hiệp thông với Ngài thì sẽ có được sự sống
đời đời. Tựa như bóng đèn có toả sáng thì cần phải được nối kết
với nguồn điện; cành nho có trổ sinh
nhiều hoa thơm trái ngọt thì nó phải được tháp nhập vào thân nho; cũng
vậy bàn tay muốn có sự sống và hoạt động thì cần
phải nối liền với thân thể…Vậy muốn có được sống đời đời thì chúng ta cần phải
kết nối chặt chẽ với Chúa Giê-su là nguồn sống, để sự sống đời đời của Chúa
Giê-su được lưu truyền trong chúng ta.
Nhờ bí tích Rửa Tội, Chúa đã nối kết chúng ta nên một với
Chúa, để được trở thành chi thể của Ngài. Qua bí
tích Thánh Thể, Chúa Giêsu cho chúng ta được trở nên đồng huyết nhục với
Chúa và từ đó, sự sống thần linh của Chúa được thông truyền cho chúng
ta.
Tiếc
thay, khi phạm tội trọng, chúng ta đã tự cắt lìa mình ra khỏi Chúa như cành nho
lìa thân nho, như bàn tay bị cắt lìa khỏi cơ thể và như thế chúng ta đánh mất
sự sống đời đời.
Xin cho chúng ta sớm giao hoà với
Chúa qua bí tích Giải Tội, để được nối kết lại với Chúa, để cho sự
sống thần linh của Chúa tiếp tục thông truyền cho chúng ta. Amen
Suy niệm 3:
Phụng vụ Lời
Chúa hôm nay nhấn mạnh đến hai chữ “Chết” và “Sống”
Bài đọc I trích
sách tiên tri Êdêkien. Tiên tri Edekien nhìn thấy một thị kiến về
những bộ xương khô nằm la liệt trên thung lũng. Đó là hình ảnh nói về dân tộc
Ítraen đã bị tàn lụi do tội lỗi, bệnh tật và những khó khăn khi họ sẽ phải sống
trong cảnh lưu đày bên Ai-cập.
Ngài cũng ý thức
dân chúng rằng: nếu họ sống ở trong đất nước mình, nhưng họ vẫn còn ở xa Thiên
Chúa, thì họ vẫn còn ở trong sự lưu đày tinh thần hay ở trong sự chết. Và chỉ
có Thần Khí Đức Chúa mới có thể giải thoát họ khỏi cảnh lưu đày và sự chết như
thế. Cho nên Thiên Chúa hứa ban Thần Khí cho họ, nhờ đó, họ sẽ được tái sinh và
phục hồi sự sống cách mạnh mẽ. Thiên Chúa phán: “Đây Ta sắp
cho Thần Khí nhập vào các ngươi và các ngươi sẽ được sống… Hỡi dân Ta, này
chính Ta mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt và đem các
ngươi về đất Ítraen." (Ed
37,6.13).
Bài đọc II,
trích thư thánh Phaolô gửi tín hữu Roma, ngài nhắc nhở các tín
hữu Roma rằng chỉ có Thánh Thần của Chúa Giêsu mới có thể mang lại sự sống cho
họ: “Nếu… Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, thì
Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của
Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới.” (Rm 8,11).
Nói khác đi,
không có Thần Khí của Đức Chúa, con người dù khỏe mạnh cũng như chết. Đó là lý
do tại sao Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng: “Thần khí mới làm cho sống, chứ xác
thịt chẳng có ích gì.” (Ga
6,63). Ví thế trong thư gửi cho tín hữu Epheso, thánh Phaolô đã nhắc nhở chúng ta rằng: “Anh em chớ làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa” (Ep 4,30).
Bài Tin Mừng hôm nay
trình thuật về phép lạ Chúa Giêsu đã làm cho Ladaro sống lại. Qua
phép lạ này mình chứng cho chúng ta biết về quyền năng của Thiên Chúa nơi Đức
Giêsu. Ladarô là người bạn được Chúa Giêsu yêu quý, anh bị bệnh nặng. Chị Mácta
và Maria chạy đến xin Chúa cứu chữa, nhưng khi Chúa Giêsu đến, Ladarô đã chết
và được mai táng trong mồ đã 4 ngày rồi. Khi chứng kiến cảnh đau buồn này, Chúa
Giêsu đã khóc thương anh.
Máctha nói với
Chúa: “Nếu Thầy ở đây, em con đã không chết,” có lẽ đó là một
lời trách móc. Nhưng Chúa Giêsu nói với chị: “Em chị sẽ sống lại.” Mácta
nghĩ rằng Người đang nói về sự sống lại trong ngày sau hết. Nhưng Chúa Giêsu
muốn xác nhận trong hiện tại: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống,
ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Chị có tin thế
không?”.
Cô trả
lời: “Con tin.” Và quả thật khi đến bên mộ, Chúa
Giêsu truyền cho lật viên đá cửa mồ ra, rồi Người lớn tiếng gọi: “Ladarô,
hãy đi ra đây!” Và thật bất ngờ người chết trỗi dậy và đi ra khỏi mồ.
Như thế, qua
phép lạ này, Chúa Giêsu minh chứng rằng Người thực sự là sự sống lại và sự sống.
Người làm phép lạ này nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần.
Hơn nữa phép lạ
cho Ladarô sống lại là hình bóng báo trước về sự phục sinh của Chúa Giêsu sau
này. Ở đây cũng cần phân biệt sự phục sinh của Ladarô khác biệt với sự phục
sinh của Chúa Giêsu.
Ladarô chết và
sống lại, nghĩa là quay lại sự sống trước đó (bios), chỉ là sự sống tạm thời ở
đời này. Còn Chúa Giêsu phục sinh là người đầu tiên đi vào sự sống mới, sống sự
sống vĩnh cửu (zéon). Và một khi đã sống lại, Chúa Giêsu không còn chết nữa;
còn Ladarô thì cũng sẽ phải chết.
Vậy qua phép lạ Chúa Giêsu cho
Ladaro sống lại muốn nói với chúng ta điều gì?
Trước hết, phép lạ này là
một sự diễn tả về tình yêu. Chúa Giêsu yêu quý Ladarô, Người đến thăm anh và
gia đình vì Người yêu quý họ. Niềm vui của họ là niềm vui của Người, và nỗi
buồn của họ là nỗi buồn của Người.
Thứ đến, đức tin là yếu
tố vô cùng quan trọng để quyền năng của Chúa được thực hiện trên chúng ta. Vì
vậy mà Chúa Giêsu đã nói với Mácta: “Thầy là sự sống lại và là sự sống.
Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.” (Ga 11,25).
Bài học cuối
cùng là Chúa
Giêsu có quyền năng trên sự sống và sự chết. Người luôn sẵn sàng cứu giúp chúng
ta với bất kỳ giá nào.
Chúa Giêsu yêu
mến và gọi chúng ta bằng tên riêng như Người gọi Ladarô: “Ladarô, hãy
ra đây!” Nếu chúng ta lắng nghe và vâng lời Người, Người sẽ mang lại
sự sống, sự phục sinh cho sự yếu hèn và thân xác hay chết nhờ quyền năng Chúa
Thánh Thần. Amen! (St).
Suy niệm 4:
Có
một ông chồng kia than thở với bạn:
- “Không
hiểu sao vợ tôi dạo này lạnh lùng quá… nói chuyện thì cụt ngủn, ăn cơm thì im
lặng… giống như ‘người cõi âm’ vậy!”
Anh
bạn hỏi lại:
-
“Thế ông có làm gì không?”
Ông
chồng trả lời tỉnh bơ:
-
“Có chứ! Tôi cũng… im luôn cho ‘đúng không khí’!”
Kết
quả là… cả nhà trở thành một “nghĩa địa mini”, ai cũng sống, mà như không sống!
Câu chuyện vui nhưng lại rất thật: có những gia
đình không chết về thể xác, nhưng
lại đang chết dần trong tình nghĩa và
đức tin.
1. Phụng
vụ hôm nay không chỉ nói về cái chết, mà là quyền năng của Thiên Chúa trên sự chết.
- Bài đọc I, Ngôn
sứ Êdêkien loan báo: “Ta sẽ mở mồ cho các ngươi… Ta
sẽ cho Thần Khí của Ta vào trong các ngươi, và các ngươi sẽ được sống.” Đây không chỉ là lời hứa cho dân Israel xưa, mà
còn là lời hứa cho mỗi gia đình hôm nay: Thiên Chúa có thể mở những ngôi mộ đóng kín trong lòng ta, và làm cho điều tưởng như
đã chết… được sống lại.
- Bài đọc II, Thánh
Phaolô nói rất rõ: Ai sống theo xác thịt thì không thể đẹp lòng Chúa.
Còn ai có Thần Khí Chúa thì sẽ được sống. Và điều quan trọng: Chính Thần Khí đã làm cho Đức Kitô sống lại, cũng sẽ làm cho chúng ta
được sống.
Nghĩa là: Không phải chỉ “cố gắng” mà đủ, mà cần để Thánh Thần hoạt động trong gia đình mình.
- Đỉnh cao là bài Tin Mừng: Ladarô chết
đã 4 ngày. Mọi hy vọng dường như chấm dứt. Nhưng Chúa Giêsu đến… và gọi: “Ladarô,
hãy ra khỏi mồ!” Và người chết bước ra.
Chúa không chỉ làm phép lạ, mà còn mặc khải: “Thầy
là sự sống lại và là sự sống.”
3. Kính
thưa quý cộng đoàn,
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại chính
gia đình mình:
1. Những “ngôi mộ” trong
gia đình
Có những “ngôi mộ” không thấy bằng mắt, nhưng rất
thật:
- Mộ của im
lặng kéo dài.
- Mộ của tự
ái và cố chấp
- Mộ của thiếu
cầu nguyện
- Mộ của đức
tin nguội lạnh
Nhiều gia đình: vẫn ăn chung một bàn, nhưng không
còn chia sẻ; vẫn sống chung một nhà, nhưng lòng thì xa cách… Đó là tình trạng
“đang sống mà như đã chết”.
2. Thiên
Chúa muốn “mở mồ” gia đình chúng ta
Lời Chúa trong Êdêkien hôm nay như nói trực tiếp
với chúng ta: “Ta sẽ mở mồ cho các ngươi”
Có thể đó là: mồ của một cuộc hôn nhân đang nguội
lạnh, mồ của một mối tương quan bị rạn nứt, mồ của đời sống đạo đã bỏ bê lâu
ngày. Nhưng Thiên Chúa không bỏ cuộc. Ngài vẫn đến, vẫn gọi, vẫn chờ.
3. Sống
theo Thần Khí-chìa khóa hồi sinh gia đình
Thánh
Phaolô nhắc: Không có Thần Khí không có sự sống thật. Vậy gia đình sống theo
Thần Khí là gì?
- Biết cầu
nguyện chung
- Biết lắng
nghe nhau
- Biết tha
thứ
- Biết đặt
Chúa làm trung tâm
Gia trưởng và hiền mẫu không chỉ là người “quản lý
gia đình”,
mà là người dẫn gia đình sống theo Thần
Khí.
4.
Nghe tiếng Chúa: “Hãy ra khỏi mồ!”
Hôm nay, Chúa cũng gọi từng người chúng ta: “Hãy
ra khỏi mồ!”.
Ra khỏi giận
hờn lâu năm
Ra khỏi thói
quen lạnh nhạt
Ra khỏi lối
sống không có Chúa
Và đặc biệt, Chúa còn nói: “Hãy cởi khăn và để anh ấy đi”
Nghĩa là: không chỉ Chúa làm, mà mỗi người trong
gia đình cũng phải giúp nhau tháo gỡ
những ràng buộc: định kiến, tổn thương, quá khứ…
Kính thưa cộng đoàn,
Mùa Chay không phải là thời gian buồn bã,
mà là thời gian Thiên Chúa mở mồ và ban
sự sống.
Ước
gì mỗi gia trưởng và hiền mẫu hôm nay: để cho Chúa chạm vào những “vùng chết” trong gia đình mình, để cho Thần Khí thổi sự sống mới vào mái ấm. Để rồi
gia đình chúng ta không còn là “ngôi mộ kín”, nhưng trở thành: nơi có sự sống, yêu thương và niềm hy vọng
phục sinh. Amen.
Suy niệm
5: CHÚA
GIÊSU – NGUỒN SỰ SỐNG
Có một câu hỏi rất thật mà ai
trong chúng ta cũng từng đối diện: Điều gì là đáng sợ
nhất: cái chết thể xác hay sự chết trong tâm hồn?
Phụng
vụ Lời Chúa hôm nay đưa chúng ta đến một ngôi làng nhỏ Bêtania, nơi có một cái
chết rất đau thương: Ladarô chết và đã chôn bốn ngày.
Nhưng chính tại nơi tang tóc đó, Chúa Giêsu mặc khải một chân lý vĩ đại: “Thầy là sự sống lại và là sự sống.”
1. Bài đọc I, ngôn sứ Êdêkien loan báo: “Ta sẽ mở huyệt cho các ngươi… và cho thần khí Ta vào trong các ngươi,
và các ngươi sẽ được sống.”
Hình ảnh “mồ” ở đây không chỉ là
mồ chôn thể xác, mà còn là mồ của tuyệt vọng, tội lỗi, thất vọng, và
nguội lạnh đức tin. Có
khi chúng ta vẫn sống, nhưng: sống trong giận hờn, sống trong ích kỷ, sống
trong khô khan, không còn cầu nguyện. Đó là sự chết của tâm hồn. Nhưng Thiên Chúa không chấp nhận điều
đó. Ngài luôn muốn mở mồ cho chúng ta, nghĩa là
kéo ta ra khỏi tình trạng chết chóc ấy.
2. Tin Mừng kể lại một chi tiết rất cảm động: “Chúa Giêsu
đã khóc.” Ngài khóc vì: thương người bạn Ladarô; vì cảm thông với nỗi
đau của Mácta và Maria. Và sâu xa hơn, Ngài đau vì cái chết đang thống trị con người.
Điều này cho thấy: Thiên Chúa không xa lạ với đau khổ của chúng ta. Ngài không đứng ngoài, nhưng đi vào và chia sẻ.
3. Khi đến mồ, Chúa Giêsu đã kêu lớn: “Ladarô, hãy ra khỏi mồ!” Và người chết đã bước ra. Đây không chỉ là phép lạ cho Ladarô, mà là lời gọi cho từng người
chúng ta hôm nay:
- Ai đang ở trong “mồ” của tội
lỗi, hãy bước ra;
- Ai đang ở trong “mồ” của thất
vọng, hãy bước ra;
- Ai đang ở trong “mồ” của thói
quen xấu, hãy bước ra;
Nhưng để bước ra, cần một điều
rất quan trọng: Phải tin vào Chúa.
Chúa đã nói với Mácta: “Chị có tin
không?” Đó cũng là câu hỏi dành cho chúng ta.
4. Thánh Phaolô nhắc chúng ta: Ai sống theo Thần Khí thì thuộc
về sự sống. Tin không chỉ là nói “con tin”, mà là: dám bỏ tội lỗi, dám thay đổi,
dám sống theo Tin Mừng. Tin là để cho Chúa dẫn mình ra khỏi mồ.
Chúa nhật V Mùa Chay như một bước
cuối trước Tuần Thánh. Giáo Hội mời gọi chúng ta nhìn lại: Tôi đang sống hay
đang “chết dần” trong đời sống thiêng liêng? Có “ngôi mồ” nào trong tâm hồn tôi
chưa mở ra cho Chúa không? Hôm nay, Chúa vẫn đang gọi: “Hãy ra khỏi mồ!”
Ước gì mỗi người chúng ta biết: mở lòng, tin tưởng, và bước ra, để được sống thật, sống dồi dào, để chuẩn bị đón nhận ánh sáng Phục Sinh.
Suy niệm 6:
Có một bài hát quen thuộc từng chạm đến trái tim của biết bao người: “Cát bụi” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Lời ca gợi lên một cảm thức rất thật: đời người mong manh, ngắn ngủi, rồi cũng trở về với cát bụi. (Hát)
Quả thật,
nhìn vào cuộc sống, chúng ta dễ nhận ra thân phận con người thật nhỏ bé: Sinh
ra từ bụi đất, trải qua bao vui buồn, thành bại, và cuối cùng… cũng trở về bụi
tro. Cảm thức ấy đôi khi khiến nhiều người trong chúng ta rơi vào bi quan, chán
nản, thậm chí tuyệt vọng. Nhưng Lời Chúa hôm nay lại mở ra cho chúng ta
một chân trời hoàn toàn khác: Không phải chỉ là cát bụi, mà là cát bụi được
Thiên Chúa thổi vào đó sự sống.
1. Trong bài
đọc I, ngôn sứ Êdêkien loan báo về một thị kiến đầy hy vọng: Thiên Chúa sẽ mở
các huyệt mộ và cho dân Ngài sống lại. Đối với dân Israel đang lưu đày và sống
trong tình trạng tuyệt vọng, thì lời hứa đó đem lại niềm hy vọng lớn lao rằng:
Thiên Chúa có thể làm cho điều đã chết được sống lại.
Còn trong bài
Tin Mừng minh chứng cho điều ấy, khi Chúa Giêsu gọi ông Ladarô từ cõi chết sống
lại và bước ra. Một người đã chết bốn ngày, thân xác đã bắt đầu phân hủy… Vậy
mà chỉ với một lời của Chúa phán: “Ladarô, hãy ra ngoài!” Tức khắc sự sống đã
chiến thắng sự chết.
Qua đó cho thấy:
Đối với Thiên Chúa, không có gì là hoàn toàn kết thúc trong tuyệt vọng. Ngay cả
cái chết, Ngài cũng có thể biến thành sự sống.
2. Chúng ta
có thể chưa chết về thể xác, nhưng nhiều khi lại đang chết dần trong tâm hồn:
Sống mà không
còn niềm tin. Sống mà không còn yêu thương. Sống trong tội lỗi mà
không muốn hoán cải. Sống với một tâm hồn chai đá, nguội lạnh...Đó là
tình trạng “đã chết dẫu đang sống”.
Giống như
Ladarô bị chôn trong mồ, nhiều khi tâm hồn chúng ta cũng bị “chôn vùi”: trong
ích kỷ, trong giận hờn, trong những thói quen xấu… mà chính chúng ta lại không
muốn bước ra.
3. Điều cảm động
nhất trong Tin Mừng hôm nay là: Chúa Giêsu không đứng xa, mà Ngài đã đến gần
ngôi mộ, và Ngài đã khóc. Cho thấy Thiên Chúa không dửng dưng trước nỗi đau tuyệt
vọng của con người.
Hôm nay, Ngài
cũng đang gọi mỗi người chúng ta: “Hãy ra khỏi mồ!” Ra khỏi lối sống cũ.
Ra khỏi tội lỗi. Ra khỏi sự nguội lạnh của tâm hồn. Và nếu để ý, Tin Mừng hôm
nay có một chi tiết rất đẹp: Sau khi Ladarô bước ra, Chúa còn nói: “Hãy cởi
khăn và để anh ấy đi.” Điều đó muốn nói rằng: Chúng ta không thể tự mình
sống lại trọn vẹn, mà cần đến cộng đoàn, cần đến nhau, để tháo gỡ những ràng buộc
cuộc sống chúng ta, bằng cách nâng đỡ nhau trên hành trình của đời sống mới.
4. Nếu chỉ dừng
lại ở “cát bụi”, thì đời người thật buồn. Nhưng với đức tin, chúng ta xác tín rằng:
Cát bụi không phải là kết thúc. Cái chết không phải là dấu chấm hết. Chân lý ấy
đã được Thánh Phaolô xác quyết qua bài đọc 2: “Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Kitô sống lại cũng sẽ làm cho anh em
được sống.”
Vì thế, người
Kitô hữu: Không sống trong tuyệt vọng. Không sợ hãi trước cái chết.
Nhưng luôn sống trong niềm hy vọng phục sinh.
Kính thưa cộng
đoàn,
Bài hát “Cát
bụi” nhắc chúng ta nhớ đến thân phận mong manh của phận người. Nhưng Lời Chúa
hôm nay lại nâng chúng ta lên một tầm cao mới: Từ cát bụi… Thiên Chúa làm nên sự
sống. Từ cái chết… Ngài dẫn lối ta vào hy vọng phục sinh.
Ước gì trong những ngày cuối cùng của Mùa Chay, mỗi người chúng ta
biết lắng nghe tiếng Chúa mời gọi: “Hãy ra khỏi mồ!” Để chúng ta: được sống
lại trong ân sủng, được đổi mới trong tình yêu, mà sẵn sàng bước vào niềm vui
Phục Sinh phía trước. Amen.
Thứ hai: Ga 8, 1-11
Suy niệm 1:
Cổ nhân đã nói: “Nhân vô thập
toàn”, là người không ai hoàn hảo cả. Mang thân phận con người ai trong chúng
ta cũng bất toàn, đây những thiếu sót và tội lỗi. Vì thế cần phải khiêm tốn sám
hối.
Dám nhận mình thiếu sót, tội lỗi
và can đảm sửa đổi, mới được xem là bậc anh hùng, quân tử. Mạnh dạn đứng lên,
đổi mới đời sống theo thánh ý của Chúa sau khi vấp ngả mới xứng danh là người
Kitô hữu và xứng bậc là con Chúa. Đó chính là sứ điệp lời Chúa hôm nay muốn nói
với chúng ta.
Ta có thể xem đoạn tin mừng hôm
nay như là vở kịch gồm 3 phần, nói về vụ án nỗi tiếng lịch sử nhân loại được
mang tên là: "người đàn bà ngoại tình né đá"
Phần 1. Tố cáo tội
phạm: những người đứng ra tố cáo tội phạm là các kinh sư và biệt
phái. Họ tố một người phụ nữ bi bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình. Họ lôi
kéo và xô đẩy chị ta ra trước toà án công cộng. Đại diện quan toà bất đắc dĩ họ
buộc phải đứng ra xét xử vụ án này là Đức Giêsu. Bởi người mà những kinh sư và
biệt phái nhắm đến để tố cáo và lên án tử không phải là tội nhân mà là chính
quan toà Giêsu.
Phần 2. Cách thức xử án: Để xét xử
đúng người, đúng tội, Đức Giêsu không kết án vội vàng đưa ra phán quyết, mà
Ngài lại khôn khéo đưa dẫn mọi người trở về với lòng mình với một khoảng lặng
vừa đủ. Sau đó, Ngài mới đặt ra một câu hỏi mang tính tra vấn: "Ai
trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này truớc đi!". Khi trở về
đối diện với lương tâm, ai nấy đều nhận ra sự thật về mình mang đầy thiếu sót
và tội lỗi, cần phải sám hối hơn là lên án. Nhờ đó, họ bắt đầu nới lỏng tay và
từ từ buông bỏ những hòn đá nặng trĩu xuống đất; rồi lần lượt rút lui khỏi pháp
trường; bắt đầu từ những người lớn cho đến người nhỏ nhất. Tình thế giờ đây
được thay đổi, từ vị trí kẻ lên án, tố cáo người khác, giờ đây họ trở thành kẻ
bị tố. Từ người tưởng mình vô tội, cho phép mình cầm đá ném vào người khác, giờ
đây trở thành những có tội, xứng đáng đón nhận những trận mưa đá ném vào chính
mình.
Phần 3. Tuyên bố trắng án: Sau khi
Chúa Giêsu khéo léo đưa dẫn mọi người trở về lòng mình và nhận ra những tội lỗi
của bản thân mà bỏ đi hết, thì Ngài mới tuyên bố trắng án cho người phụ nữ
ngoại tình, khi nói với chị ta: "Ta không kết tội chị. Vậy chị hãy
đi và từ nay đừng phạm tội nữa!".
Vở kịch hạ màn, mọi người ra đi,
lòng mang theo nhiều bài học đáng giá cho đời mình:
- Bài học về lòng người thật hiểm
ác. Luôn tìm cách hãm hại, lên
án, tố cáo người khác bằng cách giăng ra những cái bẫy tinh vi nhằm hãm hại và
giết chết những ai họ không ưa thích. Đại diện cho thành phần ấy là các kinh sư
và biệt phái.
- Bài học về hiệu ứng đám
đông có khi phủ lấp chân lý. Sự mù quáng thiếu tỉnh táo của đám đông
dân chúng có mặt hôm đó trước sân đền thờ Giêrusalem đã tạo nên một làn sóng
phẩn nộ mạnh mẽ, có sức mạnh khủng khiếp che lấp tình thương và công lý, có
nguy cơ đưa đẩy người phụ nữ vào con đường cùng vô phương cứu chữa. Mù quáng
hùa theo dư luận đám đông sẽ dễ dàng sai lầm, đẩy người khác vào cái chết không
đáng.
- Bài học về phân định. Trong mọi vấn đề rất cần sự
biện phân định, bằng cách tạo được khoảng cách tâm lý, khi dành ra những giây
phút thinh lặng để bình tâm suy xét dưới sự tác động của CTT, nhờ sự soi sáng
của lời Chúa. Nhờ thế, ta mới có thể tránh được những sai lầm đáng tiếc, trước
khi đưa ra những quyết định.
- Bài học trước hết và trên hết
là tình thương, nhờ đó ta mới có
được cái nhìn đúng đắn, tấm lòng nhân ái với hết mọi người, nhất là những ai
lầm lỗi. Tha thứ mở ra cho người khác một tương lai hy vọng, bao dung tha thứ
cho người khác là cũng chính là bao dung tha thứ cho chính mình. Quy kết, lên
án và tiêu diệt người khác là ta đã nhẫn tâm đóng chặt cánh cửa tương lai đổi
mới cho người khác và cho chính mình. Hãy tha thứ để được Chúa thứ tha!
Suy niệm 2:
Bài tin mừng hôm nay làm nỗi bật
lên hai hình ảnh đối lập nhau:
1. Hình ảnh của một vị TC giàu
lòng thương xót nơi Đức Giêsu luôn bao dung, nhân từ tha thứ với mong muốn mở
ra con đường sống và một tương lai hy vọng cho những ai lầm lỗi thiếu sót. Bởi
thế, Người khẳng định: “Ta đến không phải để kêu mời người công chính, nhưng để
gọi kẻ tội lỗi ăn năn hối cải" (Lc 5,32).
Với cái nhìn bao dung và lời nói tha
thứ cho người phụ nữ phạm tội ngoại tình, Chúa Giêsu đã tháo cởi nút thắt để
giải thoát chị khỏi án tử.
2. Hình ảnh của những kinh sự và
biệt phái: tự cho mình là người công chính và cho phép mình cái quyền lên án
người khác. Họ chỉ biết nhìn vào những lỗi lầm người khác để lên án, cáo buộc,
lọi trừ và giết chết. Họ muốn đóng kín lại tương lai của người khác hơn là khơi
mở con đường sống và hy vọng cho những ai lầm đường lạc lối. Có thể đó cũng
chính là thái độ của chúng ta.
Xin cho chúng ta biết khiêm tốn
nhận ra những làm lỗi thiếu sót của mình để biết cảm thông và bao dung với
những yếu đuối, tội lỗi của người khác. Và ta cũng hiểu rằng: Chúa yêu thương
người có tội chứ không yêu tội. Chúa bao dung tha thứ cho tội nhân, chứ không
phải dung túng cho phạm tội. Vì thế, sau khi tha thứ cho người phụ nữ ngoại
tình, Chúa đã nhắc nhở chị: “Ta không kết tội chị. Vậy chị hãy đi và từ nay
đừng phạm tội nữa!”. Khi lãnh nhận bí tích giao hoà, chúng ta cũng hãy cố gắng
dốc lòng chừa mà canh tân đổi mới đời sống!
Thứ ba: Ds 21,4-9; Ga
8, 21-30
Suy niệm 1:
Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho
chúng ta biết Ngài là ai, đến từ đâu và con đường nào Ngài phải đi. Xin cho
chúng ta luôn vững tin vào Chúa và vững bước theo Ngài.
Một lần nữa, Chúa Giêsu lại kiên
nhẫn cố gắng giúp cho những người Biệt Phái cứng lòng nhận biết: Ngài là ai,
đến từ đâu và còn đường Ngài đi là gì?
Ngày nay chúng ta đã hiểu con
đường Chúa đã đi qua là con đường thập giá. Chính Chúa Giêsu cũng đã nói về con
đường ấy trong bài tin mừng hôm nay: “Khi các ông giương cao Con Người
lên, bấy giờ các ông sẽ biết tôi là Tôi Hằng Hữu”.
Con đường thập giá là con đường
đẹp ý Chúa Cha. Nhưng lại ngược với tư tưởng và ước muốn lựa chọn của con
người. Bởi ai trong chúng ta cũng mong muốn có được cuộc sống tiện nghi, giàu
có, sung túc. Ai mà chẳng mong được danh vọng chức quyền. Chẳng ai muốn thập
giá của đau khổ, vất vả, cay đắng và chết chóc. Nhưng thực tế cho thấy, dù
không muốn ta vẫn không tránh khỏi. Vì thế, Chúa bảo chúng ta nếu tin vào Ngài
và cầu xin với Ngài, Ngài sẽ ban ơn trợ giúp để chúng ta đủ sức mạnh vác lấy
thập giá đời mình. Chúa Giêsu cũng đã nhiều lần kêu gọi: “Ai muốn theo
ta hãy từ bỏ mình vác thập giá mình mà theo”.
Đã rõ, Đức Giêsu là Đấng Hằng Hữu
đến từ Thiên Chúa và con đường cứu độ của Ngài là con đường Thập Giá. Vậy, để
được cứu độ thì không có con đường nào khác ngoài con đường thập giá Chúa đã đi
qua và đã phục sinh vinh quang.
Xin cho chúng ta biết:
- Từ bỏ ý riêng không hợp ý Chúa
để vâng nghe và thực thi ý Chúa.
- Vui vác thập giá mình bằng việc
đón nhận những hy sinh vất vả khó khăn thử thách trong cuộc sống mà không kêu
than, oán trách với niềm tin tưởng và yêu mến Thiên Chúa.
- Sẵn sàng bước đi theo Chúa
Giêsu chứ không theo một ai khác, với mong muốn mỗi ngày ta thấy mình được gần
Chúa và gần anh chị em hơn, bởi biết rằng chính Người là Đấng đã chết và sống
lại vì yêu thương ta.
Sống được như thế chúng ta sẽ
không bị luận phạt và không mang tội nơi mình mà chết. Trái lại sẽ được sống
trong Chúa với niềm hạnh phúc viên mãn.
Suy niệm 2:
Bài đọc 1, trích sách Dân số, trình thuật lại cuộc xuất hành của dân Do Thái ra khỏi cảnh nộ lệ, đau
thương bên Ai Cập, trở về đất hứa. Trên cuộc hành trình ấy, họ đã chứng kiến
bao phép lạ vĩ đại mà TC đã làm cho họ. Tuy nhiên, mỗi khi gặp gian khó họ lại
kêu trách Mô-sê và bất tín với Chúa. Nên Chúa đã cho rắn lửa bò ra cắn chết
nhiều người. Khi đó họ hoảng sợ và đã van xin Chúa cứu giúp. Mô-sê lại van xin
Chúa và Chúa bảo Mô-sê hãy đút rắn đồng treo trên cây, để khi những ai bị rắn
cắn, nếu biết tin tưởng nhìn lên rắn đồng, thì sẽ được sống.
Hình ảnh con rắn đồng treo cao
trên cây trong sa mạc, tiên báo về cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Để từ
nay, bất cứ ai nhìn lên Chúa với lòng tin tưởng, cậy trông thì sẽ được cứu độ.
Nhưng tiếc thay, thời nào cũng
vậy, có nhiều người không tin vào Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ trần gian, nên họ
không sống theo giáo huấn của Người. Trong đó có những người Do Thái thời
Mô-sê, nhất là các kinh sư và biệt phái thời Chúa Giêsu. Vì vậy, họ không xứng
đáng đón nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa.
Tuy nhiên, vì tình thương, Chúa
Giêsu rất kiên nhẫn và dùng mọi cách để thuyết phục họ. Nhưng vì họ mong ước
một Đấng Cứu Độ theo ý muốn của họ và vì cứng lòng nên họ không tin vào Người.
Rất có thể những ước muốn của
chúng ta ngày nay cũng giống như họ, cho dẫu ta vẫn tin Đức Giêsu là Đấng Cứu
Độ. Có không ít người trong chúng ta vẫn thích và đòi hỏi phép lạ nên đã thách
thức Chúa thực hiện mới tin; Cũng có khi ta gặp khó khăn, bệnh tật, nghèo khổ,
ta mong muốn Chúa làm dấu lạ để đáp ứng nhu cầu theo ý mình, nhưng không được
Chúa đáp ứng, ta lại chối bỏ Chúa và chạy theo những thần minh khác…Ta đâu có
biết rằng, TC luôn là Người Cha hằng yêu thương ta, luôn muốn mọi điều thiện
hảo nhất cho ta là con cái Người. Nên có lần Chúa Giêsu đã khẳng định với ta: “Các
con, dù là kẻ xấu, còn biết lấy của tốt mà cho con cái, thì huống chi Cha các
con, Ðấng ở trên trời, sẽ ban những sự lành biết bao cho kẻ cầu khẩn Người!” (Lc
7,11). Tuy nhiên với cái nhìn thiển cận, chúng ta chỉ biết xin những điều ta
tưởng là tốt cho lợi ích cá nhân, nhưng điều ấy lại phương hại đến phần rỗi đời
đời của ta mà ta không biết. Thế là ta đâm ra bất mãn, không tin và bỏ cầu
nguyện.
Xin Chúa cho chúng ta hiểu
rằng: “Tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi, và đường lối các
ngươi không phải là đường lối của Ta. Như trời cao hơn đất thế nào, thì
đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư
tưởng các ngươi thế ấy.” (Is 55,7-9). Vậy nên trong mùa chay này,
với niềm xác tín vững vàng vào Chúa, ta hãy can đảm từ bỏ
đường lối và tư tưởng của mình mà hãy trở về với Chúa.
Tin rằng Chúa sẽ ban cho ta những điều tốt lành vượt trên những gì chúng
ta mong ước.
Thứ tư: Is
7,10-14; 8,10; Dt 10,4-10; Lc 1,26-38
LỄ TRUYỀN
TIN
Suy niệm 1:
Cùng với Giáo Hội,
hôm nay chúng ta long trọng mừng Lễ Truyền Tin. Kỷ niệm biến cố Thiên Thần
Gabriel truyền tin cho Đức Maria, khởi đầu cho chương trình cứu độ đầy yêu
thương của Thiên Chúa dành cho con người.
Để thực hiện chương
trình cứu độ, Thiên Chúa đã chọn gọi Đức Maria cộng tác trong việc cưu mang và
sinh hạ Đấng Cứu Thế và Đức Maria đã đáp lời bằng hai tiếng “xin vâng”. Xin cho
chúng ta cũng biết noi gương Đức Maria khiêm tốn và ngoan ngoãn vâng theo thánh
ý Chúa trong mọi hoàn cảnh, để chương trình cứu độ của Chúa nơi ta được hoàn
thành tốt đẹp.
Mỗi khi đọc kinh Kính
mừng, chúng ta nhắc lại lời truyền tin của sứ thần Gabriel cho Đức Maria xưa:
“kính mừng Maria đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng bà, bà có phước lạ hơn mọi
người nữ…”; cũng đồng nghĩa với lời Thiên Thần chào Đức Maria: “Mừng
vui lên, Đấng đầy ơn phúc. Thiên Chúa ở cùng bà…”.
Lời truyền tin này là
một lời chào chúc quý giá và mang giá trị hết sức cao cả. Bởi lẽ có ơn phúc nào
cao lớn cho bằng ơn phúc được Thiên Chúa ở cùng (chính Chúa là nguồn mọi ơn
phúc và Đấng ban ơn phúc. Được Thiên Chúa ở cùng thì có mọi ơn phúc nơi mình
rồi). Và có hạnh phúc nào lớn bằng hạnh phúc được Thiên Chúa ưu ái chọn làm Mẹ
Thiên Chúa. (được chọn làm mẹ vua đã là vinh dự và ơn phúc quá lớn rồi huống
chi là Mẹ Vua Trời).
Ý thức sứ mạng cao
quý ấy trong vui mừng khôn tả vượt trí hiểu, Đức Maria đã bối rối và tự hỏi lời
chào ấy có ý nghĩa như thế nào? Sau khi được nghe Thiên Thần giải thích, Đức
Maria biết đó là ý định Thiên Chúa, dù không hiểu hết nhưng Đức Maria vẫn khiêm
tốn ngoan ngoãn vâng phục.
Có nhiều điều xảy ra
trong đời sống vượt ngoài trí hiểu và khả năng chúng ta, chúng ta thấy không
thể thực hiện được, nhưng đối với Thiên Chúa thì mọi chuyện đều có thể. Từ
không Chúa đã tạo thành vũ trụ vạn vật chỉ bằng lời phán truyền. Chỉ cần bùn
đất Chúa đã tác tạo nên con người và bằng hơi thở Chúa đã làm cho con người trở
nên giống hình ảnh TC. Và với quyền năng bà chị họ Isave son sẻ đã mang thai và
sinh con. Như thế thì việc Đức Maria cưu mang Đấng Cứu Thế mà vẫn đồng trinh là
chuyện rất đổi bình thường với quyền năng của TC. Điều quan trọng là chúng ta
sẵn sàng để Chúa hành động nơi chúng ta như Đức Maria không?.
Tuy Thiên Chúa quyền
năng làm được mọi sự. Nhưng Thiên Chúa lại yêu thích con người cộng tác với
Chúa. Để chọn gọi dân riêng, Chúa đã mời gọi tổ phụ Abraham cộng tác, và
Abraham đã vâng lời bỏ xứ sở ra đi theo ý định Thiên Chúa. Thế là một dân riêng
của Chúa đã hình thành. Để cứu dân tộc Israel ra khỏi kiếp nô lệ bên Ai cập,
Thiên Chúa đã mời gọi Môsê cộng tác, dù sợ hãi về sự kém cỏi của mình, Môsê vẫn
vâng phục ý muốn của Chúa. Thế là cuộc giải phóng đã hoàn tất. Để cứu độ nhân
loại, Thiên Chúa chọn Đức Maria, một người thiếu nữ bình thường, nghèo khó làm
mẹ Đấng Cứu Thế và Mẹ đã ngoan ngoãn tin tưởng vâng nghe. Thế là chương trình
cứu độ từ ngàn đời của Thiên Chúa được thực hiện. Để cứu độ mỗi chúng ta, Chúa
cũng mời gọi chúng ta hợp tác với Chúa. Như thánh Augustinô đã nói: “Chúa dựng
nên con Chúa không cần con, nhưng để cứ độ con Chúa cần con cộng tác”.
Xin cho chúng ta tích
cực cộng tác vào ơn cứu độ của Chúa để cứu chính mình và tha nhân.
* Gợi ý thêm:
Kinh
Kính mừng gồm có hai phần :
1.
Phần đầu: là
lời chúc tụng, được ghép bởi hai đoạn văn trích từ Tin mừng của thánh Luca : “Kính
mừng Maria, đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng bà” (lời chào của thiên
sứ Gabriel) ; “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu con lòng bà gồm
phúc lạ” (lời chào của bà Ysave) ;
2.
Phần thứ hai: mang
tính cách khẩn nài, “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng tôi
là kẻ có tội, khi này và trong giờ lâm tử. Amen”. Được Ðức Giáo Hoàng Piô V công bố sách nguyện cải tổ theo
quyết nghị của công đồng Trentô (năm 1568).
Quan
niệm Thần học Tin Lành:
Năm Sola là
tiếng La-tinh, xuất hiện trong cuộc cải chánh, để tóm tắt những xác tín thần
học của những nhà cải cách về yếu tố cần thiết của Cơ Đốc giáo.
Ý Nghĩa Của Năm Tín
Lý Duy Nhất:
1. Sola Scriptura (‘’Duy Kinh Thánh"):
Kinh Thánh là thẩm quyền cao nhất của chúng ta.
2. Sola
Gratia (‘’Duy Ân Điển’’):
Chúng ta được cứu duy chỉ bởi ân điển của Đức Chúa Trời.
3. Sola Fide (‘’ Duy Đức Tin’’): Chúng
ta được cứu chỉ bởi đức tin nơi Chúa Jesus Christ.
4. Solus Christus (‘’Duy Đấng Christ’’): Duy
chỉ có Đức Chúa Jesus là Chúa, Đấng Cứu Rỗi, và là Vua của chúng ta.
5. Soli Deo
Gloria (‘’Duy Vinh Hiển
Đức Chúa Trời’’): Chúng ta sống để dâng sự vinh hiển lên cho duy Đức Chúa Trời.
Trước ơn phúc lớn
lao, Đức Maria đã bối rối và muốn tìm hiểu xem sự việc sẽ xảy đến như thế nào?
Một khi nhận biết là ý định của Thiên Chúa, Đức Maria sẵn sàng vâng theo chứ
không hề nghi ngờ, hay kém tin.
Trước những thử
thách, thất bại, đau buồn trong cuộc sống, nhiều lúc đức tin chúng ta cũng bị
lung lay nên sinh ra nghi ngờ và than trách Chúa, ít khi chúng ta bắt chước Đức
Maria tìm hiểu xem Chúa muốn gì qua những biến cố vui buồn, thành công thất
bại, hạnh phúc hay bất hạnh ấy trong cuộc sống.
Ta hãy tin rằng mỗi
biến cố đều có sứ điệp rất quan trọng Chúa muốn gởi đến ta và mong ta đọc ra
thánh ý của Chúa mà chấn chỉnh lại đời sống mình. Chúa luôn đi ngang qua cuộc đời
chúng ta, nhưng chúng ta lại không gặp Ngài. Chúa luôn đồng hành với ta, nhưng
ta lại không nhận ra Ngài. Chúa hằng gõ cửa nhà chúng ta, nhưng ta lại không
nhận ra tiếng Ngài.
Xin cho chúng ta biết
để tâm suy niệm các biến cố trong đời mà nhạy bén nhận ra lòng thuơng xót của
Chúa như Đức Maria. Amen
(Viết theo Hạt Giống Nẩy Mầm, của cha Carôlô Hồ Bặc
Xái)
Suy niệm 2: “CÙNG NHAU LOAN BÁO
TIN MỪNG HY VỌNG CỦA CHÚA GIÊSU”
Kính thưa cộng
đoàn,
Hôm nay, chúng ta
cùng nhau cử hành Lễ Truyền Tin, kỉ niệm về một biến cố trọng đại đã xảy ra
trong lịch sử cứu độ. Đó là biến cố sứ thần Gabriel đến với Đức Trinh Nữ Maria
và loan báo về một Đấng Cứu Thế sẽ xuống thế làm người qua cung lòng của Trinh
Nữ. Biến cố này không chỉ là khởi đầu của ơn cứu độ, mà còn là lời mời gọi mỗi
người chúng ta bước vào sứ mạng loan báo Tin Mừng hy vọng của Chúa Giêsu cho
thế giới hôm nay.
1. Trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng
ta nghe câu chuyện tuyệt đẹp về sự khiêm hạ và vâng phục của Đức Maria. Khi sứ
thần nói: “Này bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là
Giêsu”, Đức Maria không từ chối hay nghi ngờ, nhưng thưa: “Này tôi
là tôi tớ Chúa, xin vâng như lời Ngài truyền”. Lời “xin vâng” ấy đã mở ra
cánh cửa hy vọng cho nhân loại. Qua Đức Maria, Thiên Chúa đã bước vào thế gian,
mang đến Tin Mừng cứu độ, Tin Mừng về một Đấng Cứu Thế đầy yêu thương và quyền
năng.
Hy vọng ấy không
chỉ dành riêng cho thời đại của Đức Maria, mà còn dành cho chúng ta hôm nay,
trong năm 2025 này. Thế giới đang đối diện với biết bao thách đố: chiến tranh,
bất công, khủng hoảng môi trường, và sự mất niềm tin. Nhưng Tin Mừng của Chúa
Giêsu vẫn là ngọn hải đăng soi sáng, là nguồn hy vọng bất diệt giữa bóng tối.
2. Chủ đề của chúng ta hôm nay là
“Cùng nhau loan báo Tin Mừng hy vọng của Chúa Giêsu”. Điều này nhắc nhở rằng sứ
mạng loan báo Tin Mừn không phải là việc của riêng ai, mà là trách nhiệm của
toàn thể cộng đoàn đức tin.
Đức Maria không giữ
Tin Mừng ấy cho riêng mình. Sau khi nhận lời sứ thần, Mẹ đã vội vã lên đường
đến thăm bà Êlisabét để chia sẻ niềm vui và hy vọng. Hành động của Mẹ là một
gương mẫu sống động cho chúng ta: Tin Mừng không phải để cất giữ, mà để loan
truyền.
“Cùng nhau” là từ khóa quan trọng. Chúng ta
không loan báo Tin Mừng một mình, nhưng trong sự hiệp thông với Giáo hội, với
gia đình, với cộng đoàn. Mỗi người có một vai trò: cha mẹ loan báo Tin Mừng qua
việc giáo dục con cái, linh mục qua lời giảng dạy, giáo dân qua đời sống chứng
tá. Khi chúng ta cùng nhau sống Tin Mừng ngang qua sự tha thứ, yêu thương, và
phục vụ...thì hy vọng của Chúa Giêsu sẽ lan tỏa đến mọi ngõ ngách của cuộc đời.
3. Năm 2026 là năm đặc biệt khi Giáo
hội mời gọi chúng ta sống tinh thần truyền giáo. Vậy chúng ta có thể làm gì để
loan báo Tin Mừng hy vọng trong bối cảnh hôm nay?
- Sống chứng tá: Hãy để đời sống của chúng
ta phản chiếu niềm vui và bình an của Chúa Giêsu, ngay cả trong khó khăn. Một
nụ cười, một lời nói khích lệ, hay một hành động bác ái nhỏ bé cũng có thể là
cách loan báo Tin Mừng hiệu quả.
- Chia sẻ Lời Chúa: Đừng ngại nói về đức tin
của mình với người khác, bằng lời nói hay qua các phương tiện hiện đại như mạng
xã hội.
- Cầu nguyện và hành động: Như Đức Maria, chúng ta hãy
cầu nguyện để lắng nghe ý Chúa, và rồi can đảm bước ra để phục vụ anh chị em
xung quanh.
Kính thưa cộng đoàn,
Lễ Truyền Tin nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa luôn khởi sự mọi điều tốt đẹp
từ những con người bé nhỏ nhưng đầy tin tưởng như Đức Maria. Hôm nay, Ngài cũng
mời gọi mỗi người chúng ta trở thành những “sứ thần” của hy vọng, mang Tin Mừng
của Chúa Giêsu đến với thế giới. Hãy cùng nhau thưa “xin vâng” như Mẹ Maria, và
cùng nhau bước đi trong sứ mạng loan báo Tin Mừng hy vọng.
Xin Chúa, qua lời
chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, ban ơn để chúng ta trở thành những chứng
nhân sống động của Tin Mừng trong năm 2025 này. Amen.
Suy niệm 3: “CÙNG
NHAU LOAN BÁO TIN MỪNG HY VỌNG THEO GƯƠNG ĐỨC MARIA”
Hôm nay, chúng ta
cử hành Lễ Truyền Tin, ngày Thiên Chúa sai sứ thần Gabriel đến với Đức Maria để
loan báo kế hoạch cứu độ: Con Một Thiên Chúa sẽ nhập thể làm người. Trong biến
cố này, chúng ta thấy rõ nét chủ đề “Cùng nhau loan báo Tin Mừng”, một
lời mời gọi sống động trong Năm Thánh Hy Vọng 2025.
1. Đức Maria, Người
đầu tiên đón nhận và loan báo Tin Mừng
Khi sứ thần Gabriel
nói: “Này bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là
Giêsu” (Lc 1,31), Đức Maria đã lắng nghe trong đức tin. Dù bối rối và
thắc mắc, Mẹ không khép lòng mà thưa lên: “Này tôi là tôi tá Chúa, xin
vâng như lời Ngài truyền” (Lc 1, 38). Lời “xin vâng” ấy
không chỉ là sự chấp nhận cá nhân, mà là khởi đầu cho việc loan báo Tin Mừng
đến toàn nhân loại. Đức Maria trở thành người đầu tiên đón nhận Lời Chúa nhập
thể và mang Tin Mừng ấy đến cho người khác, trước hết là với bà Elizabeth, rồi
đến cả thế giới.
Trong năm truyền
giáo, chúng ta được mời gọi noi gương Mẹ: lắng nghe Lời Chúa, đón nhận trong
đức tin, và mang niềm hy vọng ấy đến tha nhân. Loan báo Tin Mừng không phải là
công việc của riêng ai, mà là sứ mạng chung của toàn thể Dân Chúa.
2. Cùng nhau, Sức
mạnh của cộng đoàn trong sứ mạng
Biến cố Truyền Tin
không chỉ là câu chuyện giữa Đức Maria và Thiên Chúa, mà còn là khởi điểm của
một hành trình cộng đồng. Từ lời “xin vâng” của Mẹ, Chúa Giêsu đã đến giữa nhân
loại, và Tin Mừng được lan tỏa qua các tông đồ, các môn đệ, và đến chúng ta hôm
nay. Mỗi người chúng ta, như Đức Maria, được mời gọi góp phần mình vào việc
loan báo Tin Mừng, không đơn độc, nhưng cùng nhau.
“Cùng nhau” mang ý
nghĩa của sự hiệp nhất trong đức tin, tình yêu và hy vọng. Trong Năm Thánh
2025, Giáo hội kêu gọi chúng ta xây dựng những cộng đoàn sống động, nơi mỗi
người đều trở thành chứng nhân của Tin Mừng qua lời nói, hành động và đời sống.
Giống như Đức Maria đã vội vã lên đường thăm bà Elizabeth để chia sẻ niềm vui
(Lc 1,39), chúng ta cũng được thúc đẩy để ra đi, mang Tin Mừng đến những nơi
cần ánh sáng hy vọng.
3. Loan báo Tin
Mừng trong niềm hy vọng
Năm 2026 này, GH
nhắc nhở chúng ta rằng: Tin Mừng không chỉ là một thông điệp, mà là nguồn mạch
của sự sống và hy vọng. Khi Đức Maria thưa “xin vâng”, Mẹ đã đặt trọn niềm tin
vào kế hoạch của Thiên Chúa, dù tương lai còn mờ mịt. Chính niềm hy vọng ấy đã
nâng đỡ Mẹ qua mọi thử thách, từ hang đá Bêlem đến chân Thập giá.
Hôm nay, chúng ta
cũng được mời gọi loan báo Tin Mừng trong niềm hy vọng giữa một thế giới đầy
bất an, chia rẽ và đau khổ. Tin Mừng chúng ta loan báo không phải là những lời
sáo rỗng, nhưng là lời chứng sống động: Thiên Chúa ở cùng chúng ta (Emmanuel),
và Ngài đang làm việc để đổi mới mọi sự.
4. Lời mời gọi hành
động
Lễ Truyền Tin thách
thức chúng ta: Tôi đã làm gì để cùng cộng đoàn loan báo Tin Mừng? Tôi có sẵn
sàng thưa “xin vâng” như Đức Maria, để Chúa sử dụng tôi theo ý Ngài?
Trong gia đình, họ
đạo hay nơi làm việc, chúng ta có thể bắt đầu bằng những việc nhỏ: một lời
khích lệ, một cử chỉ yêu thương, hay một lời cầu nguyện chung. Cùng nhau, chúng
ta biến thế giới này thành nơi Tin Mừng được sống và được nghe.
Xin Chúa cho chúng ta biết noi
gương Đức Maria luôn lắng nghe và đáp lại tiếng Chúa. Xin ban ơn hiệp nhất để
chúng ta cùng nhau loan báo Tin Mừng bằng đời sống tràn đầy hy vọng và yêu
thương. Amen.
* Mùa chay: Ga 8, 31-42
Thấy niềm tin của những người Do
Thái còn mới, chưa trọn vẹn lắm nên Chúa Giêsu đề nghị họ cần phải cố gắng
“sống lời Chúa”; để lời Chúa giải thoát họ khỏi nô lệ tội lỗi mà xứng đáng trở
thành môn đệ của Chúa. Nhưng những người này chưa đủ khiêm tốn để chấp nhận lời
đề nghị của Chúa. Lý do vì họ tự cho mình là con cháu Abraham nên không cần
tiếp nhận thêm điều gì nữa.
Xin cho chúng ta biết khiêm tốn lắng
nghe và làm theo lời dạy của Chúa, nhờ đó ta mới có thể được giải thoát khỏi
xích xiềng của tội lỗi, xứng đáng là môn đệ Chúa Giêsu.
Kết thúc cuộc đối thoại với những
người Do thái, Chúa Giêsu cho biết “Ngài là Đấng Hằng Hữu”, và khi
ấy có nhiều kẻ tin vào Ngài.
Tin mừng hôm nay,
Chúa tiếp tục mời gọi những người mới tin theo Chúa hãy tiến
thêm một bước nữa là hãy: “Ở lại trong Lời Chúa”; vì Lời Chúa là
lời chân lý có sức mạnh giải thoát họ. Tuy nhiên khi nghe đến sự giải thoát
khỏi ràng buộc tội lỗi thì những người này cho rằng: “Chúng tôi là dòng
dõi ông Abraham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ”. Thế là họ
hiểu sai lời Chúa.
Thực ra không phải Abraham làm
cho họ được tự do, nhưng sự tự do đích thật trước Chúa là được sạch tội. Nên
những ai phạm tội là trở thành kẻ nô lệ.
Đức cố giáo hoàng Bênêđictô 16
trong buổi đọc Kinh Truyền Tin ngày Chúa nhật 13/03/2011 đã nói: “Nô
lệ nghiêm trọng và sâu xa nhất là nô lệ cho tội lỗi”. Đúng vậy, hễ ai phạm tội
tất nhiên là nô lệ cho tội. Vì khi phạm tội là ta xua đuổi Chúa ra khỏi lòng
mình và rước ác thần Sa-tan vào cư ngụ thay thế cho Thiên Chúa. Để khỏi nô lệ
cho tội hay ma quỷ, điều kiện là ta phải “ở lại trong Lời Chúa”. Bởi
lẽ khi ở lại với Lời Chúa là chúng ta đang tuân giữ Lời Chúa. Mà giữ lời Chúa
chính là dấu hiệu nói lên lòng ta yêu mến Chúa, đồng nghĩa là ta để cho Chúa
được ở lại trong ta. Mà “Chúa chính là đường là sự thật và là sự
sống" nên ai ở lại trong Chúa thì sự thật chiếm hữu và giải thoát
người ấy khỏi ràng buộc của tội lỗi, được đón nhận sự sống của Chúa.
Sở dĩ những người Do Thái không
chịu ở lại trong lời của Chúa, là vì họ tự mãn cho mình là con cháu Abraham là
dân riêng của Chúa.
Tự mãn kiêu căng là tội đầu trong
các mối tội. Chính vì kiêu căng tự mãn muốn bằng Chúa nên nguyên tổ đã đánh mất
thiêng đàng và trở nên nô lệ cho ma quỷ; chính kiêu căng tự mãn mà thiên thần
Lu-xi-phe đã chống đối lại Chúa và đã bị trừng phạt trở thành Sa-tan.
Có thể nhiều lần ta cũng tự mãn
vỗ ngực xưng tên là người Công giáo, nhưng nhiều lúc chúng ta không sống đúng
với danh xưng ấy. Thay vì sống theo lời Chúa dạy, làm theo ý Chúa muốn, thì
chúng ta lại làm theo ý riêng mình, sống theo những đam mê dục vọng mình. Thay
vì làm tôi Chúa, chúng ta lại làm tôi ma quỷ, xác thịt, thế gian.
Xin Chúa tha thứ những lầm lỗi
chúng ta. Cho chúng ta biết vâng nghe và làm theo Lời Chúa để được tự do làm
con cái Chúa thật sự.
Thứ năm: Ga 8, 51-59
Trong những lần đối thoại với
người Do Thái, Chúa Giêsu đã kiên nhẫn mạc khải cho họ biết về thân thế và sứ
mạng của Ngài; qua đó Ngài cũng nêu lên nếp sống cần phải có cho những ai tin
nhận Ngài. Tuy nhiên với cái nhìn định kiến và sự hiểu biết hạn hẹp; cũng như
quá tự mãn về kinh nghiệm sống của mình, họ đã không nhận ra thân thế và sứ
mạng đích thực của Chúa Giêsu. Vì thế họ đã không chấp nhận sống theo Lời Chúa
chỉ dạy.
Xin cho chúng ta đừng bao giờ ỷ
vào kiến thức và nếp sống đạo lâu nay của mình mà chối từ Lời chỉ dạy của Chúa
và sự hướng dẫn của Giáo Hội. Nhưng biết khiêm tốn lắng nghe mà tích cực thi
hành để ân sủng Chúa tuôn đổ dồi dào dồi dào trong tâm hồn chúng ta.
Tin mừng hôm nay có hai điểm cần
lưu ý:
- Thứ nhất: Chúa Giêsu nhấn mạnh đến mối
tương quan giữa Ngài với Chúa Cha.
- Thứ hai: Chúa Giêsu nói đến giá trị cao
quý của việc tuân giữ Lời Chúa.
1. Thánh Gioan luôn nói đến mối
tương quan mật thiết giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha. Đoạn tin mừng hôm nay cũng
vậy, thánh Gioan cho biết Chúa Giêsu quả quyết Ngài biết Thiên Chúa Cha, nhưng
những người khác thì không biết. Chính Chúa Cha sai Ngài đến trần gian. Những
lời Ngài dạy bảo là Lời của Chúa Cha. Chúa Giêsu không hề tìm vinh danh cho
chính mình mà chỉ tìm vinh danh cho Đấng đã sai mình. Vì thế mà Ngài được Chúa
Cha tôn vinh.
2. Ngài đến từ Chúa Cha, biết rõ
về Chúa cha, nói những lời của Chúa Cha. Mà Lời của Chúa Cha chính là “Lời ban sự sống đời đời”,
vì thế Chúa Giêsu cho biết: “Nếu ai tuân giữ Lời Ngài, thì sẽ không bao
giờ phải chết”.
Người Do Thái tự hào họ là con
cháu Abraham nên họ xứng đáng thừa hưởng lời chúc phúc của Chúa đã hứa với tổ
phụ Abraham trước đây. Nhưng Chúa Giêsu cho họ biết làm con cháu Abraham theo
huyết thống thôi chưa đủ điều kiện, mà còn phải là con cháu của đức tin giống
như Abraham mới xứng đáng thừa hưởng gia nghiệp nước trời.
Tin Chúa nên Abraham đã nghe Lời
chỉ dạy của Chúa mà sẵn sàng ra đi, dù không biết đi đâu. Như thế tin Chúa thì
phải nghe lời Chúa. Mà Lời Chúa thì mang lại sự sống đời đời, nên ai tuân giữ
Lời Chúa thì không chết bao giờ. Giống như cành nho gắn liền với thân nho, cành
nho được sống vì tiếp nhận nhựa sống từ thân nho nuôi dưỡng. Gắn kết với Lời
Chúa ta sẽ được Chúa thông truyền sự sống. Mà Chúa là sự sống vĩnh cửu,
nên ta sẽ được tham dự vào sự sống đời đời của Chúa.
Xin cho chúng ta xác tín được giá
trị cao quý Lời của Chúa và cố gắng thi hành Lời Chúa dạy, để đón nhận sự sống
đời đời Chúa thương ban.
Thứ sáu: Ga 10, 31-42
Suy niệm 1:
Trong suốt những ngày qua, chúng
ta đọc Tin mừng của thánh Gioan, Tác giả ghi lại các cuộc tranh luận giữa Chúa
Giêsu và những người Do Thái còn hoài nghi về Ngài. Tương tự như các cuộc tranh
luận trước, cuộc tranh luận trong tin mừng hôm nay, một lần nữa Chúa Giêsu mạc
khải sự thật quan trọng về Ngài. Ngài xác định rõ ràng: "Ngài là Con Thiên
Chúa và là chính Thiên Chúa."
Xin Chúa củng cố đức tin của mọi
người trong chúng ta để cho dẫu phải gặp những khó khăn hay đau khổ trên hành
trình sống đạo, ta vẫn luôn tin tưởng vào Đức Giêsu chính là Thiên Chúa làm
người, cứu độ duy nhất của chúng ta.
Đoạn tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu
mạc khải cho ta biết về hai chân lý đức tin rất quan trọng đó là: “Tôi
là Con Thiên Chúa” và “Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong
chúa Cha”. Đây là bài giáo lý rất quan trọng. Bởi vì nếu Chúa Giêsu chỉ là
một người như bao người, thì lời giảng dạy của Ngài cũng chỉ là để nghe cho vui
tai và chỉ dừng lại bởi những tiếng vỗ tay tán dương như bao lời giảng dạy của
những nhà hùng biện, hay như các bậc hiền triết và các đấng sáng lập các tôn
giáo khác. Nhưng Ngài không chỉ là con người tài giỏi, đức cao, quyền trọng mà
Ngài còn là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa, nên lời giảng dạy của Ngài mang
giá trị tuyệt đối cần được quý trọng. Nhưng vì tự mãn và cứng lòng nên những
người Do Thái đã không tin vào Ngài, cho dẫu họ đã được chứng kiến không ít
những lạ Ngài làm và nghe biết bao lời giảng dạy khôn ngoan của Chúa Giêsu.
Ngày nay không chỉ có những người
cứng lòng tin như người Do Thái xưa mà còn đó những con người vô thần. Lối sống
của họ chỉ nghĩ đến hưởng thụ vật chất, chỉ thích yêu cuồng sống vội. Họ xem
giáo huấn của Chúa thật rắc rối, là chướng ngại vật, là bức tường cản ngăn lối
sống phóng túng, trụy lạc, tội lỗi của họ. Để rồi họ sẵn sàng ném đá tiêu diệt
Chúa, tìm mọi cách lọai trừ Thiên Chúa ra khỏi tâm hồn và cuộc sống họ giống
như những người Do Thái xưa.
Chúng ta hãy cầu xin cho những
người vô thần. Vô thần trong tư tưởng, trong lập trường cũng như vô thần trong
lối sống, biết nhìn vào thiên nhiên, nhìn vào vạn vật, nhìn vào các biến cố xảy
ra, nhất là nhìn vào bản thân mình mà khám phá ra sự hiện hữu của Chúa mà tin
nhận Người. Với chúng ta cũng rất cần nhìn lại cách thế sống và thể hiện niềm
tin của mình vào Chúa, nhất là trong mùa chay để chấn chỉnh cho phù hợp.
Suy niệm
2:
Cuộc
tranh luận giữa Chúa Giêsu và người Do Thái ngày càng gay gắt đến độ họ không
ngần ngại ném đá Chúa Giêsu!
Khi thấy
họ không tin vào lời của Ngài nói: Ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng Thiên
Sai...thì Ngài thuyết phục họ tin vào những việc Ngài làm: “Cho dù các
ông không tin tôi, thì hãy tin vì các việc tôi làm.”
Những
việc làm của Chúa Giêsu là: đi khắp nơi loan báo Tin Mừng Nước Trời, là làm các phép lạ kỳ diệu, là
chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền, là trừ quỷ khỏi, khống chế thiên nhiên...
Ngài đã làm các việc tốt đẹp ấy không phải theo ý mình, nhưng là theo thánh ý
Chúa Cha. Ngài luôn hiệp nhất với Chúa Cha, “Chúa Cha ở trong Ngài và
Ngài ở trong Chúa Cha.” Tuy nhiên những người Do Thái vì quá kiêu
căng, tự mãn và nặng óc thành kiến nên họ không tin vào Ngài.
Đức tin
là một ơn Chúa ban, nhưng cũng đòi buộc sự cộng tác của mỗi người. Dù không
thấy Chúa vẫn luôn hoạt động qua những việc lạ lùng trong vũ trụ, qua các biến
cố xảy ra trong cuộc sống, qua những người chúng ta gặp gỡ hàng ngày, qua những
lời chỉ của Chúa trong Thánh Kinh, qua những lời giáo huấn của Giáo hội...
Một thực
tế cho thấy, những người nghèo hèn, bé nhỏ thì dễ tin Chúa hơn các người thông
thái, quyền thế (x. Lc 10,21). Bởi lẽ những người tự cho mình là thông thái và
quyền thế thì tự mãn về sự hiểu biết của mình giống như những người Do Thái
trong bài tin mừng hôm nay đã cố tình phủ nhận Chúa Giêsu bằng mọi giá.
Mùa chay
là dịp chúng ta cần củng cố lại đức tin của mình, cũng như đưa đức tin vào
cuộc sống bằng những hành động cụ thể, bởi lẽ thánh Giacôbê tông đồ đã xác
quyết: “Đức tin không có
việc làm là đức tin chết.” (Gc 2,17)
Vậy ta
hãy tận dụng mọi cơ hội để minh chứng niềm tin của mình qua những việc làm cụ
thể như: quảng đại yêu thương, hy sinh bác ái, bao dung tha thứ và khiêm tốn
phục vụ...đó chính là những phương cách hiệu quả nhất để giúp cho mọi người
nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa thật trong thời đại hôm nay, bởi như lời ĐGH
Phaolô VI đã nói: “Người thời
nay tin vào các chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có
tin vào thầy dạy là vì các thầy dạy ấy đã là
những chứng nhân”.
Thứ bảy: Ga 11, 45-56
Sự đố kị và lòng hận thù khiến
người ta mù quáng không còn nhận ra lẽ phải và bất chấp mọi thủ đoạn, ngay cả
giết người. Đó là cách thế hành xử của các Thượng Tế và Biệt Phái đối với Chúa
Giêsu trong bài tin mừng hôm nay.
Jean de La Fontaine từng viết bài
thơ ngụ ngôn “Le Loup et l’Agneau” kể về con chó sói và con cừu non cùng ra
suối uống nước. Con sói muốn ăn thịt con cừu bèn tìm đủ cách buộc tội con cừu.
Đầu tiên con sói bảo con cừu làm
bẩn nước suối của con sói.
Bị con cừu bẻ: “Thưa ông, ông
uống ở thượng lưu, tôi uống ở hạ lưu, thì chỉ có ông làm bẩn nước của tôi chứ
làm sao tôi có thể làm bẩn nước của ông được?”
Con sói nói: “Năm ngoái mày đã
phỉ báng tao!”
Con cừu trả lời: “Thưa ông, năm
ngoái tôi chưa ra đời.”
Con sói nói: “Thế thì thằng anh
mày đã phỉ báng tao!”
Con cừu đáp: “Thưa ông tôi là con
một.”
Con sói rống lên: “Thế thì một
đứa trong lũ chúng mày đã nói xấu tao, thằng chăn chúng mày đã nói xấu tao, con
chó chăn chúng mày đã nói xấu, tao phải trả thù!” Thế rồi con sói vồ con cừu
nhai ngấu nghiến.
La Fontaine kết luận: “Lý lẽ kẻ
mạnh bao giờ cũng thắng”
Đọc Tin mừng hôm nay, ta có cảm
tưởng các Thượng Tế và Biệt Phái giống như con sói vậy. Họ tìm mọi cách, viện
đủ mọi lý do để tiêu diệt Chúa Giêsu. Họ đã triệu tập một công nghị để bàn tính
với nhau cách đối phó với Chúa Giêsu ra sao. Vì thấy Chúa làm được nhiều việc
lành, có nhiều người tin theo Chúa, sợ mất ảnh hưởng nên họ ghen ghét muốn khử
trừ Ngài cho xong. Sau khi viện đủ mọi lý do tôn giáo để kết tội Chúa Giêsu
như: Chúa đã lộng ngôn phạm thượng xưng mình là Con Thiên Chúa. Rồi lại công khai
tuyên bố phá hủy đền thờ Giêrusalem, nhất là đã liên tục vi phạm ngày
sabát…nhưng những cáo buộc ấy không thành. Vì thế, họ chuyển sang ghép Ngài vào
tội chính trị. Họ vu cáo Ngài vi phạm tới luật lệ của nhà nước và quyền của
hoàng đế Rôma. Rồi họ ra chỉ thị truy nả Ngài trong toàn dân. Với lời khích
động: “Thà một người chết thay cho toàn dân còn hơn là toàn dân bị tiêu
diệt”
Quyết định giết Chúa Giêsu để
thay cho toàn dân quả là một quyết định do lòng ghen tỵ, hận thù… thật là bất
công. Nhưng trong chương trình của Thiên Chúa, thì cái chết của Chúa Giêsu là
để cho mọi người được sống đời đời. Thay cho hành động hận thù và bất công của
các Thượng Tế và Biệt Phái là hành động bao dung và yêu thương của Thiên Chúa,
nhằm quy tụ con cái tản mác khắp nơi về một mối, trong tình hiệp nhất yêu
thương.
Xin cho chúng ta đừng vì ghen ghét, hận thù mà tìm đủ mọi cách để hãm hại người khác. Nhưng xin Chúa ban cho chúng ta có được lòng quảng đại, yêu thương tha thứ và sẵn sàng hy sinh, chịu gian lao khốn khó như Chúa Giêsu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét